Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của tổ chức Thương mại Thế giới - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ THỊ HÀ
CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VỚI CƠ CHẾ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI
THẾ GIỚI
LUÂN VĂN THẠC SỸ LUẬT Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Xuân Nhự


1.1.1. Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
…………………
4
1.1.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Hiệp định chung về Thuế
quan và thương mại…………………………………………………….………

8
1.1.3. Những hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT và
sự cần thiết ra đời một cơ chế giải quyết tranh chấp thiết thực và hữu
hiệu - cơ chế của WTO………………………………………………………… 16
1.2. CƠ QUAN VÀ NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ
CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ
GIỚI……………………………………………….

20
1.2.1. Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO……………………… …….
20
1.2.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp của
WTO…….…………… …
28
1.3. THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI
THẾ GIỚI ………………… ……………………………………………………

30
1.3.1. Giai đoạn tham vấn và hoà
giải……………………….……………….
30

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ
CHỨC
THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT
TRIỂN -
KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 86
3.1. ĐÁNH GIÁ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC
THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN….

86
3.1.1. Ưu điểm của cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO……………
87
3.1.2. Hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO………………
92
3.2. KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM ……………….………………………….
98
3.2.1. Xác định rõ cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO….
98
3.2.2. Điều chỉnh chính sách, pháp luật kinh tế - thương mại cho phù
hợp với các quy định của WTO……………….………………………………

102
3.2.3. Nghiên cứu, vận dụng thành công những ưu đãi của WTO dành
cho các nước đang phát triển……………….………………………………

103
3.2.4. Chuẩn bị tốt về luật sư, tài liệu, tài chính và tâm lý khi theo

Nếu một nước vi phạm những quy định của WTO, nước đó có thể phải đối mặt rất
nhiều những trừng phạt thương mại.
Về mặt lý thuyết, bất kể nước thành viên nào cũng có thể đưa các tranh chấp
ra WTO để giải quyết nhưng trên thực tế, cơ chế này chủ yếu có lợi cho các nước
giàu. Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO cho phép các bạn hàng đơn phương
trừng phạt các nước vi phạm. Đây chính là cơ hội để các cường quốc thương mại
thể hiện sức mạnh của mình. Mỹ, EU hoặc Nhật Bản có thể không sợ nếu một nước
nhỏ ở Thế giới thứ ba đe doạ trừng phạt họ, nhưng các nước đang phát triển có thể
sẽ bị mất nhiều nếu bị các cường quốc thương mại cấm vận.
Tuy nhiên, trên thực tế, một số nước đang phát triển đã thành công trong việc
thách thức các nước lớn (thí dụ điển hình là vụ Costa Rica kiện Mỹ về quy chế hạn
chế nhập khẩu hàng dệt cotton và vụ Venezuela và Brazil kiện Mỹ về quy định xăng
dầu, Argentina kiện Mỹ về các biện pháp chống bán phá giá ống dẫn dầu).
Các nước đang phát triển cũng tích cực nhờ tới cơ chế giải quyết tranh chấp
của WTO để giải quyết các tranh chấp thương mại giữa họ với nhau và giải thích
quy phạm của WTO. Ví dụ, các vụ kiện giữa Brazil và Philippines (về quy chế nhập
khẩu dừa khô); Guatemala và Mexico (chống bán phá giá đối với xi-măng); Ấn Độ
và Thổ Nhĩ Kỳ (hàng dệt may); Indonesia và Argentina (quy chế phòng vệ thương
may đối với hàng giày dép); Argentina và Chile (các biện pháp phòng vệ liên quan
đến sản phẩm nông nghiệp)…
Việt Nam là một nước đang phát triển và đang chủ động hội nhập kinh tế khu
vực và quốc tế và nỗ lực đàm phán để gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

2
vào cuối năm 2005. Để gia nhập WTO, Việt Nam phải nghiên cứu cơ cấu tổ chức,
chức năng của tổ chức này, các hiệp định đa phương của WTO, những quyền lợi,
nghĩa vụ, những ưu đãi mà Việt Nam phải gánh vác và được hưởng. Hơn thế nữa,
Việt Nam phải tìm hiểu kỹ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để vận dụng
nhằm giải quyết các tranh chấp khi nước ta trở thành viên của tổ chức này, đồng
thời cũng chứng minh xem cơ chế giải quyết tranh chấp này có hiệu quả không, có

6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới về khoa học sau đây:
- Hệ thống hóa những nguyên tắc, quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp
theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
- Đánh giá thực trạng một số tranh chấp của các nước đang phát triển được
giải quyết theo cơ chế của WTO trong thời gian vừa qua.
- Rút ra kinh nghiệm với Việt Nam trong quá trình gia nhập và trở thành
thành viên của WTO .
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ chế giải quyết tranh chấp của tổ chức thương mại thế giới
Chƣơng 2: Tình hình giải quyết tranh chấp của các nước đang phát triển
theo cơ chế giải quyết tranh chấp của tổ chức thương mại thế
giới
Chƣơng 3: Đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp của tổ chức Thương
mại thế giới đối với các nước đang phát triển - kinh nghiệm
đối với Việt Nam
4
CHƢƠNG 1
CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG
MẠI THẾ GIỚI
1.1. KHÁI NIỆM CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC THƢƠNG MẠI
THẾ GIỚI
1.1.1. Cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại quốc tế
1.1.1.1. Tranh chấp thương mại quốc tế
Tranh chấp theo giải thích trong nhiều từ điển được hiểu là sự giành giật,
giằng co nhau cái không rõ thuộc về bên nào, là "bất đồng, trái ngược nhau".

của quốc gia bị hại.
Giáo trình về công pháp quốc tế của Mỹ xuất bản năm 1900 nêu rõ: Việc giải
quyết các tranh chấp quốc tế là việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia.
Trong thực tiễn, “tranh chấp quốc tế” được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa
hẹp. Theo nghĩa rộng tranh chấp quốc tế bao hàm không chỉ tranh chấp mà cả các
tình thế (trạng thái) xung đột giữa các chủ thể của luật quốc tế, mà chủ yếu là các
quốc gia; theo nghĩa hẹp thì tranh chấp quốc tế chỉ bao gồm các quan hệ xung đột
giữa các chủ thể của luật quốc tế được biểu hiện qua các bên tham gia cụ thể đối với
các đối tượng tranh chấp nhất định.
Theo Hiến chương Liên hợp quốc có hai loại tranh chấp quốc tế là: các tranh
chấp có thể đe doạ hoà bình và an ninh thế giới; và các tranh chấp khác. Tất cả các
tranh chấp đều có thể dẫn đến chiến tranh, đe dọa đến hoà bình và an ninh thế giới.
Tuy nhiên trên thực tế cho thấy các tranh chấp về biên giới lãnh thổ là loại tranh
chấp có nguy cơ đe dọa hoà bình và an ninh thế giới cao hơn. Trong khi đó, các
tranh chấp trong lĩnh vực thương mại quốc tế có ít nguy cơ gây ra chiến tranh hơn
và được xem là loại tranh chấp nằm ở nhóm thứ hai.
Như vậy, theo nhận xét ở trên, có thể kết luận tranh chấp thương mại quốc tế
là một loại tranh chấp quốc tế, phát sinh trên cơ sở xung đột về mặt quyền lợi hay
mâu thuẫn về lợi ích trong các quan hệ thương mại quốc tế.

6
Chủ thể tham gia vào tranh chấp thương mại quốc tế có thể là thể nhân, pháp
nhân, các tổ chức liên chính phủ hoặc các quốc gia. Như vậy có thể phân chia tranh
chấp thương mại quốc tế thành 3 nhóm: thứ nhất là các tranh chấp giữa các chủ thể
của luật quốc tế (chủ yếu là các quốc gia); thứ hai là tranh chấp giữa chủ thể của luật
quốc tế với pháp nhân hoặc thể nhân; thứ ba là tranh chấp giữa các thể nhân và pháp
nhân với nhau. Luận văn này chỉ giới hạn ở việc xem xét tranh chấp giữa các quốc
gia thành viên của WTO (tức là tranh chấp thuộc nhóm thứ nhất) liên quan đến việc
thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các hiệp định và thoả thuận của WTO. Điều này
cũng phù hợp với đặc điểm của WTO với tư cách là tổ chức quốc tế có các thành viên

chất bắt buộc đối với các bên trong tranh chấp.
1.1.1.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
Trong Đại từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Văn hoá thông tin xuất bản năm
1998) đã định nghĩa cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở
theo đó mà thực hiện và có đưa ví dụ: cơ chế thị trường, cơ chế điều chỉnh pháp
luật,…[15,368]. Có thể hiểu cơ chế là một phương thức, một hệ thống các yếu tố
làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của sự vật hay hiện tượng [10,58]. Nói
đến cơ chế của một sự vật hiện tượng nào đó, bao giờ cũng gồm hai mặt: bên ngoài
(thể hiện ở cách thức tổ chức nên nó) và bên trong (sự tổ chức và hoạt động ngay
trong nội tại của sự vật và hiện tượng). Nói cách khác, cơ chế là hệ thống các mối
quan hệ hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ chức, hoạt động, cách thức tồn tại và
phát triển của sự vật, hiện tượng. Cơ chế là một quá trình, một hệ thống, là tổng thể
các yếu tố tạo nên sự hoạt động của sự vật, hiện tượng.
Trên cơ sở khái niệm cơ chế nói chung, chúng ta tìm hiểu khái niệm về cơ
chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế. Có thể nói cơ chế giải quyết tranh
chấp thương mại quốc tế là tổng hợp các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho việc
giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế. Khi nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh
chấp thương mại quốc tế cần xem xét từ hai góc độ: mặt động của cơ chế (là những
trình tự, thủ tục, nguyên tắc để vận hành cơ chế); mặt tĩnh của cơ chế (là các
phương thức tác động vào hay còn gọi là các thiết chế, các cơ quan tham gia vào

8
vận hành cơ chế đó theo những nguyên tắc, thủ tục, quy trình đã được luật định,
nhằm mục đích cuối cùng là khôi phục lại quyền và lợi ích bị vi phạm và trật tự xã
hội).
Như vậy, một tranh chấp phát sinh, dù đó là tranh chấp loại gì cũng cần được
giải quyết. Để giải quyết tranh chấp cần có cơ quan giải quyết tranh chấp (như toà án,
trọng tài chẳng hạn), các nguyên tắc giải quyết tranh chấp, phương pháp, cách thức
giải quyết tranh chấp (như thương lượng, hoà giải, phương pháp trọng tài ), các quy
trình, thủ tục giải quyết tranh chấp (như trình tự tiến hành, các giai đoạn giải quyết

của GATT chỉ bao gồm các vấn đề liên quan đến thương mại hàng hoá, hướng tới
việc cắt giảm thuế quan đối với hoạt động thương mại quốc tế. GATT ra đời đã
đánh dấu một sự thay đổi lớn trong quan hệ kinh tế toàn cầu, thúc đẩy và đảm bảo
cho quá trình tự do hoá thương mại thế giới. Đồng thời GATT cũng đã tạo cơ sở
cho sự ra đời của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), một tổ chức quốc tế có quy
mô lớn về cơ cấu tổ chức và phạm vi điều chỉnh.
Năm 1944, trong khi cuộc Chiến tranh thế giới Thứ hai vẫn diễn ra ác liệt,
các phái đoàn của các quốc gia đồng minh cùng nhau họp tại Bretton Woods, New
Hampshire (Mỹ) để bàn bạc việc hình thành một hệ thống kinh tế quốc tế mới sau
khi chiến tranh kết thúc. Các cuộc họp này đã quyết định thành lập Quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB). Cả hai tổ chức quốc tế này đều không có
chức năng giải quyết các vấn đề thương mại quốc tế.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ chủ động thành lập một tổ chức
quốc tế quy định nội quy thương mại quốc tế (các hoạt động thương mại của Mỹ
vào thời điểm này chiếm một nửa giá trị thương mại thế giới). Đây là đề xuất thành
lập Tổ chức thương mại quốc tế (ITO) trực thuộc Liên hợp quốc. Một bản hiến
chương chi tiết được gọi là Hiến chương ITO được soạn thảo và đã được các nước
đàm phán sửa đổi qua các hội nghị quốc tế tổ chức luân phiên tại London, New
York, Geneva và Havana từ năm 1946 đến năm 1947. Dự thảo cuối cùng được hoàn
thiện tại La Havana (Cuba) có tên gọi là “Hiến chương La Havana”. Hiến chương
La Havana về việc thành lập ITO đã được 53 nước ký, chủ yếu là các quốc gia
giành được độc lập sau chiến tranh, trừ các nước Đức, Italia và Nhật Bản.

10
Mặc dù Hiến chương ITO đã được nhất trí, nhưng việc phê chuẩn Hiến
chương này ở một số nước đã không thực hiện được. Phản ứng mạnh nhất là từ phía
Quốc hội Mỹ do sự chỉ trích trong nội bộ nước Mỹ, mặc dù Chính phủ Mỹ là một
trong các Chính phủ tham gia tích cực trong việc xây dựng và hoàn thiện Hiến
chương này. Vì vậy, việc một số quốc gia (trong đó có Mỹ) không phê chuẩn Hiến
chương này nên trên thực tế ITO không được thành lập.

Ngoài những qui định về sự không phân biệt đối xử nêu ở trên, trong GATT
còn có nhiều điều khoản khác về quy chế tối huệ quốc và nguyên tắc không phân
biệt đối xử, liên quan đến các quy định về số lượng hàng hoá nội địa (Điều III,
khoản 7), phim ảnh nghệ thuật (Điều IV (b)), quá cảnh hàng hoá (Điều V, khoản 5
và 6), nhãn hiệu xuất xứ hàng hoá (Điều IX, khoản 1), hạn chế về số lượng hàng
hoá (Điều XIII khoản 1), doanh nghiệp thương mại nhà nước (Điều XVII, khoản 1),
khuyến khích của nhà nước trong việc thành lập các ngành công nghiệp đặc biệt
(Điều XVIII, khoản 20), và các biện pháp cần thiết đối với việc nhập khẩu và phân
phối các loại hàng hoá khan hiếm (Điều 20, mục (j)).
Trong quá trình tồn tại của mình, GATT đã tổ chức 8 cuộc đàm phán quốc
tế, trong đó nổi bật là Vòng đàm phán Kennedy (1962-1967), Vòng đàm phán
Tokyo (1973-1979), Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994). Sự hoàn thiện của
GATT trong quá trình hoạt động của mình là một kết quả đáng kể. Vòng đàm phán
Kennedy (62 nước tham gia) đã giải quyết được việc giảm thuế cho 30.000 loại sản
phẩm và mức giảm thuế trung bình là 35%. Vòng đàm phán Tokyo (102 nước) giải
quyết vấn đề hàng rào mậu dịch phi thuế quan và vấn đề giảm thuế và đã ký kết một
số hiệp định thương mại quan trọng, bao gồm Hiệp định chống phá giá, Hiệp định
trợ giá và thuế đối kháng, Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại, Hiệp định
về định giá Hải quan, Hiệp định về mua bán chính phủ. Còn kết quả của Vòng đàm
phán Uruguay là việc hình thành tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Vòng
Uruguay (123 nước) đàm phán về hầu hết tất cả các khía cạnh: từ những nội dung
truyền thống như cắt giảm thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, cải cách hệ
thống pháp lý của GATT, cho đến những vấn đề hoàn toàn mới như thương mại
dịch vụ (GATS), bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) và các biện pháp đầu tư liên

12
quan đến thương mại (TRIMs). Một trong những thành tựu quan trọng nhất mà
vòng đàm phán Uruguay đã đạt được chính là Hiệp định về việc thành lập một tổ
chức mới - Tổ chức thương mại thế giới (WTO) - một phiên bản mới của Tổ chức
thương mại quốc tế (ITO).

với cả hai bên. Trong trường hợp các bên tranh chấp không nhất trí với nhau thì
tranh chấp sẽ được chuyển sang bước tiếp theo.
Bước 2: Trình vụ kiện
Chỉ có các quốc gia thành viên (chứ không phải là các cá nhân hay các công
ty có tranh chấp liên quan) mới được trình vụ kiện ra GATT. Nước khiếu nại cần
chỉ ra các lợi ích có được hợp lý theo Hiệp định đã bị vô hiệu hay suy giảm bởi
hành động của nước bị kiện. Nếu vi phạm được chỉ ra, GATT sẽ coi như là có sự vô
hiệu hoá và suy giảm, nhưng nếu sau đó GATT tìm thấy không phải sự vô hiệu hóa
hay suy giảm thì GATT sẽ bác bỏ điều giả định của bên khiếu nại - tức là, nếu sự vi
phạm Hiệp định chưa được khẳng định thì bên khiếu nại sẽ không có quyền áp dụng
bất kỳ biện pháp trừng phạt nào đối với bên kia.
Bước 3: Tham vấn
Tham vấn được đề cập trong Điều XXII và Điều XXIII của Hiệp định GATT
và là một phần vô cùng quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp trong Hiệp
định GATT. Rất nhiều vụ kiện được giải quyết theo cách này trước khi được đưa đến
các bên ký kết. Tham vấn có thể rút ngắn được thời gian giải quyết tranh chấp và tiết
kiệm công sức của các bên. Tham vấn phải được lập ra bằng văn bản cùng với lý do
của tham vấn. Bản giải thích Vòng đàm phán Uruguay đã đề ra một số thời hạn trong
giai đoạn này. Trước đây, các bên ký kết sẽ trả lời yêu cầu tham vấn "ngay lập tức"
và cố gắng kết luận chúng một cách nhanh chóng. Về sau, các bên ký kết trả lời yêu
cầu tham vấn trong vòng 10 ngày và tham gia vào quá trình tham vấn liên quan tới
vấn đề khiếu nại trong vòng 30 ngày kể từ ngày yêu cầu đầu tiên của bên khiếu nại.
Thất bại trong việc tuân thủ thời hạn này sẽ cho phép bên khiếu nại quyền đề nghị
thành lập Ban hội thẩm mà không cần phải duy trì quá trình tham vấn. Nếu cả hai bên
đồng ý rằng, biện pháp tham vấn là không thích hợp thì bên khiếu nại có thể yêu cầu

14
thành lập một Ban hội thẩm. Nếu vấn đề khẩn cấp (bao gồm những tình huống có liên
quan đến hàng hoá dễ hỏng đang đi trên đường), thì theo Hiệp định GATT các bên
phải tham dự quá trình tham vấn trong vòng 10 ngày và một Ban hội thẩm có thể

Sau đó, Ban hội thẩm thu thập các thông tin về vụ tranh chấp. Ban hội thẩm không
phụ thuộc toàn bộ vào thông tin về vụ tranh chấp mà họ nhận được từ các bên tranh
chấp. Bất kỳ một cá nhân hay tổ chức nào cũng có thể được hỏi về các thông tin,
hoặc thậm chí về các lời khuyên mang tính chất kỹ thuật.
Ban hội thẩm cũng sẽ yêu cầu các bản đệ trình phải được lập bằng văn bản,
đầu tiên từ bên nguyên đơn sau đó đến bên bị đơn và từ các bên thứ ba có liên quan.
Bên nguyên đơn sẽ thường xuyên được yêu cầu đưa ra bản đệ trình ban đầu, để bên
bị đơn có sự chuẩn bị tốt cho vụ kiện mà nó phải đối mặt. Trên thực tế, Ban hội
thẩm đặt vấn đề tranh chấp trước cả hai bên và mong muốn cả hai bên tranh luận
một cách mạnh mẽ và triệt để. Cuối cùng, vào cuối phiên họp, Ban hội thẩm sẽ nghe
các bên làm sáng rõ các bản tường trình, đôi khi, các bên bị đơn không thể tiến hành
bào chữa cho đến lần đối chất thứ hai. Trên thực tế, nguyên nhân của sự trì hoãn
thường là sự chậm chạp của các bên tranh cãi.
Ban hội thẩm phải đệ trình bản báo cáo không được quá 6 tháng (không được
quá 3 tháng trong trường hợp khẩn cấp) kể từ khi được thành lập hoặc từ khi các
điều khoản tham chiếu được đồng ý. Nếu Ban hội thẩm tiến hành nhiều hơn thời
gian cho phép, thì phải thông báo cho Hội đồng bằng văn bản nêu rõ lý do của sự trì
hoãn, đồng thời dự đoán khi nào Ban hội thẩm sẽ hoàn thành trách nhiệm.
Khi đủ thông tin cần thiết, Ban hội thẩm chỉ thị cho Ban thư ký để bắt đầu
soạn thảo bản báo cáo mà không có mặt các bên tranh chấp. Báo cáo này sẽ được sử
dụng như một nền tảng cho bản báo cáo cuối cùng tới các bên ký kết. Ban hội thẩm
sẽ đánh giá một cách khách quan về những thực tế và việc các bên có tuân theo
Hiệp định hay không. Trước khi Ban hội thẩm gửi Báo cáo tới các bên ký kết, bản
phác thảo của các phần phải được thông báo tới các bên tranh chấp để xin ý kiến
bằng văn bản. Sau đó, bản phác thảo của toàn bộ báo cáo bao gồm các quy tắc giải
quyết tranh chấp phải được thông báo cho các bên tranh chấp để xin ý kiến thêm.
Mục đích là các bên tranh chấp phải được biết tới Báo cáo của Ban hội thẩm và các

16
bên tranh chấp phải đạt được một giải pháp thoả đáng trước khi bản báo cáo được

đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển của hệ thống giải quyết tranh chấp
kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, thực tế áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT
cũng cho thấy những hạn chế làm giảm tính hiệu quả và hiệu lực của nó, thể hiện:
- Trước hết, tiến trình giải quyết tranh chấp của GATT không ổn định, không
rõ ràng, dễ bị trì hoãn ở mọi giai đoạn. Một số quy định như sự vô hiệu hoá và suy
giảm hầu như không thể sử dụng được cho mục tiêu giải quyết tranh chấp. Nhiều quy
định của GATT về giải quyết tranh chấp chỉ mang tính quy tắc, hướng dẫn cho các
bên khi tham gia vào tiến trình trên. Kết quả là bên vi phạm không thực hiện hoặc
thực hiện nhưng không phù hợp với các phán quyết trong Báo cáo của Ban hội thẩm.
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp theo quy định của GATT chỉ được tiến
hành ở một cấp, tức là chỉ được xem xét thông qua Ban hội thẩm. Các bên tranh
chấp không có quyền kháng cáo, GATT không có Cơ quan phúc thẩm để xem xét
lại vụ tranh chấp một cách thoả đáng. Do vậy, tính chính xác trong việc giải quyết
tranh chấp giữa các bên không được đảm bảo.
- Thứ ba, toàn bộ hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT được đặt trên cơ
sở ra quyết định đồng thuận, nghĩa là cần phải đạt được sự nhất trí của bên bị khiếu
nại trước khi tiến hành các quy trình thành lập Ban hội thẩm, xác định những điều
kiện tham chiếu, chỉ định thành viên Ban hội thẩm, thông qua phán quyết và cho
quyền trả đũa. Đây là nguyên nhân gây chậm trễ hoặc bế tắc trong việc thông qua
Báo cáo của Ban hội thẩm, bởi bất kỳ một bên ký kết nào (kể cả bên tranh chấp)
cũng có thể phản đối hay trì hoãn những việc làm này. Việc chấp nhận bản báo cáo
và thực thi cũng có thể bị ngăn chặn ở mọi bước bởi sự phản đối kiên quyết của các
bên tranh chấp. Và do vậy có thể gây thiệt hại cho quốc gia bị hại do thời gian giải
quyết tranh chấp kéo dài. Suy cho cùng, GATT vẫn là tổ chức dựa trên sự đồng
thuận và những biện pháp giải quyết tranh chấp chẳng khác gì gợi ý làm thế nào để
giải quyết tranh chấp nhanh chóng hơn. Do vậy, đây được xem là là nhược điểm lớn
nhất trong cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT.

18
- Thứ tư, việc thực thi phán quyết của Hội đồng GATT dễ bị thất bại vì có vô

chế giải quyết tranh chấp của GATT đã được thảo luận tại Vòng đàm phán Uruguay
và một trong những kết quả của Vòng đàm phán này là sự ra đời của của Tổ chức
thương mại thế giới và cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới.
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được thành lập ngày 1/1/1995 theo
Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại thế giới. WTO là một thiết chế
liên Chính phủ quy định cơ sở pháp lý và tổ chức cho việc thực hiện nghĩa vụ điều
chỉnh và thi hành pháp luật thương mại quốc tế của các thành viên. Tổ chức này
được xem là nền tảng cho sự phát triển quan hệ thương mại giữa các quốc gia thông
qua thảo luận, đàm phán và giải quyết các vấn đề có liên quan đến thương mại quốc
tế.
Sau khi kết thúc Vòng đàm phán Uruguay ngày 15/12/1993, các quan chức
cấp Bộ trưởng đại diện cho những nước tham gia đàm phán đã ký kết Văn kiện cuối
cùng tại cuộc họp ở Marrakesh, Marocco ngày 14/4/1994 (Tuyên bố Marrakesh).
Tuyên bố này khẳng định kết quả của Vòng đàm phán Uruguay trong khuôn khổ
của GATT là “tăng cường nền kinh tế thế giới, thúc đẩy phát triển trong các lĩnh
vực thương mại, đầu tư, việc làm và thu nhập trên phạm vi toàn thế giới”. Có thể
nói WTO là tổ chức kế thừa của GATT và là hiện thân các kết quả của vòng đàm
phán Uruguay. Cơ cấu tổ chức và các nguyên tắc của GATT tiếp tục được thể hiện
lại trong các qui định của WTO. Các lĩnh vực trước đây GATT chỉ khuyến cáo đã
được WTO chuyển hoá thành quy định, đó là những lĩnh vực về: các biện pháp đầu
tư liên quan đến thương mại, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, dịch vụ.
Cùng với việc thành lập WTO, thông qua các Hiệp định quan trọng cho việc
thành lập và tổ chức hoạt động của WTO, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
cũng đã được kế thừa và phát triển. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO không
chỉ bao gồm Điều XXII và XXIII của GATT mà còn có cả Thoả thuận về các Quy
tắc và Thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp - DSU (Dispute Settlement
Understanding). DSU được thông qua và có hiệu lực thi hành từ tháng 12 năm
1996, gồm 27 điều và 4 phụ lục. Ngoài ra, trong các tranh chấp liên quan đến một
số vấn đề thương mại cụ thể, còn có các hiệp định đặc biệt hay bổ sung được quy



21
Từ những phân tích trên, có thể hiểu cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
là tổng hợp các quy định pháp lý của WTO về cơ quan giải quyết tranh chấp, các
nguyên tắc giải quyết tranh chấp, các quy định về thủ tục, trình tự giải quyết
tranh chấp và thi hành phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp.
Như vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO bao gồm các yếu tố sau:
Thứ nhất, Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO để tiến hành xem xét, xử
lý và đưa ra quyết định giải quyết tranh chấp.
Thứ hai, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp của WTO. Đó là những quy
định có tính cơ bản, quan trọng làm cơ sở, căn cứ cho việc đề ra các quy định cụ thể
về giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các nước thành viên của WTO.
Thứ ba, các quy định của WTO về phương pháp, quy trình, thủ tục tiến hành
giải quyết tranh chấp và bảo đảm thi hành phán quyết của cơ quan giải quyết tranh
chấp (những quy định này được ghi nhận trong DSU).
Đồng thời, dựa vào trạng thái vận động của các yếu tố nêu trên, có thể hiểu
cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO gồm yếu tố tĩnh và yếu tố động. Yếu tố tĩnh
bao gồm Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO và các cơ quan trực thuộc như
Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp. Yếu tố
động là các quy định về quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp do WTO đề ra, chủ
yếu được quy định trong DSU.
1.2. CƠ QUAN VÀ NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC
THƢƠNG MẠI THẾ GIỚI
1.2.1. Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
1.2.1.1. Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB)
Đóng vai trò trung tâm của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là Cơ
quan giải quyết tranh chấp (DSB), Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm.
WTO không thành lập một cơ quan giải quyết tranh chấp hoàn toàn độc lập
và tách rời khỏi cơ cấu tổ chức chung của WTO. Điều IV.3 - Hiệp định WTO quy
định về cơ cấu của WTO như sau: "Khi cần thiết Hội đồng chung sẽ được triệu tập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status