ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
CHU THỊ QUYÊN
THIẾT KẾ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ KẾT QUẢ
HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI BẰNG PHƯƠNG
PHÁP HƯỚNG ĐỐI TƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Lê Văn Phùng HÀ NỘI – 2011 4
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
TÓM TẮT KẾT QUẢ 3
BẢNG CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 7
MỞ ĐẦU 11
CHƢƠNG I 12
HỆ THỐNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN
CHỈ 12
1.1 Tổng quan về học chế tín chỉ 12
1.1.1 Quan niệm về học chế tín chỉ 13
1.1.2 Sự khác biệt giữa đào tạo theo niên chế và theo học chế tín chỉ 14
3.1.1 Yêu cầu thông tin nghiệp vụ 49
3.1.2 Các chức năng chính của hệ thống 53
3.2 Phân tích hệ thống Desktop 54
3.2.1 Phân tích chung ca sử dụng 54
3.2.2 Phân tích gói “Quản trị hệ thống” 58
3.2.3 Phân tích gói “Quản lí điểm” 62
3.2.4 Phân tích gói “Quản lý tốt nghiệp” 76
3.3 Thiết kế hệ thống Desktop 80
3.3.1 Thiết kế gói “Quản trị hệ thống” 80
3.3.2 Thiết kế gói “Quản lí điểm” 85
3.3.3 Thiết kế gói “Quản lý tốt nghiệp” 100
3.3.4. Mô tả CSDL 104
3.3.5. Biểu đồ thành phần 109
3.3.6. Biểu đồ triển khai 110
3.4. Phân tích hệ thống Website 110
3.4.1 Phân tích ca sử dụng 110
3.4.2 Biểu đồ trạng thái 114
3.4.3 Biểu đồ lớp lĩnh vực 115
3.5. Thiết kế hệ thống Website 116
3.5.1 Biểu đồ động 116
3.5.2 Biểu đồ hoạt động 118
3.5.3 Biểu đồ thành phần hệ thống website 122
3.5.4.Biểu đồ triển khai của hệ thống website 122
3.6 Biểu đồ triển khai toàn hệ thống 123
3.6.1 Môi trường sử dụng 123
3.6.2 Công cụ phát triển 123
3.6.3 Biểu đồ quản lý ứng dụng 123
3.6.4 Kiến trúc ứng dụng 124
CHƢƠNG IV 127
LẬP TRÌNH THỬ NGHIỆM 127
TT
Thông tin
TKB
Thời khóa biểu
HTTT
Hệ thống thông tin
ĐTB
Điểm trung bình
DS
Danh sách
QLĐT-TC
Quản lý đào tạo tín chỉ
UC
Usecase
UML
Unified Modeling Language
UI
User Interface
USDP
Unified Softsware Development Proccess
OMT
Object Modeling Technique
OOSE
Object Oriented Software Engineering
HaUI
Hanoi University of Industry
Hình 2.28 Biểu đồ hoạt động 40
Hình 2.29 Biểu đồ triển khai 41
Hình 2.30 Các cơ chế mở rộng (Extensibility mechanisms) 42
Hình 2.31 Biểu đồ quá trình phát triển phần mềm 43
Hình 2.32 Qui trình xây dựng các mô hình UML trong phân tích, thiết kế hệ thống 48 8
Hình 3.1 Biểu đồ UC tổng quát của hệ thống Desktop “Quản lý đào tạo tín chỉ” 57
Hình 3.2 Biểu đồ UC tổng quát hệ thống Desktop “Quản lý kết quả HT theo tín chỉ” 58
Hình 3.3 Biểu đồ UC tổng quát chức năng “Quản trị hệ thống” 58
Hình 3.4 Biểu đồ phân rã UC “Quản lý người dùng” 59
Hình 3.5 Biểu đồ phân rã UC “Quản lý nhóm người dùng” 59
Hình 3.6 Biều đồ lớp lĩnh vực modul Quản trị hệ thống 62
Hình 3.7 Biểu đồ usecase gói “Nhâp điểm SV” 63
Hình 3.8 Biểu đồ lớp Điểm môn 65
Hình 3.9 Biểu đồ Usecase của gói “Quản lý kết quả học tập” 66
Hình 3.10 Biểu đồ trạng thái lớp Điểm tổng hợp trong UC “Tính điểm TB học kì” 70
Hình 3.11 Biểu đồ trạng thái lớp Điểm tổng hợp trong UC “Tính điểm tích lũy” 71
Hình 3.12 Biểu đồ lớp gói “Quản lý kết quả học tập” 71
Hình 3.13 Biểu đồ Usecase của gói Đánh giá kết quả rèn luyện 72
Hình 3.14 Biểu đồ trạng thái lớp Khen Thưởng 74
Hình 3.15 Biểu đồ trạng thái lớp kỷ luật 75
Hình 3.16 Biểu đồ lớp gói “Đánh giá kết quả rèn luyện” 75
Hình 3.17 Biểu đồ lớp gói “Quản lí điểm” 76
Hình 3.18 Biểu đồ UC gói “Quản lý tốt nghiệp” 77
Hình 3.19 Biểu đồ trạng thái lớp Sinh viên 79
Hình 3.20 Biểu đồ lớp tham gia ca sử dụng gói “Quản lí tốt nghiệp” 80
Hình 3.21 Biều đồ tuần tự UC đăng nhập 81
Hình 3.22 Biều đồ tuần tự UC đổi mật khẩu 81
Hình 3.50 Biểu đồ hoạt động UC “Thống kê điểm” 96
Hình 3.51 Biểu đồ hoạt động UC “Tìm kiếm kết quả học tập” 96
Hình 3.52 Biểu đồ hoạt động UC “In danh sách sinh viên học tiếp” 97
Hình 3.53 Biểu đồ cộng tác UC “Tính Điểm TB” 97
Hình 3.54 Biểu đồ cộng tác UC “Tính Điểm Tích Lũy” 98
Hình 3.55 Biểu đồ cộng tác UC “In danh sách Kết Quả học tập” 98
Hình 3.56 Biểu đồ trình tự UC “Hủy quyết định xóa tên” 99
Hình 3.57 Biểu đồ hoạt động UC “Hủy quyết định xóa tên” 99
Hình 3.58 Biểu đồ lớp ca sử dụng “In bảng điểm cá nhân” 100
Hình 3.59 Biểu đồ tuần tự UC “In danh sách sinh viên tốt nghiệp” 100
Hình 3.60 Biểu đồ tuần tự UC “In danh sách sinh viên không tốt nghiệp” 101
Hình 3.61 Biểu đồ hoạt động UC “Phân hạng tốt nghiệp” 101
Hình 3.62 Biểu đồ hoạt động UC “In danh sách sinh viên tốt nghiệp” 102
Hình 3.63 Biểu đồ hoạt động UC “In danh sách sinh viên không tốt nghiệp” 102
Hình 3.64 Biểu đồ hoạt động UC “Tìm kiếm bảng điểm Sinh viên” 103
Hình 3.65 Biểu đồ cộng tác “In danh sách SV tốt nghiệp” 103
Hình 3.66 Biểu đồ cộng tác “In bảng điểm cá nhân” 104
Hình 3.67 Biểu đồ thành phần hệ thống Desktop 109
Hình 3.68 Biểu đồ triển khai hệ thống Desktop 110 10
Hình 3.69 Biểu đồ UC tổng quát của tác nhân Sinh viên 111
Hình 3.70 Phân rã UC “Xem biểu mẫu thống kê” và UC “Tra cứu sinh viên” 112
Hình 3.71 Biểu đồ trạng thái lớp thời khóa biểu 115
Hình 3.72 Biểu đồ liên kết giữa các lớp “Xem điểm tổng kết học kỳ” 115
Hình 3.73 Biểu đồ liên kết giữa các lớp thực thi ca sử dụng “Tra cứu kết quả học tập” 116
Hình 3.74 Biểu đồ liên kết giữa các lớp thực thi ca sử dụng in bảng điểm 116
Hình 3.75 Biểu đồ tuần tự UC “Xem thời khóa biểu” 117
Hình 3.76 Biểu đồ tuần tự UC “Tra cứu kết quả học tập” 117
nguồn lực thông tin của một ngành, một lĩnh vực, một doanh nghiệp giữ vai trò rất
quan trọng và là một trong những nhân tố quyết định cho sự phát triển kinh tế xã hội,
góp phần gia tăng giá trị của các ngành, cơ quan, đơn vị.
Trong công tác quản lý nói chung và quản lý giáo dục đào tạo nói riêng, vấn đề xây
dựng một hệ thống thông tin quản lý đã được quan tâm nhưng còn khá lúng túng vì
còn thiếu phương pháp có cơ sở khoa học và quy trình chuẩn.
Ngày nay, kỹ nghệ phân tích thiết kế một hệ thống thông tin đã và đang phát triển
mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Một số hướng phát triển tiên tiến đang trên đà
tăng trưởng mạnh từ năm 1990 đến nay như hướng đối tượng, hướng thành phần,
hướng dịch vụ, trong đó việc phát triển phần mềm theo hướng đối tượng với ngôn ngữ
thống nhất UML đã đạt được mức chuẩn nhờ cách tiếp cận theo từng sự vật (things) đã
giúp cho việc nhận thức các thành phần trong hệ thống một cách sáng sủa và khoa học
hơn.
Việc mô hình hoá trong quá trình phân tích và thiết kế trong tiến trình phát triển hệ
thống theo hướng đối tượng là những hoạt động trọng tâm tạo nên những nền tảng
khoa học chắc chắn trong việc trừu tượng hoá thế giới thực rộng lớn. cách tiếp cận này
rất phù hợp để giải quyết vấn đề nan giải vừa nêu trên. Phần mềm quản lý kết quả học
tập theo học chế tín chỉ tại một trường đại học bước đầu cần đáp ứng được những yêu
cầu cơ bản và sẽ được hoàn thiện dần từng bước phục vụ tốt trước mắt các hoạt động
quản lý đào tạo và tốt nghiệp của các trường Cao đẳng, Đại học trong nước.
Luận văn gồm 4 chương
Chương I: Hệ thống đào tạo đại học theo học chế tín chỉ
Chương II: Kỹ nghệ hướng đối tượng
Chương III: Xây dựng hệ thống thông tin quản lý kết quả học tập của sinh viên theo
học chế tín chỉ của trường Đại học công nghiệp Hà nội
Chương IV: Lập trình thử nghiệm
Do điều kiện có hạn nên luận văn dừng lại ở những nội dung như trên. Luận văn chắc
chắn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp
và chỉ bảo của các thầy cô để luận văn có tính khả thi hơn trong việc áp dụng phát
triển xây dựng hệ thống thông tin quản lý kết quả học tập của sinh viên theo học chế
hoạt động học tập đã được lên kế hoạch như lên lớp nghe giảng, tham dự seminar,
hoặc tự học v.v Các tiêu chí này quyết định các đặc trưng cụ thể của các hệ thống tín
chỉ khác nhau trong những khoá học gần giống nhau trên thế giới.
Một số ưu điểm của hệ thống chuyển đổi tín chỉ như sau:
Giúp sinh viên hình dung và định lượng ra tất cả các yêu cầu đối với bản thân trong
từng giai đoạn cũng như trong suốt quá trình học tập của mình trong nhà trường;
Tạo điều kiện cho sinh viên chủ động lên kế hoạch và thực hiện việc học tập dựa vào
năng lực và điều kiện của mình, làm chủ thời gian và công việc;
Tăng cường tính mềm dẻo và linh hoạt của chương trình, giúp sinh viên không bị mất
đi những mảng kiến thức và kỹ năng đã tích lũy nếu như việc học của họ bị gián đoạn; 13
Giúp sinh viên có thể chuyển đổi từ khoá học này sang khoá học khác trong cùng một
hệ thống hay khác hệ thống;
1.1.1 Quan niệm về học chế tín chỉ
Tín chỉ: là một đại lượng đo lường toàn bộ thời gian bắt buộc của một sinh viên bình
thường để học một môn học cụ thể. Theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo một tín
chỉ tương đương với 15 giờ học lý thuyết ở trên lớp; 30 giờ thực tập trong phòng thí
nghiệm; 45 – 60 giờ đi thực tập, thực tế, thực địa. Để học một giờ tín chỉ sinh viên
phải chuẩn bị trước khi lên lớp và tự học từ 2 – 4 giờ. Để hoàn thành một tín chỉ thời
gian đào tạo 15 tuần.
Tín chỉ cũng là một phần kiến thức tương đối hoàn chỉnh cần phải trang bị cho sinh
viên để làm nền tảng cho các học phần về sau hoặc là những kiến thức không thể thiếu
để phục vụ nghề nghiệp của sinh viên sau này nên mỗi tín chỉ luôn phải có mục tiêu,
mục đích rõ ràng, để giảm tải chương trình từ đó có thời gian và điều kiện rèn luyện
khả năng tự học, kỹ năng thực hành tay nghề cho sinh viên.
Học phần: là một khái niệm gần đồng nghĩa với môn học nhưng không phải môn học.
Một môn học có thể bao gồm nhiều học phần hoặc một học phần có thể bao gồm kiến
thức của 2 hoặc 3 môn học.
tối đa 5 điểm/sinh viên), sinh viên nào nắm vững vấn đề được phân công sẽ được điểm
cao, sinh viên không tham gia hoặc không nắm vững vấn đề thảo luận sẽ được điểm
thấp hoặc chỉ được điểm trong phần báo cáo chung của nhóm
Sinh viên học tập trong tín chỉ
Sinh viên thời nào cũng phải tự học, không tự học không được tốt nghiệp ra trường. Vì
học tập là một quá trình chủ động, tích cực, sáng tạo, tự giác nên thầy không thể học
thay trò, chỉ có điều tự học trước hay sau khi giảng viên lên lớp, tự học thụ động hay
chủ động sáng tạo. Trong đào tạo theo học chế tín chỉ, với mục đích đào tạo ra những
người có khả năng tự học vươn lên, vì với khối lượng tri thức rất lớn trong chương
trình đào tạo nên sinh viên không thể học thuộc lòng tất cả các bài học. Sinh viên phải
tự học, tự tìm hiểu để biết bản chất vấn đề, vận dụng được lý thuyết vào thực tiễn, nói
được làm được, biện luận được, phân tích, tổng hợp, so sánh được. Sinh viên phải tự
đọc tài liệu trước khi lên lớp, đọc tài liệu và nghiền ngẫm những vấn đề trong tài liệu
là hết sức quan trọng.
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một vấn đề mới và rất khó, cần đến sự quan tâm của
tất cả các Thầy - Cô giáo và các em sinh viên. Nhưng mục đích cuối cùng của mọi sự
trao đổi là để hướng tới nâng cao hiệu quả và đảm bảo chất lượng đào tạo.
1.1.2 Sự khác biệt giữa đào tạo theo niên chế và theo học chế tín chỉ
Đào tạo theo niên chế và đào tạo theo học chế tín chỉ là hai hình thức tổ chức đào tạo
khác nhau nhưng đều có chung một mục tiêu là đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ
cao, đáp ứng được sự phát triển của các ngành nghề trong xã hội trong từng giai đoạn
lịch sử nhất định.
Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo học chế tín chỉ đều có lịch sử phát triển từ lâu,
mỗi cách tổ chức đào tạo đều có những ưu điểm, những khó khăn riêng và đều đạt
những thành quả rất to lớn. Nếu để tìm ra sự khác nhau giữa hai cách tổ chức đào tạo
này thì trong phạm vi luận văn này không thể đáp ứng được, tuy vậy dưới góc độ đào
tạo có thể thấy một số điểm khác nhau cơ bản giữa hai cách tổ chức đào tạo này.
- Về hình thức tổ chức
Đào tạo theo niên chế là đào tạo theo năm học, mỗi chương trình đào tạo của một
ngành học được quy định đào tạo trong một số năm nhất định. Ví dụ chương trình đào
khác nhau trong cùng lĩnh vực ít nhiều mang tính độc lập, vì vậy không tận dụng được
hiệu quả đào tạo.
Một trong những điểm mấu chốt, quan trọng nhất trong xây dựng chương trình trong
đào tạo theo học chế tín chỉ là các chương trình đào tạo có tính liên thông cao, là đào
tạo tiềm năng.
Việc tổ chức xây dựng chương trình có tính liên thông cao như vậy sẽ đào tạo cho sinh
viên một tiềm năng lớn và sinh viên có khả năng học liên thông các ngành trong cùng
một lĩnh vực.
Khi đã xây dựng được chương trình có tính liên thông cao, liên thông ngang giữa các
ngành trong cùng một khối và liên thông dọc từ cao đẳng lên đại học thì sinh viên rất
có điều kiện để học cùng một lúc nhiều ngành và trong một thời gian nhất định có thể
phấn đấu học được hai hoặc ba bằng đại học. 16
- Phương pháp giảng dạy
Đơn vị đo lường khối lượng học tập của sinh viên là đơn vị học trình tương đương với
15 tiết học lý thuyết ở trên lớp, 30 giờ thực hành thí nghiệm…, mỗi năm sinh viên đại
học phải tích lũy khoảng 50 đơn vị học trình nên chương trình đào tạo của các ngành
đào tạo như sau:
- Chương trình đào tạo Đại học 4 năm tương đương với 200 đơn vị học trình
- Chương trình đào tạo Đại học 5 năm tương đương với 250 đơn vị học trình
- Chương trình đào tạo Đại học 6 năm tương đương với 300 đơn vị học trình
Trong đào tạo theo niên chế áp dụng rất nhiều phương pháp giảng dạy như thuyết
trình, giảng dạy dựa trên vấn đề, semina, thảo luận nhóm, thực hành, thí nghiệm, đi
thực tập thực tế cộng đồng, thực tập tốt nghiệp. Tuy đã có rất nhiều hội thảo về đổi
mới công tác giảng dạy nhưng phương pháp học tập sinh viên ở trên lớp còn thụ động,
chủ yếu là nghe giảng, ghi chép, học thuộc lòng, ít tham gia vào bài giảng.
Đơn vị đo lường khối lượng học tập là tín chỉ, 1 tín chỉ tương đương với 15 tiết giảng
lý thuyết, 30 giờ thực hành thí nghiệm. Mỗi học kỳ sinh viên phải tích lũy tương
cách tổ chức đào tạo nào ưu việt hơn. Mỗi cách tổ chức đào tạo đều phù hợp với một
giai đoạn lịch sử nhất định, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội trong
từng thời kỳ nhất định.
Tìm ra sự khác nhau để thích ứng với hình thức tổ chức đào tạo mới - hình thức tổ
chức đào tạo theo tín chỉ với hai yêu cầu: giảng dạy theo phương pháp tích cực (lấy
người học làm trung tâm) và sinh viên phải tự học là chính, phải lấy tự học làm cốt.
1.1.3 Ƣu điểm và hạn chế của đào tạo theo tín chỉ
Ưu điểm:
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ giúp sinh viên chủ động thiết kế, xây dựng kế hoạch học
tập cho mình, được lựa chọn thực hiện tiến độ học tập thích hợp với khả năng, điều
kiện chủ quan và khách quan.
Là công cụ rất quan trọng để chuyển từ nền đại học mang tính tinh hoa sang nền đại
học mang tính đại chúng, quá trình đào tạo đại học trở nên mềm dẻo hơn.
Có thể giúp cho sinh viên thay đổi chuyên môn ngành trong tiến trình học tập mà
không phải học lại từ đầu – nhờ tính liên thông của nó.
Giúp các trường và sinh viên có thể mở thêm, học thêm ngành học mới khi xã hội có
nhu cầu phát triển đáp ứng kịp thời vì ngoài những tín chỉ chung đã có, chỉ cần học
thêm những tín chỉ mới phù hợp.
Những tín chỉ chung có thể áp dụng cho nhiều trường, sinh viên có thể tự lựa chọn để
học tập, tích lũy phù hợp với điều kiện đi lại, học tập của mình – không tốn kém nhiều
về kinh phí.
Việc sử dụng đội ngũ giáo viên chất lượng cao có hiệu quả.
Khả năng liên thông với các trường đại học trong khu vực và thế giới dễ dàng, nhanh
chóng.
Hạn chế
Việc tổ chức quản lý lớp học, phân công giảng dạy trong điều kiện hiện nay ở nước ta
có khó khăn.
Sự gắn kết của các sinh viên rất hạn chế dẫn đến việc tổ chức các hoạt động tập thể
khó có hiệu quả, tính cộng đồng trong sinh viên giảm sút, hoặc có thể hiểu là “chủ
nghĩa cá nhân” có cơ hội trổi dậy trong sinh viên.
Nhiều trường đã thực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo học phần thống nhất
cho các loại hình đào tạo đại học chính quy, đại học bằng 2, đại học tại chức, sau đại
học, chuyển đổi từ cao đẳng lên đại học, hợp đồng liên kết đào tạo với các cơ sở đào
tạo tại các địa phương, các bộ, ngành và các cơ sở đào tạo. Hiện nay, các trường này
đã thực hiện cấp chứng chỉ tích lũy theo học phần đối với các học phần phải bổ xung
kiến thức thuộc đào tạo sau đại học và chứng chỉ các môn học. Ngoài ra, các trường
này cũng đã thống nhất đánh giá kết quả học tập của sinh viên, học viên theo chế độ
tích luỹ học phần cho các loại hình đào tạo tập trung, chính quy, đào tạo ngoài giờ, tại
các địa phương, các ngành và liên kết đào tạo với các trường đại học. Thực hiện kiểm
tra, thi kết thúc học phần, thi tốt nghiệp theo hình thức thi viết đồng thời mở rộng hình
thức thi trắc nghiệm khách quan.
(Nguồn: tổng hợp từ các báo cáo tự đánh giá của các trường tham gia kiểm định
trường đợt 1 của Dự án Đại học I). 19
Mặt tích cực
Các trường đại học kể trên đã thực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo học phần,
thực hiện đánh giá kết quả học tập thống nhất giữa các hệ đào tạo, các loại hình,
phương thức đào tạo. Điều này còn có tác động tích cực đến phương pháp học tập của
sinh viên, học viên;
Các trường đã có sự chỉ đạo quyết liệt để thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ, bước
đầu trường đã xác định lộ trình thực hiện để tiến tới thực hiện ở tất cả các hệ, các
phương thức đào tạo trong toàn trường;
Thuận lợi cho người học, vì học viên hoàn toàn chủ động lựa chọn loại hình học tập
cũng như việc thực hiện kế hoạch học tập trong quá trình đào tạo của mình;
Giải quyết được khủng hoảng thừa về đội ngũ giảng viên, tiết kiệm về cơ sở vật chất
và nâng cao tính chuẩn mực trong CTĐT cho các hệ đào tạo của nhà trường;
Với hệ thống đào tạo theo tín chỉ này, các trường bắt đầu tiến trình hòa nhập vào hệ
thống giáo dục khu vực và thế giới.
việc tin học hóa quá trình quản lý nói chung và xây dựng hệ thống quản lý kết quả học
tập theo học chế tín chỉ còn gặp rất nhiều khó khăn, kết quả hạn chế.
Qua khảo sát sơ bộ tại một số trường Đại học và cao đẳng (đã và đang thực hiện
chương trình quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ) trên cả nước cho thấy: các hệ thống
quản lý mới đang được triển khai ứng dụng ở các trường với những phần mềm riêng lẻ
và tập trung vào một số mảng như: quản lý tài chính, tính lương, quản lý vật tư, quản
lý hồ sơ cán bộ, giảng viên, quản lý hồ sơ sinh viên. Riêng phần mềm quản lý tuyển
sinh được bộ giáo dục và đào tạo triển khai thì đang được các trường ứng dụng khá
hiệu quả. Máy tính dùng cho công tác quản lý với tỷ lệ lớn vẫn là dùng cho việc soạn
thảo các văn bản riêng lẻ, hệ thống báo cáo với Bộ chủ quản và Bộ giáo dục vẫn chủ
yếu qua con đường công văn. Hệ thống cơ sở dữ liêu về giảng viên, nhân viên, sinh
viên đang phân tán và mang lại hiệu quả quản lý chưa cao.
Một số các công ty phần mềm chào giá các hệ thống lớn như: “Trung tâm Quản lý”, có
các hệ thống con bao quát hầu hết các nghiệp vụ quản lý trong nhà trường như: quản lý
cán bộ, giảng viên, quản lý tuyển sinh, quản lý tài chính, quản lý thư viện, quản lý sinh
viên Tuy nhiên nảy sinh vấn đề thứ nhất là kinh phí lớn để triển khai cho phần cứng
và phần mềm, vấn đề thứ hai là cập nhật dữ liệu cho hệ thống và các hệ thống lớn
thường khó khăn trong vấn đề xử lý lỗi. Do đó phát huy hiệu quả nói chung là không
cao, một số trường chủ yếu chỉ triển khai mảng quản lý hồ sơ cán bộ, giảng viên và
sinh viên.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trung tâm là đào tạo, thông tin về kết quả học tập
của học sinh – sinh viên có vai trò rất quan trọng cho hệ thống quản lý và công tác ra
quyết định. Các thông tin về điểm trung bình, điểm thi, điều kiện học bổng, điều kiện
tốt nghiệp,… là yêu cầu thường xuyên của hệ thống quản lý. Trong học chế niên chế,
các thông tin này khá nhiều lại do quản lý kiểu thủ công nên đã khó quản lý. Sự phức
tạp sẽ tăng bội phần khi chuyển sang học chế quản lý theo tín chỉ và do vậy, quá trình
chuyển sang học chế mới này đang bị chậm và gặp nhiều khó khăn chồng chất.
Trước tình hình thực tế đó, xuất phát từ các yêu cầu quản trị, nhu cầu về lưu trữ, khai
thác và trao đổi thông tin. Vấn đề thiết kế, xây dựng hệ thống thông tin quản lý trạng
thái học tập của sinh viên của các trường Cao đẳng / Đại học là hết sức cần thiết.
Hiện nay, các phòng đều được trang bị máy tính, máy chiếu, hệ thống âm thanh để có
thể áp dụng các phương pháp dạy tiên tiến
Trung tâm Thông tin Thư viện điện tử hiện đại với diện tích sử dụng trên 4000 m2
được trang bị mới hệ thống máy tính nối mạng internet, máy in, phần mềm quản lý thư
viện điện tử. v.v
Nhà trường đã tập trung xây dựng hệ thống ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
và tự luận cho 600 môn học lý thuyết phục vụ cho công tác tổ chức thi trắc nghiệm
trên máy tính. Năm 2008, nhà trường đã xây dựng và đưa vào sử dụng phần mềm
Quản lý thi trắc nghiệm với hàng trăm máy tính đã giúp cho việc tổ chức thi, chấm thi
và ra đề thi theo phương thức trắc nghiệm khách quan đạt kết quả cao; phần mềm lấy ý
kiến của học sinh, sinh viên về sự hài lòng đối với môn học đã giúp Nhà trường khắc
phục được những yếu kém, tồn tại nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Nhà trường đang vận hành hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:
2000 từ tháng 4 năm 2006 và nhận chứng nhận hợp chuẩn của tổ chức BV 22
Certification từ tháng 12/2006 (một tổ chức đánh giá chất lượng có uy tín của vương
quốc Anh). Đã chuyển đổi phiên bản sang ISO 9001-2008.
Sứ mạng và mục tiêu chất lượng của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội được xác
định rõ ràng, phù hợp với chức năng, các nguồn lực và định hướng phát triển của nhà
trường; phù hợp và gắn kết với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và
của cả nước. Trong quá trình xây dựng và phát triển nhà trường luôn định kỳ rà soát,
điều chỉnh, bổ sung các mục tiêu và triển khai thực hiện đạt được các mục tiêu đề ra.
Tầm nhìn đến năm 2020
Đại học Công nghiệp Hà Nội sẽ trở thành cơ sở giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa
học của nền kinh tế tri thức, đẳng cấp quốc tế, liên thông và công nhận lẫn nhau với
một số trường đại học trên thế giới.
Sứ mạng đến năm 2015
Đại học Công nghiệp Hà Nội cung cấp dịch vụ giáo dục - đào tạo nhiều ngành, nhiều
- Liên thông
- Liên kết nước ngoài
- Nâng bậc thợ
- Đào tạo lao động xuất khẩu.
Bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn theo nhu cầu xã hội quan tâm.
* Về ngành, nghề đào tạo: Trong những năm qua nhà trường đã xây dựng được
chương trình và triển khai đào tạo 19 chuyên ngành đại học chính quy, 19 chuyên
ngành đào tạo cao đẳng chính quy, nhiều chương trình đào tạo trình độ khác nhau.
Hiện nay nhà trường cũng đang sử dụng một số hệ thống phần mềm cho lĩnh vực tài
chính, kế toán với các phần mềm sử dụng nội bộ trong phòng tài chính, kế toán, phần
mềm tuyển sinh, phần mềm quản lý học phí, phần mềm tính và thanh toán lương.
Với nhiệm vụ trung tâm là đào tạo, thông tin về kết quả học tập của học sinh – sinh
viên có vai trò rất quan trọng cho hệ thống quản lý và công tác ra quyết định. Các
thông tin về điểm trung bình, điểm thi, điều kiện học bổng, điều kiện tốt nghiệp,… là
yêu cầu thường xuyên của hệ thống quản lý theo tín chỉ.
Các công việc chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực quản lý kết quả đào tạo theo tín
chỉ từ việc lập danh sách sinh viên từ khi nhập học, phân ổn định, lớp độc lập, phân
công giáo viên chủ nhiệm, vào điểm, xét học bổng, xét học tiếp, xét điều kiện tốt
nghiệp, xét kết quả tốt nghiệp đều đang thực hiện thủ công. Máy tính chỉ là nơi lưu
trữ các file văn bản, việc trao đổi thông tin vẫn chủ yếu bằng điện thoại và các cuộc
họp trực tiếp
Trước tình hình thực tế đó, xuất phát từ các yêu cầu quản trị công tác sinh viên, nhu
cầu về lưu trữ, khai thác và trao đổi thông tin.Vấn đề thiết kế xây dựng hệ thống thông
tin quản lý kết quả đào tạo của sinh viên có sự tham gia của máy tính, khai thác mạng
máy tính cục bộ, tự động hóa công tác tính toán, thống kê báo cáo của nhà trường là
hết sức cần thiết.
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN QUY CHẾ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG
THEO TÍN CHỈ
Căn cứ “Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”
(Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007
Điểm học phần của các học phần không nằm trong chương trình đào tạo của ngành
học (gồm ngành chính và ngành phụ), các học phần này thuộc chương trình đào tạo
của ngành khác do sinh viên đăng ký học thêm, không sử dụng để tính điểm TBC học
kỳ, TBC tích lũy. Kết quả tích lũy được của các học phần học thêm sẽ được ghi trong
bảng kết quả học tập của sinh viên.
* Điều 11: Rút bớt học phần đã đăng ký
- Khoản 1 thực hiện như sau:
Hết thời gian đăng ký theo quy định, sinh viên muốn rút bớt học phần đã đăng ký sẽ
thực hiện như sau: Trong thời gian từ tuần thứ 6 đến hết tuần thứ 8 của học kỳ chính
hoặc từ tuần thứ 2 đến hết tuần thứ 3 của học kỳ hè, sinh viên viết đơn xin rút bớt học
phần (có xác nhận của cố vấn học tập) và gửi về Phòng Đào tạo. Nếu được chấp nhận,
sinh viên sẽ được hủy kết quả đăng ký của các học phần xin rút nhưng phải đóng học
phí của các học phần này theo quy định. 25
Ngoài thời gian nêu trên, kết quả đăng ký khối lượng học tập trong học kỳ vẫn được
giữ nguyên. Sinh viên không đi học được coi là tự ý bỏ học, phải nhận điểm F là điểm
học phần và phải đóng học phí theo quy định.
Danh sách sinh viên được chấp nhận cho rút học phần được công bố trong tuần thứ 9
của học kỳ chính hoặc tuần thứ 4 của học kỳ phụ tại các Khoa/trung tâm quản lý học
phần và trên trang web đăng ký (http: //www.haui.edu.vn: 8089).
* Điều 12. Đăng ký học lại hoặc học đổi
- Thủ tục đăng ký học lại, học đổi như sau:
Sinh viên có thể đăng ký học lại, học đổi trong học kỳ chính hoặc học kỳ hè theo kế
hoạch tổ chức học phần trong các học kỳ của nhà trường.
Sinh viên đăng ký học đổi viết đơn (có xác nhận của cố vấn học tập) và gửi về Phòng
Đào tạo để hủy kết quả của học phần đã học và đăng ký học phần học đổi theo quy
định.
- Khoản 5 thực hiện như hướng dẫn ở Điều 5.
tượng gần đây được phát triển nhiều đã tạo ra các hệ thống cấu tạo bởi nhiều thành
phần độc lập và có tương tác với nhau. Che dấu thông tin là chiến lược thiết kế dấu
càng nhiều thông tin trong các thành phần càng hay. Cái đó ngầm hiểu rằng việc kết
hợp điều khiển logic và cấu trúc dữ liệu được thực hiện trong thiết kế càng chậm càng
tốt. Liên lạc thông qua các thông tin trạng thái dùng chung (Các biến tổng thể) là ít
nhất, nhờ vậy khả năng hiểu được nâng lên. Thiết kế là tương đối dễ thay đổi vì sự
thay đổi 1 thành phần không thể không dự kiến các hiệu ứng phụ trên các thành phần
khác.
Cách tiếp cận hướng đối tượng có 3 đặc trưng sau:
- Không có vùng dữ liệu dùng chung. Các đối tượng liên lạc với nhau bằng cách trao
đổi thông báo chứ không phải bằng các biến dùng chung.
- Các đối tượng là các thực thể độc lập dễ thay đổi vì rằng tất cả các trạng thái và các
thông tin biểu diễn chỉ ảnh hưởng trong phạm vi chính đối tượng đó thôi. Các thay
đổi về biểu diễn thông tin có thể được thực hiện không cần sự tham khảo tới các đối
tượng hệ thống khác.
- Các đối tượng có thể phân tán và có thể hành động tuần tự hoặc song song.
2.1.2 Ƣu, khuyết điểm của phƣơng pháp hƣớng đối tƣợng
Ưu điểm của thiết kế hướng đối tượng;