Luận văn tốt nghiệp Phạm Thị Mai
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, nền kinh tế Việt Nam có
nhiều khởi sắc. Với đặc điểm của nền kinh tế thị trường là hàng hoá phong
phú, đa dạng, tính tự chủ của các doanh nghiệp cao, hoạt động thương mại
được tạo những điều kiện thuận lợi nhất để phát triển. Các doanh nghiệp
thương mại được hình thành ngày một nhiều để đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày
càng cao của xã hội. Nền kinh tế thị trường có tính cạnh tranh cao đòi hỏi các
doanh nghiệp phải nỗ lực hết mình mới có thể tồn tại và phát triển, giữ vững
được vị thế của mình trên thị trường. Một trong những yếu tố quyết định sự
tồn tại của các doanh nghiệp đó là công tác bán hàng. Điều này đặc biệt quan
trọng đối với các doanh nghiệp thương mại.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của hoạt động bán hàng, sau thời gian
thực tập tại Công ty Cổ phần Nhất Vinh, với sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS
Nguyễn Văn Tuấn, sự đồng ý và tạo điều kiện thuận lợi của ban lãnh đạo
Công ty, tôi đã lựa chọn đề tài : Giải pháp thúc đẩy hoạt động bán hàng của
Công ty Cổ phần Nhất Vinh làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp
của mình.
1. Mục đích nghiên cứu của đề tài :
- Nghiên cứu nhằm hiểu sâu hơn những lí luận cơ bản và thực tiễn hoạt
động bán hàng của các doanh nghiệp thương mại.
- Trên cơ sở phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty để thấy được
những thành tựu cũng như những tồn tại của Công ty.
- Đưa ra một số giải pháp để đẩy mạnh hoạt động bán hàng của Công ty
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài :
Lớp QTKD TMA Trường ĐHKT Quốc Dân
1
Luận văn tốt nghiệp Phạm Thị Mai
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ các khâu liên quan đến hoạt
động bán hàng của Công ty, từ nghiên cứu nhu cầu thị trường, thu mua tạo
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ bán hàng trong lĩnh vực
kinh doanh. Với mỗi cách thức tiếp cận khác nhau, với mục tiêu khác nhau và
đối tượng nghiên cứu khác nhau sẽ có những quan niệm khác nhau về bán
hàng.
Có quan niệm cho rằng: “ Bán hàng là một phạm trù kinh tế”. Theo
quan niệm này, bán hàng gắn với sự thay đổi hình thái giá trị của hàng hoá, nó
“ là sự chuyển hoá giá trị của hàng hoá từ hàng sang tiền” và nó là “ bước
nhảy nguy hiểm” đối với mọi doanh nghiệp.
Có quan niệm lại cho rằng: Bán hàng là hành vi thương mại của thương
nhân. Luật thương mại Việt Nam cho rằng: “ Mua bán hàng hoá là hành vi
thương mại của thương nhân, theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng,
chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua và nhận tiền, người mua có
nghĩa vụ trả tiền cho người bán và nhận hàng theo thoả thuận của hai bên”.
Như vậy hoạt động bán hàng được hiểu là hoạt động của người bán đối với
người mua thông qua quá trình tiếp xúc, trao đổi với người mua ở một nơi nào
đó được gọi là “thị trường” nhằm thoả mãn những nhu cầu khác nhau của
người mua.
Quan niệm khác lại cho rằng: Bán hàng là khâu cơ bản, quan trọng của
quá trình sản xuất, kinh doanh. Robert Louis Steveson đã nhận định : suy cho
đến cùng “ mọi người sống đều bằng cách bán một cái gì đó”. Bất kì một cá
nhân, một tổ chức nào đó muốn tồn tại đều phải bán một cái gì đó do mình
Lớp QTKD TMA Trường ĐHKT Quốc Dân
3
Luận văn tốt nghiệp Phạm Thị Mai
cung ứng. Do đó, bán hàng không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
Như vậy, bán hàng trong các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
kinh doanh thiết bị văn phòng được hiểu là một quá trình thực hiện các nghiệp
vụ để chuyển đưa hàng hóa từ nhà sản xuất tới tay người tiêu dùng cuối cùng.
1.1.2 Vai trò của bán hàng đối với doanh nghiệp kinh doanh thiết bị văn
là việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
- Hoạt động bán hàng được thực hiện tốt sẽ làm giảm các chi phí trong
hoạt động dự trữ, bảo quản…các máy móc, thiết bị đó.
- Kết quả của hoạt động bán hàng phản ánh kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp, thể hiện sự nỗ lực cố gắng của doanh nghiệp, tỏ rõ thế và lực
của doanh nghiệp trên thị trường thiết bị văn phòng.
1.1.3 Đặc điểm của bán hàng trong cơ chế thị trường ở các doanh nghiệp
kinh doanh thiết bị văn phòng.
Bán hàng trong cơ chế thị trường có những điểm khác biệt so với hoạt
động bán hàng trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Bán hàng trong cơ chế thị
trường mang những đặc điểm sau :
Thứ nhất: Khách hàng là người mua quyết định thị trường, quyết định
người bán. Như trên đã phân tích, bán hàng có vai trò đặc biệt quan trọng đối
với mỗi doanh nghiệp kinh doanh thiết bị văn phòng. Khách hàng sẽ chỉ mua
hàng khi họ tìm thấy ở đó nhu cầu của họ được đáp ứng. “ Khách hàng mua
hàng là mua nguồn thoả mãn nhu cầu”. Do đó, khách hàng sẽ quyết định loại
máy móc thiết bị văn phòng nào được bán trên thị trường, quyết định giá bán
các sản phẩm đó là bao nhiêu.
Thứ hai: Khách hàng chỉ quan tâm tới các máy móc thiết bị có chất
lượng cao, giá cả phải chăng và được mua bán một cách thuận tiện. Vì khách
hàng mua hàng hoá là mua nguồn thoả mãn nhu cầu, cho nên họ luôn mong
Lớp QTKD TMA Trường ĐHKT Quốc Dân
5
Luận văn tốt nghiệp Phạm Thị Mai
muốn những gì có lợi nhất cho họ. Cần phải lựa chọn những bạn hàng có uy
tín lâu năm để đảm bảo nguồn hàng đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, giá
cả phù hợp và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để đưa máy móc thiết bị tới tay
người tiêu dùng, tạo ra khả năng cạnh tranh đặc biệt cho mỗi doanh nghiệp.
Thứ ba: Khách hàng là người mua đòi hỏi người bán phải quan tâm
đến lợi ích của mình. Do khách hàng là người có tính quyết định cao nên họ
đã quan niệm thị trường đồng nghĩa với nhóm người mua.
Xét trong phạm vi doanh nghiệp kinh doanh thiết bị văn phòng thì thị
trường thiết bị văn phòng được mô tả là một hay nhiều nhóm khách hàng
tiềm năng với những nhu cầu tương tự nhau và những người bán cụ thể nào
đó mà doanh nghiệp với tiềm năng của mình có thể mua các máy móc thiết bị
và cung cấp các dịch vụ để thoả mãn nhu cầu trên của khách hàng. Với cách
hiểu này, thị trường thiết vị văn phòng bao gồm cả người bán, người mua và
các máy móc thiết bị mang đi trao đổi. Sự tác động qua lại giữa người bán,
người mua thông qua hàng hoá đã hình thành nên thị trường.
Như vậy, nghiên cứu thị trường thiết bị văn phòng có thể được hiểu là
quá trình nghiên cứu các yếu tố cấu thành nên thị trường: cung, cầu, giá cả và
sự cạnh tranh nhằm giúp cho doanh nghiệp có được những thông tin tổng quát
về thị trường; trên cơ sở đó xác định mặt hàng kinh doanh.
1.2.1.2 Trình tự, nội dung và phương pháp nghiên cứu.
Trình tự nghiên cứu:
Quá trình nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp kinh doanh thiết bị
văn phòng thường được thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu nghiên cứu:
Lớp QTKD TMA Trường ĐHKT Quốc Dân
7
Luận văn tốt nghiệp Phạm Thị Mai
Trong bước này, các doanh nghiệp cần phải xác định rõ mục tiêu
nghiên cứu của mình. Xác định được mục tiêu nghiên cứu sẽ giúp các doanh
nghiệp có được hướng đi cụ thể để tiến hành thu thập các thông tin.
Bước 2: Thu thập thông tin:
Đây là bước đầu để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra trong
bước 1. Ở bước này, các doanh nghiệp cần phải trả lời các câu hỏi: Mình cần
phải thu thập những thông tin gì? Những thông tin đó được lấy từ đâu? Mình
sẽ lấy những thông tin đó bằng cách nào?
Bước 3: Xử lý thông tin:
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Nghiên cứu giá cả là
nghiên cứu giá mua và giá bán thiết bị trên thị trường để tìm ra khoảng chênh
lệch giá. Cần nghiên cứu các chính sách của Chính phủ như chính sách thuế,
giá các loại dịch vụ có liên quan như cước vận tải, giá thuê kho tàng, cửa
hàng… để xác định giá cả thị trường.
* Nghiên cứu sự cạnh tranh trên thị trường:
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế đầy rẫy những cạnh tranh. Do đó,
trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp cần phải quan tâm đến tính cạnh
tranh trên thị trường. Nghiên cứu sự cạnh tranh trên thị trường sẽ giúp doanh
nghiệp xác định được số lượng đối thủ cạnh tranh, ưu nhược điểm của đối thủ
cạnh tranh và xác định trạng thái cạnh tranh trên thị trường. Trên cơ sở đó đề
ra các quyết sách cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp có thể sử dụng hai phương
pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Là phương pháp nghiên cứu thu thập
các thông tin qua các tài liệu như sách, báo, tạp chí…có liên quan đến các
việc sử dụng các thiết bị văn phòng. Nghiên cứu theo phương pháp này sẽ cho
Lớp QTKD TMA Trường ĐHKT Quốc Dân
9
Luận văn tốt nghiệp Phạm Thị Mai
ta cái nhìn khái quát về thị trường mà doanh nghiệp đang quan tâm. Tuy
nhiên, phương pháp này thường có độ trễ so với thực tế.
Phương pháp nghiên cứu hiện trường: Là phương pháp trực tiếp cử cán
bộ tới hiện trường để nghiên cứu. Thông qua việc trực tiếp quan sát, thu thập
các thông tin, số liệu ở đơn vị cần nghiên cứu, doanh nghiệp sẽ thu thập được
những thông tin sinh động, thực tế. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi cán
bộ nghiên cứu phải có trình độ chuyên môn cao và tốn kém chi phí.
Trên thực tế nên kết hợp cả hai phương pháp này để việc nghiên cứu thị
trường đạt hiệu quả hơn.
nhu cầu trên thị trường, việc thu mua tạo nguồn hàng đòi hỏi phải nhanh
nhạy, các doanh nghiệp phải đi trước một bước để đảm bảo thỏa mãn tốt nhất
khi nhu cầu của người tiêu dùng xuất hiện. Do đó, đây là một công việc hết
sức quan trọng đối với các doanh nghiệp.
1.2.2.2 Vai trò của nguồn hàng.
Thứ nhất: Nguồn hàng là một điều kiện quan trọng của hoạt động kinh
doanh. Nếu doanh nghiệp không mua được thiết bị văn phòng sẽ không thể
tiến hành kinh doanh trên thị trường được.
Thứ hai: Tạo nguồn mua hàng phù hợp sẽ giúp cho hoạt động kinh
doanh được tiến hành thuận lợi, kịp thời, rút ngắn thời gian lưu chuyển của
máy móc thiết bị.
Thứ ba: Giúp các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đảm bảo tính
ổn định, chắc chắn, hạn chế tình trạng thừa, thiếu máy…gây ảnh hưởng tới
kết quả kinh doanh.
Thứ tư: Giúp hoạt động tài chính của doanh nghiệp được thuận lợi.
Hoạt động thu mua tạo nguồn tốt sẽ giúp doanh nghiệp bán được hàng, thu
hồi vốn đầu tư nhanh, doanh nghiệp sẽ bù đắp được chi phí và thu được lợi
Lớp QTKD TMA Trường ĐHKT Quốc Dân
11
Luận văn tốt nghiệp Phạm Thị Mai
nhuận để mở rộng phát triển kinh doanh và thực hiện các nghĩa vụ đối với
Nhà nước.
1.2.2.3 Các hình thức tạo nguồn
Các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị văn phòng có thể tạo nguồn hàng
của mình theo các hình thức sau:
* Mua theo đơn đặt hàng và theo hợp đồng kí trước:
Mua hàng theo hình thức này sẽ xác định được các yêu cầu cụ thể mặt
hàng về số lượng, chất lượng, quy cách, cỡ loại… và thời gian giao hàng. Nhờ
đó, doanh nghiệp sẽ chủ động, có kế hoạch trong việc thu mua tạo nguồn
hàng, đảm bảo sự ổn định, chắc chắn cho cả người sản xuất lẫn đơn vị kinh
Căn cứ vào mối quan hệ giữa người tiêu dùng cuối cùng với doanh
nghiệp có hai loại kênh chủ yếu đó là: kênh bán hàng trực tiếp và bán hàng
gián tiếp (bán qua trung gian).
* Kênh bán hàng trực tiếp: Doanh nghiệp người tiêu dùng cuối
cùng.
Ưu điểm: giảm chi phí kinh doanh, có nhiều thông tin về thị trường, về
khách hàng.
Nhược điểm: Hoạt động bán hàng diễn ra với tốc độ chậm, các doanh
nghiệp phải có quan hệ giao dịch với nhiều bạn hàng.
* Kênh bán hàng gián tiếp: Doanh nghiệp trung gian người
tiêu dùng cuối cùng.
Ưu điểm: Đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hoá với khối lượng lớn,
thu hồi vốn đầu tư nhanh, tiết kiệm chi phí dự trữ, bảo quản, giảm hao hụt.
Nhược điểm: Khó khăn trong công tác quản lý, kiểm soát các lực
lượng trung gian, không hiểu rõ nhu cầu của người tiêu dùng.
Mạng lưới kênh là tập hợp các kênh bán mà doanh nghiệp đã lựa chọn.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp mà lựa
Lớp QTKD TMA Trường ĐHKT Quốc Dân
13
Luận văn tốt nghiệp Phạm Thị Mai
chọn các kênh bán cho phù hợp. Các doanh nghịêp có thể kết hợp hai kiểu
kênh này để phát huy nhũng ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của mỗi
loại kênh.
1.2.3.2 Các hình thức bán và phương thức bán
Hình thức và phương thức bán hàng phản ánh mối quan hệ giữa người
mua và người bán trong giao dịch mua bán, thanh toán và vận chuyển.
Tùy theo những tiêu thức khác nhau mà có các hình thức và phương
thức bán khác nhau:
- Theo địa điểm giao hàng có: Bán tại kho của nhà cung ứng, bán tại
kho của doanh nghiệp hoặc bán tại các đơn vị tiêu dùng.
1.2.4.2 Tiến hành ký kết hợp đồng
Sau quá trình giao dịch đàm phán, hai bên sẽ tiến hành ký kết hợp
đồng. Hợp đồng có thể được thực hiện dưới dạng văn bản hoặc hợp đồng
bằng miệng. Nội dung của hợp đồng thể hiện những điều khoản chủ yếu về
tên hàng, số lượng, chất lượng, giá cả, điều kiện giao hàng và phương thức
thanh toán. Các điều khoản này phải được thể hiện rõ ràng, chính xác, ngôn
ngữ dễ hiểu và phải thống nhất với nhau.
Số lượng hợp đồng được ký kết là kết quả của công tác bán hàng của
doanh nghiệp. Điều đó phụ thuộc vào mối quan hệ vốn có của doanh nghiệp,
trình độ chuyên môn của những nhân viên bán hàng, khả năng tự chủ, phản
úng nhanh nhạy và giàu kinh nghiệm trong đàm phán kinh doanh của người đàm
phán.
1.2.5 Thực hiện hợp đồng đã ký kết
Sau khi đã ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với đối tác, doanh
nghiệp sẽ tiến hành thực hiện hợp đồng.
Đối với hình thức bán buôn tuỳ theo khối lượng hàng hoá, phương thức
thanh toán mà phân công nhân viên bán hàng cho phù hợp để đáp ứng yêu cầu
Lớp QTKD TMA Trường ĐHKT Quốc Dân
15
Luận văn tốt nghiệp Phạm Thị Mai
giao dịch mua bán của khách hàng ở những địa điểm thuận tiện cho cả hai
bên.
Đối với hình thức bán lẻ tại các quầy, cửa hàng, căn cứ vào lượng hàng
hoá tiêu thụ bình quân một ngày đêm để chuẩn bị hàng hoá, thiết bị, phương
tiện cho phù hợp.
Dù bán hàng theo hình thức bán buôn hay bán lẻ thì nói chung để thực
hiện hợp đồng đã ký kết cần làm những công việc sau:
- Chuẩn bị hàng hoá.
- Kiểm tra hàng hoá.
- Thuê phương tiện vận tải.
đồng mua bán hàng hoá nhằm mở rộng hoặc thúc đẩy việc cung ứng hàng hoá
ra thị trường.
1.2.6.4 Bán hàng trực tiếp
Bán hàng là hành vi thương mại của thương nhân, là sự giao tiếp giữa
người bán hàng với khách hàng tiềm năng. Người bán có nghĩa vụ giao hàng,
chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua và nhận tiền.
Bán hàng trực tiếp là nghiệp vụ cơ bản thực hiện mục đích kinh doanh
của doanh nghiệp. Hoạt động này liên quan mật thiết với khách hàng, ảnh
hưởng tới niềm tin, uy tín và sự tái tạo hành vi mua của khách hàng. Nó là vũ
khí cạnh tranh mạnh mẽ của doanh nghiệp trên thương trường.
1.2.6.5 Quan hệ công chúng và các hoạt động khuyếch trương khác
Mục đích của các hoạt động này nhằm tạo ra một hình ảnh đẹp cho
doanh nghiệp trong con mắt khách hàng. Nhờ đó hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp sẽ được tiến hành một cách thuận lợi hơn. Đây là một trong
những hoạt động xúc tiến có hiệu quả mà các doanh nghiệp nên áp dụng để hỗ
trợ thêm các hoạt động xúc tiến khác nhằm đạt được các mục tiêu xúc tiến mà
các doanh nghiệp đã đạt ra.
Lớp QTKD TMA Trường ĐHKT Quốc Dân
17
Luận văn tốt nghiệp Phạm Thị Mai
1.2.7 Thực hiện các hoạt động dịch vụ bán hàng:
Ngày nay, khi nền kinh tế càng phát triển, hoạt động kinh doanh trên
thị trường sẽ ngày càng gặp phải những sự cạnh tranh lớn. Do đó, các doanh
nghiệp thương mại đều tăng cường áp dụng các biện pháp để nâng cao tính
cạnh tranh của doanh nghiệp mình thông qua các hình thức dịch vụ. Với chất
lượng hàng hóa như nhau và giá cả tương tự nhau, dịch vụ bán hàng sẽ trở
thành vũ khí cạnh tranh hữu hiệu của các doanh nghiệp thương mại. Khách
hàng sẽ tìm tới doanh nghiệp khi doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu của họ
và làm cho họ cảm thấy hài lòng nhất. Các doanh nghiệp thương mại thường
áp dụng một số loại hình dịch vụ như sau:
- Độ tin cậy của khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp.
- Khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp.
- Hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
- Mức độ hài lòng của khách hàng về sản phẩm và dịch vụ của doanh
nghiệp…
* Nhóm chỉ tiêu về mặt số lượng: Nhóm chỉ tiêu này phản ánh trực tiếp
kết quả thu được từ hoạt động bán hàng, bao gồm:
- Doanh số bán hàng.
- Chi phí bán hàng.
- Lợi nhuận của hoạt động bán hàng.
- Số lượng khách hàng của doanh nghiệp: khách hàng mới, khách hàng
truyền thống, khách hàng tiềm năng…
- Thị phần của doanh nghiệp (T)
Doanh số bán của doanh nghiệp
Doanh số bán của toàn ngành
Lớp QTKD TMA Trường ĐHKT Quốc Dân
19
T =
x 100 %
Luận văn tốt nghiệp Phạm Thị Mai
- Tỉ lệ hoàn thành kế hoạch (K)
Tổng doanh số bán thực tế
Tổng doanh số bán theo kế hoạch
- Số vòng quay của vốn lưu động (V)
Doanh số bán
Vốn lưu động bình quân
- Tỉ suất sinh lời của vốn lưu động (P1)
Tổng lợi nhuận
Tổng vốn lưu động
- Mức doanh lợi trên doanh số bán (P2)
Các yếu tố trong môi trường này chi phối mạnh mẽ đến sự hình thành
các cơ hội kinh doanh trên thị trường và khả năng thực hiện các mục tiêu của
doanh nghiệp. Sự ổn định của môi trường chính trị tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường. Hệ thống luật
pháp ngày một hoàn thiện hơn sẽ tạo ra môi trường hành lang pháp lý an toàn
cho các doanh nghiệp hoạt động. Đặc biệt, hệ thống các chính sách thuế, các
chính sách hỗ trợ đầu tư sẽ tạo ra những cơ hội hấp dẫn cho các doanh nghiệp.
Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, hệ
thống chính sách thuế quan có nhiều thay đổi lớn. Các hàng rào thuế quan và
phi thuế quan dần được xóa bỏ, hoạt động ngoại thương được dễ dàng hơn.
Đây là một cơ hội kinh doanh lớn cho các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu hàng
hoá với thị trường nước ngoài.
1.3.1.3 Môi trường kinh tế, công nghệ
Đây là môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Các yếu tố thuộc môi trường này như: cơ cấu kinh tế, tốc độ
tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái… Xu hướng
mở/đóng cửa nền kinh tế của mỗi quốc gia tác động mạnh đến cơ hội phát
triển của doanh nghiệp, các điều kiện cạnh tranh và khả năng sử dụng ưu thế
quốc gia trên thị trường thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh sự phát
triển chung của nền kinh tế, nó liên quan đến khả năng mở rộng/ thu hẹp quy
mô của từng doanh nghiệp.
Lớp QTKD TMA Trường ĐHKT Quốc Dân
21
Luận văn tốt nghiệp Phạm Thị Mai
Sự phát triển của khoa học công nghệ ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát
triển của các doanh nghiệp kinh doanh thiết bị văn phòng. Bởi lẽ, các sản
phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh là các máy móc thiết bị với trình độ công
nghệ đòi hỏi cao. Khi khoa học kỹ thuật càng phát triển, chu kỳ sống của sản
phẩm trở nên ngắn hơn, điều đó thúc đẩy các doanh nghiệp phải đẩy nhanh số
lượng máy móc ra thị trường nếu không sẽ trở nên lạc hậu.
phẩm thay thế thì sự cạnh tranh càng khốc liệt. Doanh nghiệp phải nỗ lực hết
mình chiếm lĩnh được thị trường mình đã chọn.
1.3.3 Các nhân tố nội bộ doanh nghiệp
1.3.3.1 Tiềm lực tài chính
Đây là yếu tố phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua số vốn
mà các doanh nghiệp có thể huy động được. Nó được biểu hiện thông qua các
chỉ tiêu: vốn chủ sở hữu, vốn huy động, mệnh giá cổ phiếu của doanh
nghiệp…
Tiềm lực tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động thường
xuyên của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động bình thường khi
doanh nghiệp có đủ số vốn cần thiết để mua hàng hoá và bán lại cho người
tiêu dùng. Doanh nghiệp cần có kế hoạch để sử dụng nguồn vốn có hiệu quả.
1.3.3.2 Nguồn nhân lực
Trong hoạt động kinh doanh, yếu tố con người có vai trò quan trọng
hàng đầu đối với sự thành công của mỗi doanh nghiệp. Chính con người, với
năng lực thật sự của họ mới lựa chọn được cơ hội kinh doanh cho phù hợp.
Một doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ năng động, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ
bán hàng thì doanh nghiệp đó sẽ chiếm được một thị phần lớn và thu được
nhiều lợi nhuận hơn.
Lớp QTKD TMA Trường ĐHKT Quốc Dân
23
Luận văn tốt nghiệp Phạm Thị Mai
Để đánh giá tiềm lực con người của mỗi doanh nghiệp thường quan
tâm đến các yếu tố:
- Lực lượng lao động có năng suất, có khả năng phân tích và sáng tạo.
- Chiến lược con người và phát triển nguồn nhân lực.
1.3.3.3 Tiềm lực vô hình
Tiềm lực vô hình tạo nên sức mạnh vô hình cho doanh nghiệp. Đó là
thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải xem xét xem
doanh nghiệp mình đã có chiến lược xây dựng thương hiệu phù hợp hay chưa,
Website : www.nhatvinh.com.vn
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của Công ty
Công ty Nhất Vinh - Nhất Vinh Joint stock company thuộc tập đoàn IBC
Group ( Công ty thương mại và dịch vụ tin học) được thành lập vào năm 1995
do một đội ngũ kỹ sư và chuyên gia lành nghề hoạt động trong lĩnh vực công
nghệ thông tin, máy văn phòng và dịch vụ. Khi mới thành lập, nhân sự Công
ty chỉ có 5 người, với hoạt động chính là:
- Kinh doanh thiết bị văn phòng.
- Bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị văn phòng.
- Cung cấp dịch vụ và giải pháp về công nghệ thông tin.
Sau gần 4 năm hoạt động, năm 1998 Công ty đã không ngừng phát triển
lớn mạnh, nhân sự Công ty tăng lên gần 60 người được đào tạo chính quy
trong và ngoài nước, quy mô hoạt động kinh doanh được mở rộng khắp các
tỉnh thành trong cả nước như : Thành phố Hồ Chí Minh, Cao Bằng, Lạng Sơn,
Thanh Hóa các sản phẩm của Công ty cũng dần biết đến rộng khắp trên thị
trường Việt Nam.
Lớp QTKD TMA Trường ĐHKT Quốc Dân
25