Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
LỜI CAM ĐOAN
Em là : Tô Thị Nhâm
Sinh viên lớp : Quản trị kinh doanh quốc tế K39
Khoa : Thương mại và kinh doanh quốc tế
Em xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp “ Nâng cao năng lực cạnh
tranh mặt hàng mì ăn liền trên thị trường Châu Âu của Công ty Acecook Việt
Nam ” được thực hiện với sự tìm tòi nghiên cứu cuae bản thân em, dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Hường và sự giúp đỡ của các anh chị
Phòng Kinh doanh tại Công ty Acecook Việt Nam.
Em xin cam đoan các số liệu trong chuyên đề là trung thực, được cung
cấp bởi phòng kinh doanh Công ty Acecook Việt Nam. Tôi không sao chép
các bài là chuyên đề tốt nghiệp của các khoá trước. Nếu vi phạm lời cam
đoan trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với nhà trường và khoa Thương
mại và Kinh tế quốc tế.
Lớp: QTKD Sinh viên: Tô Thị Nhâm
Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập, được sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị
Phòng kinh doanh Công ty Acecook Việt Nam và sự chỉ bảo hướng dẫn của
PGS.TS Nguyễn Thị Hường, Em đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp của
mình. Tuy nhiên, do hạn chế về kỹ năng, kinh ngiệm thực tế nên chuyên đề
không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy, Em rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các anh chị trong Phòng kinh
doanh và các bạn để Em có thể nâng cao kiến thức và hoàn thiện hơn chuyên
đề tốt nghiệp của mình.
Em xin trân thành cảm ơn!
Sinh viên
Tô Thị Nhâm
Lớp: QTKD Quốc tế K39 Sinh viên: Tô Thị Nhâm
2
tập trung vào quảng cáo truyền thông mà còn tập trung vào chất lượng sản
phẩm, giá cả sản phẩm. Các doanh nghiệp chú trọng vào việc gia tăng các giá
trị nguồn lực từ quan điểm khách hàng, mang lại cho khách hàng: Những gì
họ muốn, khi họ cần, nơi nào họ muốn, với giá cả cạnh tranh.
Lớp: QTKD Quốc tế K39 Sinh viên: Tô Thị Nhâm
4
Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
Xét về mặt thực tiễn: Khách hàng luôn mong muốn có một sản phẩm
toàn diện mà họ không muốn trả thêm bất cứ chi phí nào không làm tăng
thêm giá trị của sản phẩm. Vì vậy buộc các doanh nghiệp tìm cách giảm chi
phí sản xuất tối đa, cải tiến liên tục, bình ổn giá. Đối với nghành công nghiệp
thực phẩm Việt Nam còn khá mới mẻ thì sự vận hành của nền kinh tế thị
trường đã làm cho các doanh nghiệp càng phải cạnh tranh quyết liệt mới có
thể tồn tại và phát triển.
Công ty cổ phần Acecook Việt Nam là công ty chuyên sản xuất và
kinh doanh mì và phở ăn liền. Đối với ngành sản xuất thực phẩm ăn liền ngày
càng phổ biến hơn vì sự tiện dụng của nó trong thời đại công nghiệp hóa thì
mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất loại sản phẩm này
đối với Acecook Việt Nam càng thêm quyết liệt, đồng thời sự cạnh tranh với
các doanh nghiệp cùng trong ngành thực phẩm nhưng có sản phẩm mang tính
thay thế cũng gay gắt không kém .
Tuy nhiên qua 15 năm hình thành và phát triển công ty đã phấn đấu
vươn lên thành nhà sản xuất và kinh doanh mì ăn liền hàng đầu Việt Nam.
Để tiếp tục giữ vững vị trí hiện tại và phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới ,
giai đoạn 2010 – 2015, giai đoạn mà dự kiến tình hình sản xuất và kinh doanh
nghành thực phẩm nói chung và mì ăn liền nói riêng sẽ cạnh tranh rất gay gắt
và quyết liệt .
Qua thời gian thực tập tại công ty Cổ phần Acecook Việt Nam, được
khảo sát thực tế tình hình Kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
và dựa trên cơ sở những kiến thức đã học, với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo
Acecook Việt Nam từ năm 2005 2009, xut định hớng và giải pháp đến
năm 2015.
4. KT CU CA TI
Ngoài phn m u, kt lun, cỏc bng, ph lc, ti liu tham kho
ti gm 3 chng chớnh:
Lp: QTKD Quc t K39 Sinh viờn: Tụ Th Nhõm
6
Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
Chương 1: Lý luận về năng lực cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng
cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng mì ăn liền xuất khẩu của công ty cổ
phần Acecook Việt Nam trên thị trường Châu Âu.
Chương 2: Thực trạng cạnh tranh và năng lực cạnh tranh mặt hàng
mì ăn liền xuất khẩu của công ty Acecook Việt Nam trên thị trường Châu
Âu giai đoạn 2005-2009.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh mặt hàng mì ăn liền xuất khẩu của công ty Acecook Việt
Nam trên thị trường Châu Âu đến năm 2015.
Lớp: QTKD Quốc tế K39 Sinh viên: Tô Thị Nhâm
7
Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO
KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA MẶT HÀNG MÌ ĂN LIỀN XUẤT
KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ACECOOOK VIỆT NAM TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHÂU ÂU.
1.1. LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG.
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
- Theo Cac Mac : “ Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa
các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và
trong việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng sản phẩm giá cả và các dịch vụ
sau bán hàng nhằm tăng vị thế của mình trên thương trường, tạo uy tín với
khách hàng và mang lại nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp.
1.1.3. Phân loại cạnh tranh.
1.1.3.1. Phân loại theo mức độ cạnh tranh.
- Cạnh tranh gay gắt quyết liệt: Là cạnh tranh giữa sản phẩm của
doanh nghiệp và sản phẩm của đối thủ ở mức độ làm cho đối phương có thể
biết được và trở tay đối phó.
- Cạnh tranh trung bình: Là cạnh tranh giữa sản phẩm của doanh
nghiệp và sản phẩm của đối thủ ở mức độ làm cho đối phương có thể biết
được và trở tay đối phó.
- Cạnh tranh không gay gắt , không quyết liệt: Là mức độ cạnh tranh
xảy ra với tốc độ chậm chapjgaanf như không có hiện tượng cạnh tranh xảy
ra.
1.1.3.2. Chủ thể tham gia vào thị trường
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Người bán muốn bán hàng
hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn bán hàng hoá của mình
với gái cao nhất, còn người mua muốn mua với giá thấp nhất. Giá cả cuối
cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữ hai bên
Lớp: QTKD Quốc tế K39 Sinh viên: Tô Thị Nhâm
9
Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
- Cạnh tranh giữa người mua và người mua: Mức độ cạnh tranh phụ
thuộc vào quan hệ cùng cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc
cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua
phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá hoá mà họ cần
- Cạnh tranh giữa người bán với người bán: Là cuộc cạnh tranh nhằm
giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi
cho người mua. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức,
không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của
thuật, giá cả, uy tín sẽ trọn chiến lược này nhằm giành giật thị trường và loại
bỏ đối thủ cạnh tranh
Một số loại hình áp dụng trong chiến lược tấn công trực diện:
+ Tiến công mặt giáp mặt: ới cách làm này, kẻ tấn công sẽ nhảy vào
tranh khách hàng với đối thủ ngay trên cùng một trận địa, vì vậy, buộc kẻ tấn
công phải ở thế hơn hẳn đối thủ về nhiều mặt từ chất lượng, quảng cáo, giá cả
sản phẩm
+ Tiến công trực diện có giới hạn: kẻ tấn công khoanh vùng nhóm
khách hàng mà mình quan tâm đặc biệt và tìm cách giành giật nhóm khách
hàng này từ tay đối thủ cạnh tranh. Đây là một dạng cải tiến của tiến công mặt
giáp mặt.
+ Tiến công trực diện bằng giá cả: Phía tấn công bao giờ cũng tự tin ở
thắng lợi nhờ giá thành sản phẩm của mình thấp hơn đối thủ.
Tiến công trực diện dựa vào chất lượng: phía tiến công không ngừng cải
tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng do thành quả nghiên cứu mang lại.
- Chiến lược cạnh tranh thọc sườn.
Đây là chiến lược thường được các doanh nghiệp nhỏ áp dụng khi lần
đầu xâm nhập thị trường nhằm tránh sự đối đầu trực diện trong cạnh tranh và
tìm kẽ hở của đối thủ. Với chiến lược này, doanh nghiệp sẽ dùng sản phẩm
hàng hóa của mình để xâm nhập vào thị trường có đối thủ cạnh tranh yếu
hoặc thậm chí là không có đối thủ. Cốt lõi của chiến lược là lấy thế mạnh của
Lớp: QTKD Quốc tế K39 Sinh viên: Tô Thị Nhâm
11
Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
mình để lấn áp yếu điểm của đối phương, vượt lên, lấy đà cho bước tổng tiến
công tiếp theo. Một điều quan trọng khi thực hiện quá trình này là phải hết
sức tránh làm thức dậy những đối thủ nặng cân đang "tạm ngủ", hoặc chí ít
cũng đừng để bị lôi kéo vào cuộc chiến mà bản thân doanh nghiệp chưa sẵn
sàng vào cuộc.
Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự hiểu biết một cách tinh tế
bằng giá cả, cạnh tranh bằng phân phối và các cạnh tranh khác…
- Cạnh tranh bằng sản phẩm
Sản phẩm là tập hợp các yếu tố vô hình và hữu hình có thể tạo ra sự thoả
mãn hay lợi ích cho người mua và người sử dụng.
Cạnh tranh bằng sản phẩm là công cụ được các doanh nghiệp sử dụng để
tác động vào những cảm nhận đầu tiên của khách hàng vào sản phẩm, tác
động trực tiếp đến quyết định mua của người tiêu dùng. muốn sản phẩm của
doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh được trên thị trường thì doanh nghiệp
phải có chiến lược dúng đắn, tạo ra được những sản phẩm phù hợp, đáp ứng
nhu cầu đa dạng của thị trường với chất lượng tốt.
Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở
hiện tại và trong tương lai thì việc cạnh tranh bằng sản phẩm luôn là cần thiết
với các doanh nghiệp. Cạnh tranh bằng sản phẩm thể hiện qua các nội dung
sau:
- Cạnh tranh về tính hữu dụng của sản phẩm.: Người tiêu dùng lựa
chọn một sản phẩm nào đónkhi nó đem lại lợi ích, sự thoả mãn cho họ. Tuỳ
theo nhu cầu của người tiêu dùng mà tính hữu dụng được thể hiện. Nếu doanh
nghiệp tăng tính hữu dụng cảu sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại của
đối thủ khác trênt hị trường phù hợp với thị yếu của người tiêu dùng, khả
năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp tăng lên.
- Cạnh tranh về chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm là tổng
thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn
nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định phù hợp với công cụ của
Lớp: QTKD Quốc tế K39 Sinh viên: Tô Thị Nhâm
13
Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
sản phẩm. Chất lượng sản phẩm trở thành công cụ cạnh trah quan trọng của
doanh nghiệp trên thị trường bởi nó biểu hiến sự thoả mãn nhu cầu khách
hàngcủa sản phẩm.
Cạnh tranh về mẫu mã, bao bì: Mẫu mã bao bì sản phẩm không chỉ là ề ngoài
- Xác định mức giá.
- Ra quyết định điều chỉnh thay đổi giá.
- Lựa chọn cách thức ứng xử phù hợp với các biện pháp cạnh tranh qua
giá cả của các đối thủ.
Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thể hiện thông qua chính
sách định giá bán mà doanh nghiệp áp dụng đối với các loại thị trường của
mình trên cơ sở kết hợp một số chính sách, điều kiện khác. Ngoài ra, doanh
nghiệp còn sử dụng biện pháp giảm chi phí sản xuất sản phẩm, tăng chi phí
sản xuất sản phẩm kết hợp với tằng cường dịch vụ sau bán hàng.
- Chính sách định giá bán: Đó là việc ấn định có hệ thống giá cả các sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng. Các doanh nghiệp áp dụng các chính
sách định giá sau: Định giá thấp hơn giá thị trường, định giá cao hơn giá thị
trường và định giá ngang bằng với giá thị trường.
- Cạnh tranh bằng phân phối .
Kênh phân phối là tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ
thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình lưu thông hàng hoá, đưa hàng hoá từ
người sản xuất đến người tiêu dùng. Để hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp
được diễn ra thông suốt, thường xuyên và đầy đủ doanh nghiệp cần phải lựa
chọn các kênh phân phối nghiên cứu các đặc trăng của thị trường, của khách
hàng. Từ đó có các chính sách phân phối sản phẩm hợp lý, hiệu quả, đáp ứng
nhu cầu của khách hàng.
Kênh phân phối giúp doanh nghiệp tăng cừờng thúc đẩy lưu thông hàng
hoá, tạo điều kiện cho hàng hoá tới tay người tiêu dùng dễ dàng, tăng doanh
thu, tăng vòng quay của vốn, giúp cho doanh nghiệp tăng cường năng lực
Lớp: QTKD Quốc tế K39 Sinh viên: Tô Thị Nhâm
15
Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
cạnh tranh. Cạnh tranh bằng phân phối được thể hiện qua các nội dung
chủ yếu sau:
- Khả năng đa dạng hoá các kênh và chọn được kênh chủ lực.
thu tiền của khách hàng mà để nâng cao uy tín và trách nhiệm đến cùng đối
với người tiêu dùng về sản phẩm của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải
làm tốt các dịch vụ sau bán hàng.
Nội dung của hoạt động dịch vụ sau bán hàng:
- Cam kết thu lại sản phẩm và hoàn trả tiền cho khách hoặc đổi lại hàng
nếu như sản phẩm không theo đúng yêu cầu ban đầu của khách hàng
- Cam kết bảo hành trong thời gian nhất định
Qua các dịch vụ sau bán hàng, doanh nghiệp sẽ nắm bắt được sản phẩm
của mình có đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng hay không.
* Quảng cáo: Là hình thức chuyển tải thông tintới người tiêu dùng về sản
phẩm và hình ảnh doanh nghiệp thông qua các phương tiện truyền thông.
* Quan hệ công chúng: Đó là tập hợp các hoạt động tổ chức dư luận xã hội
nhằm bảo đảm cho Công ty có hình ảnh, danh tiếng tốt, tác động tới mưc độ
hiểu biết của xã hội nhằm đạt các mục tiêu trên của xã hội.
Lớp: QTKD Quốc tế K39 Sinh viên: Tô Thị Nhâm
17
Người
sản
xuất
Người bán lẻ
Bán buôn
Người
tiêu
dùng
Người bán buôn
Người bán lẻĐại lý
Bán lẻ
Đại lý
Người bán lẻ
Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
ưu thế và chiến thắng. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng
cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã đáp ứng
nhu cầu của khách hàng. Cạnh tranh khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng
các công nghệ mới, hiện đại , tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng,
cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao.
Cạnh tranh khốc liệt sẽ làm cho doanh nghiệp thể hiện được khả năng “
bản lĩnh” của mình trong quá trình kinh doanh. Nó sẽ làm cho doanh nghiệp
càng vững mạnh và phát triển hơn nếu nó chịu được áp lực cạnh tranh trên thị
trường.
Chính sự tồn tại khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranh đối với nền
kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói riêng nên việc nâng cao khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền
kinh tế thị trường.
Cạnh tranh là qui luật khách quan của kinh tế thị trường, mà kinh tế thị
trường là kinh tế TBCN. Kinh tế thị trường là sự phát triển tất yếu và Việt
Nam đang xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng XHCN có sự quản lý vĩ mô của nhà nước, lấy thành phần kinh tế nhà
nước làm chủ đạo. Dù ở bất kỳ thành phần kinh tế nào thì các doanh nghiệp
cũng phải vận hành theo qui luật khách quan của nền kinh tế thị trường. Nếu
doanh nghiệp nằm ngoài quy luật vận động đó thì tất yếu sẽ bị loại bỏ, không
thể tồn tại. Chính vì vậy chấp nhận cạnh tranh và tìm cách để nâng cao khả
năng cạnh tranh của mình chính là doanh nghiệp đang tìm con đường sống
cho mình.
- Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân:
Canh tranh là động lực phát triển kinh tế nâng cao năng suất lao động xã
hội. Một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế mà các tế bào của nó là các doanh
nghiệp phát triển có khả năng cạnh tranh cao. Tuy nhiên ở đây cạnh tranh
Lớp: QTKD Quốc tế K39 Sinh viên: Tô Thị Nhâm
20
Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3
yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh
nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình.
Điểm lại các tài liệu trong và ngoài nước, có nhiều cách quan niệm về
năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Dưới đây là một số cách quan niệm về
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đáng chú ý.
Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá
phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa,
dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp.
Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu
trước sự tấn công của doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách
năng lực cạnh tranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng
lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới… Ủy ban Quốc gia
về hợp tác kinh tế có trích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển
Thuật Ngữ chính sách thương mại (1997), theo đó, năng lực cạnh tranh là
năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về
năng lực kinh tế”. Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất
định tính, khó có thể định lượng.
Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Tổ
chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố
sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều
kiện cạnh tranh quốc tế. Theo M. Porter (1990), năng suất lao động
là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, các quan niệm này
chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế
cạnh tranh. Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh
nhưng lại đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - cạnh tranh gay gắt,
việc đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh cho phù hợp với bối cảnh hiện nay
là không đơn giản.
Lớp: QTKD Quốc tế K39 Sinh viên: Tô Thị Nhâm
22
Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành
giữa các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố
sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa, mà cả khả năng mở rộng không gian
sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới.
Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương
thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và các
phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế
cạnh tranh, dựa vào quy chế.
Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp như sau:
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chiếm lĩnh thị trường
trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng
có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.
1.2.2. Phân tích năng lực cạnh tranh của hàng hóa.
Một sản phẩm hàng hóa được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp
ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả.
Năng lực cạnh tranh của hàng hóa có được do năng lực cạnh tranh của
chủ thể doanh nghiệp tạo ra, nhưng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
không chỉ do năng lực cạnh tranh của hàng hóa mà phụ thuộc vào nhiều yếu
tố khác nữa. Vì thế nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải phân tích và phán
đoán các thế lực cạnh tranh trong môi trường ngành để xác định các cơ hội và
đe doạ đối với doanh nghiệp. Được biểu hiện qua mô hình Swot:
SWOT là viết tắt của 4 chữ: Strength - điểm mạnh, Weaknesses - điểm
yếu,Opportunities - cơ hội, Threatens - đe doạ.
quan trọng nhất từ bảng tổng
hợp môi trường nội bộ DN
Các điểm yếu (W)
Liệt kê những điểm yếu quan
trọng nhất từ bảng tổng hợp
môi trường nội bộ DN
Lớp: QTKD Quốc tế K39 Sinh viên: Tô Thị Nhâm
24
Chuyên đề tốt nghiệp GV hướng dẫn:PGS TS Nguyễn Thị Hường
bên ngoài DN
Các cơ hội (O)
Liệt kê những cơ hội
quan trọng nhất từ
bảng tổng hợp môi
trường bên ngoài DN
Các kết hợp chiến lược (SO)
Tận dụng thế mạnh của DN để
khai thác các cơ hội trong môi
trường kinh doanh bên ngoài
Các kết hợp chiến lược (WO)
Tận dụng các cơ hội bên
ngoài để khắc phục điểm yếu
bên trong doanh nghiệp
Các nguy cơ (T)
Liệt kê những nguy cơ
quan trọng nhất từ
bảng tổng hợp môi
trường bên ngoài DN
Các kết hợp chiến lược (ST)