Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25


Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ……………… ……………………………………………… 3
CHƢƠNG 1: CHÍNH QUYỀN XÃ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH
QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG Ở NƢỚC TA 8
1.1. Khái niệm chính quyền địa phƣơng 8
1.2. Vị trí, vai trò của chính quyền xã. 10
1.2.1. Vị trí, vai trò của chính quyền xã trong lịch sử Việt nam. 10
1.2.2. Vị trí, vai trò của chính quyền xã trong hệ thống chính quyền
địa phương hiện nay. 21
1.3. Đặc điểm và xu hƣớng biến đổi của chính quyền xã 25
1.3.1 Đặc điểm của chính quyền xã. 25
1.3.2. Xu hướng biến đổi của chính quyền xã 30
1.4. Tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền xã. 33
1.4.1 Tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã. 33
1.4.2 Tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân xã. 41
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
CHÍNH QUYỀN XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. 49
2.1. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân xã. 49
2.1.1. Tổ chức 49
2.1.2. Về hoạt động của Hội đồng nhân dân. 51
2.2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã 54
2.2.1. Về tổ chức 54
2.2.2 Về hoạt động. 57
2.3. Thực trạng đội ngũ cán bộ xã. 63
Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo được
triển khai trên quy mô toàn xã hội thì việc đổi mới, kiện toàn lại bộ máy nhà
nước, trong đó có chính quyền cấp xã là điều tất yếu khách quan.
Những bước tiến về đổi mới kinh tế cũng như yêu cầu phát huy nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có những đổi mới tương ứng của hệ thống
chính trị, của pháp luật, của tổ chức bộ máy nhà nước và phương thức hoạt
động của nó. Vấn đề này, C. Mác đã viết: “… Cơ sở kinh tế bị thay đổi thì tất
cả cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” [5,
tr. 631]. Như vậy, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa và
khoa học công nghệ, phong tục, tập quán và những biến đổi trên đều là những
nhân tố tất yếu tác động đến Nhà nước, đến cơ cấu tổ chức, phương tiện hoạt
động và vai trò của Nhà nước nói chung và của chính quyền xã nói riêng
trong đời sống ở nông thôn- nơi đang chứa đựng những mâu thuẫn giữa cái cũ
và cái mới, cái hoàn thiện và chưa hoàn thiện, cái tiến bộ của thời đại với cái
trì trệ, bảo thủ của truyền thống…
Cấp xã là cấp cơ sở điển hình và phổ biến ở nước ta. Dân số Việt nam
có gần 80 triệu người thì đã có gần 60 triệu người với trên 12 triệu hộ gia đình
đang sinh sống ở nông thôn. Địa bàn nông thôn rộng lớn đang chứa đựng 80%
dân cư và 70% sức lao động của toàn xã hội. Đó là cơ sở xã hội mà vai trò và
tác dụng của nó quan trọng đến mức quyết định sự ổn định và phát triển của
cả xã hội trong tiến trình đổi mới hiện nay cũng như mai sau. Chính quyền là
mắt khâu xung yếu trong đổi mới hệ thống chính trị ở xã, cũng đồng thời là
bộ phận trung tâm, cần có những biến đổi căn bản nhất trong hệ thống chính

nước. Đó cũng chính là đòi hỏi vừa khách quan vừa cấp thiết, vừa cơ bản
không thể trì hoãn đối với chính quyền xã trong giai đoạn hiện nay.
Việc kế thừa, phát huy những di sản lịch sử trong tổ chức bộ máy quản
lý nông thôn là một yêu cầu được đặt ra. Trong lịch sử, các Nhà nước ban đầu
đều bảo tồn công xã và dựa vào công xã để quản lý xã hội. Nhà nước trung

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

5
ương tập quyền càng phát triển thì quyền tự trị của công xã càng bị thu hẹp và
diễn ra mối quan hệ vừa đấu tranh vừa thỏa hiệp phức tạp giữa “phép vua”
với “lệ làng”. Nhà nước giải quyết mối quan hệ theo hướng biến công xã
thành đơn vị hành chính cơ sở của Nhà nước và thiết lập ở đó cơ quan cai trị
với tổ chức gọn nhẹ, đơn giản, tuyển chọn từ trong dân nhằm bảo đảm sự cai
trị tập trung thống nhất của Nhà nước trung ương nhưng vẫn giao và tôn trọng
quyền tự quản của nhân dân làng xã. Đây là những kinh nghiệm rất đáng lưu
ý cần phải được chọn lọc, kế thừa trong quá trình nghiên cứu để tổ chức lại cơ
quan quản lý Nhà nước ở cơ sở hiện nay.
Xuất phát từ những tình huống có vấn đề ở chính quyền cấp xã hiện
nay, đặt ra nhu cầu bức thiết cần phải đổi mới. Sau sự kiện Thái Bình, Tây
Nguyên và nhiều địa phương khác, lần đầu tiên, Đảng đã ra một nghị quyết
riêng về đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường,
thị trấn, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới chính quyền cấp xã.
2. Tình hình nghiên cứu
Chính quyền xã có một vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống chính
quyền địa phương. Tuy nhiên, điểm lại quá trình xây dựng và phát triển bộ
máy Nhà nước ta trong các giai đoạn đổi mới, cải cách, so với các bộ phận

dân ở mỗi cấp (1996). Luật mới chưa có sự thay đổi đáng kể về tính chất,
chức năng của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (đặc biệt là ở cấp cơ
sở) mà chỉ là những điều chỉnh về nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cấp chính
quyền. Sự điều chỉnh này chưa đáp ứng được những yêu cầu thực tế đang đặt
ra. Do vậy, nghiên cứu những giải pháp để đổi mới tổ chức và hoạt động của
chính quyền xã vẫn đang là một vấn đề mở, có tính thời sự.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và thực trạng
hoạt động của chính quyền xã ở Việt nam hiện nay để xác định rõ yêu cầu bức
xúc phải củng cố và hoàn thiện bộ máy chính quyền xã từ đó đưa ra những
biện pháp, kiến nghị, đề xuất về phương hướng hoàn thiện.
4. Phạm vi nghiên cứu

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

7
Luận văn đi sâu tìm hiểu về tổ chức và hoạt động của chính quyền xã ở
Việt nam hiện nay. Như vậy, luận văn chỉ dừng lại ở chính quyền xã, đó là
chính quyền cơ sở điển hình và phổ biến ở nước ta hiện nay. Chính quyền xã
chứ không phải là chính quyền cấp xã (cấp cơ sở) vì chính quyền cấp xã bao
gồm cả chính quyền phường và thị trấn. Hơn nữa, đối với phường và thị trấn
có những đặc thù riêng về nguồn gốc hình thành, những nhân tố tác động đến
tổ chức và hoạt động nên luận văn không đề cập đến.
5. Đóng góp của luận văn:
- Xác định rõ vị trí, vai trò của chính quyền xã trong hệ thống chính
quyền địa phương, tìm ra những ưu điểm, hạn chế của bộ máy chính quyền xã
qua từng giai đoạn lịch sử ở nước ta.

Từ khi nhà nước ra đời, có sự phân chia lãnh thổ thì việc tổ chức quyền
lực nhà nước là một vấn đề hết sức phức tạp. Trên thực tế, các cơ quan nhà
nước ở Trung ương thường không thể nào trực tiếp quản lý tất cả các việc trên
phạm vi lãnh thổ quốc gia mình. Do đó, để thực hiện chức năng cai trị của
mình và để thuận tiện hơn trong việc thực hiện các quyết định của cơ quan
cấp trên và trung ương, nhà nước trung ương tiến hành phân chia theo vùng
trên toàn bộ lãnh thổ. Như vậy, quyền lực nhà nước không chỉ được tổ chức
thực hiện ở cấp trung ương mà còn được tổ chức thực hiện trên từng vùng
lãnh thổ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Việc tổ chức và thực hiện quyền lực trong phạm vi lãnh thổ phân chia
tùy thuộc vào bản chất của mỗi một nhà nước. Trong nhà nước xã hội chủ
nghĩa, với bản chất là nhà nước của dân, do dân và vì dân nên việc tổ chức
thực hiện quyền lực nhà nước trên từng vùng lãnh thổ địa phương còn nhằm
mục đích chính là tổ chức cho nhân dân trên các vùng lãnh thổ khác nhau của
đất nước thực hiện quyền làm chủ của mình trong việc quản lý đất nước.
Hơn nữa, nhu cầu phải tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trong
từng phạm vi lãnh thổ còn phụ thuộc vào những yếu tố có tính khách quan
như: vị trí địa lý, dân cư, phong tục tập quán của mỗi vùng. Và để thực hiện

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

9
thành công quyền lực của mình, các nhà nước bóc lột, nhà nước phong kiến
đều phải tổ chức ra các cơ quan đại diện của mình thực hiện quyền lực nhà
nước trên phạm vi vùng và lãnh thổ đó.
Từ đó xuất hiện khái niệm “chính quyền địa phương”. Cơ cấu tổ chức
bộ máy nhà nước cũng như cơ cấu tổ chức hệ thống chính quyền địa phương

trấn áp thì ở Nhà nước ta việc phân chia địa giới hành chính nhắm mục đích
quản lý và tổ chức đời sống dân cư thông qua vai trò của cơ quan quyền lực
địa phương do nhân dân địa phương bầu ra, góp phần thực hiện dân giầu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Theo quy định tại điều 118 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 thì các đơn
vị hành chính của nước Việt nam được tổ chức thành 3 cấp như sau:
- Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là
cấp tỉnh).
- Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; Thành phố
trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã (gọi chung là cấp
huyện).
- Huyện chia thành xã, thị trấn; Thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia
thành phường và xã; Quận chia thành phường (gọi chung là cấp xã).
1.2 Vị trí, vai trò của chính quyền xã
1.2.1. Vị trí, vai trò của chính quyền xã trong lịch sử Việt nam
Chính quyền xã thời phong kiến:
Theo các nhà sử học thì hình mẫu làng, xã Việt nam đã xuất hiện ít nhất
là từ thế kỷ VII, được tồn tại và lưu truyền đến ngày nay. Xã được hình thành
bởi sự tác động của nhà nước phong kiến nhằm thiết lập các đơn vị hành
chính.
Thế kỷ X, khi Khúc Thừa Dụ lên ngôi, họ Khúc đã tổ chức xã thành các
đơn vị hành chính cơ bản trong hệ thống tổ chức hành chính Việt nam. Nhân
viên hành chính xã do Khúc Thừa Dụ bổ nhiệm. Ở xã có chánh lệnh trưởng
và tá lệnh trưởng để trong coi nhân lực giữ việc đánh thuế.

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

12
rất nặng nề, nhưng lý trưởng không được xếp vào hàng quan lại triều đình và
triều đình chỉ biết đến lý trưởng và khoán trắng cho lý trưởng, thông qua lý
trưởng để quản lý làng, xã.
Từ những thông tin còn rất tản mạn, ít ỏi trên về tổ chức chính quyền
làng xã thời trung đại cho thấy:
- Sự tồn tại của tổ chức chính quyền cơ sở là một nhu cầu thiết yếu
được các nhà nước phong kiến quan tâm nhằm củng cố bộ máy nhà nước
quân chủ trung ương tập quyền.
- Tổ chức chính quyền cấp cơ sở gọn nhẹ, chọn đặt từ trong dân,
không nằm trong hệ thống quan chức của triều đình (từ thời Trần).
- Chính quyền cấp cơ sở có tư cách pháp nhân, có triện gỗ, người đứng
đầu chính quyền xã là người có học vị. Việc quản lý làng xã tập trung vào
một đầu mối thể hiện qua các chức danh.
- Về chức năng, quyền hạn chỉ giới hạn trong phạm vi xã, đôn đốc
thực hiện nhiệm vụ, thuế khóa, binh dịch… theo pháp luật, dưới sự kiểm tra,
giám sát của phủ, huyện.
- Có thưởng, phạt
- Xã không những có nền hành chính riêng biệt, có tính cách tự trị mà
còn có tài sản riêng biệt. Nhưng sự tự trị vẫn nằm trong sự cai quản trực thuộc
của triều đình.
Chính quyền xã thời Pháp thuộc
Sau khi người Pháp xâm chiếm nước ta, họ nhận thấy tổ chức làng xã
Việt nam phù hợp với yêu cầu thống trị của họ. Viên toàn quyền Đông Dương
Pier Pasquie đã nhận định về cấp xã khi thực dân Pháp cai trị nước ta vào cuối

quyền thực dân chính thức can thiệp một cách quy mô. Nhìn chung, việc quản
trị cấp xã được giao cho tổ chức mang tên là Hội đồng kỳ mục- đây là cơ
quan quyết nghị của xã. Để giải quyết công việc hàng ngày của xã, Hội đồng
kỳ mục giao cho Ủy ban thường trực của Hội đồng kỳ mục. Ủy ban thường
trực Hội đồng kỳ mục ngoài Lý trưởng và phó Lý trưởng gồm có 5 chức dịch
khác gọi là ngũ hương gồm: Hương bộ, Hương bản, Hương kiếm, Hương
mục, Hương dịch.

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

14
Những đặc điểm của xã trong thời kỳ này là:
- Xã vẫn được duy trì, tồn tại với tư cách là đơn vị hành chính cơ bản.
Thông qua bộ máy chính quyền xã nhất là vai trò của lý trưởng, xã trưởng mà
chính quyền thuộc địa xâm nhập vào cơ chế quản lý và hoạt động của xã,
thôn. Lý trưởng, xã trưởng đều do chính quyền thuộc địa lựa chọn và tạo chỗ
đứng vững chắc cho các nhân vật này trong bộ máy quản lý cấp xã. Lý
trưởng, xã trưởng có quyền bàn bạc, quyết định mọi vấn đề của xã. Ngoài ra,
nhiệm vụ này còn được quyết định rõ ràng và rộng hơn trước.
- Đứng đầu chính quyền xã là giai cấp địa chủ, phong kiến đã được
chính quyền thuộc địa “tân học hóa” lên địa vị thống trị độc tôn trên khắp
miền nông thôn nước ta. Điền sản trở thành thước đo giá trị chủ yếu của
những người đứng đầu chính quyền xã.
Chính quyền xã dƣới chế độ Việt Nam cộng hòa Miền nam Việt
Nam (1954- 1975)
Chế độ hành chính ở Miền nam Việt Nam sau năm 1954 được ấn định
trong bản Hiến pháp do chính quyền cũ của Sài Gòn thông qua ngày 26-10-

nhưng các chánh và phó thư ký lại do tỉnh trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của
quận trưởng. Chủ tịch xã có thể bị tỉnh trưởng bãi nhiệm theo đề nghị của
quận trưởng.
Từ chủ tịch Ủy ban hành chính xã đến thư ký ủy ban đều được hưởng
thù lao hàng tháng và các quyền lợi như viện phí, tử tuất…
Đối với việc bầu cử Hội đồng nhân dân xã, quận trưởng quyết định
danh sách cử tri và kết quả bầu cử phải được tỉnh trưởng phê duyệt. Ngoài ra,
tỉnh trưởng có quyền giải nhiệm ủy viên nếu thấy cần thiết.
Dưới xã là ấp. Mỗi ấp có một ban trị sự gồm 1 trưởng ấp, 1 phụ tá an
ninh, 1 phụ tá tuyên vận. Ấp trên 3000 dân có thêm 1 phó trưởng ấp. Trưởng
ấp, phó trưởng ấp đều do dân bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 3 năm. Cách thiết lập
ấp năm 1963 để thực hiện chính sách “cải cách hành chính” của chính quyền
trung ương Sài Gòn đã gây sự xáo trộn trong cơ cấu làng xã cổ truyền Việt
Nam. Đến đâu chúng cũng tổ chức rào làng, kiểm tra, phân loại quần chúng,
xây dựng lực lượng vũ trang tại chỗ. Vì vậy, đã gây nên sự biến động dữ dội,

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

16
làm mất tính ổn định vốn có của làng xã cổ truyền. Chính điều đó đã làm cho
chính quyền Sài Gòn gặp khó khăn trong việc quản lý hành chính địa phương
và có xu hướng muốn khôi phục lại các chức dịch ở nông thôn để làm chỗ dựa
cho việc thực thi chính sách của mình. Tuy nhiên, chính sách đó cuối cùng
cũng thất bại, nhưng di sản của việc đảo lộn tổ chức ở nông thôn là khá nặng
nề và trong thời kỳ mới, để xây dựng lại nông thôn Việt Nam, chúng ta không
thể không tính đến một cách đầy đủ.
Một số đặc điểm của chính quyền xã thời kỳ này:

gồm 3 bộ (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ). Mỗi Bộ chia thành tỉnh, tỉnh chia
thành huyện, huyện chia thành xã. Ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có Hội đồng
nhân dân do phổ thông đầu phiếu và trực tiếp bầu ra. Hội đồng nhân dân cử ra
Ủy ban hành chính. Hội đồng nhân dân quyết định những vấn đề thuộc địa
phương mình. Ủy ban hành chính có trách nhiệm thi hành mệnh lệnh của cấp
trên và các nghị quyết của Hội đồng nhân dân địa phương cùng cấp sau khi
được cấp trên chuẩn y và chỉ huy công việc hành chính của địa phương mình.
Ủy ban hành chính được tổ chức theo cơ chế Ủy ban nhưng trong thực tiễn
hoạt động quản lý thời gian này cho thấy vị trí, vai trò của chức danh chủ tịch
Ủy ban hành chính xã nổi lên rất rõ so với các giai đoạn sau. Chế độ trách
nhiệm tập thể của Ủy ban hành chính xã trước Hội đồng nhân dân xã và Ủy
ban hành chính cấp trên được quy định chặt chẽ trong Sắc lệnh 63/SL, đó là
cơ chế phúc quyết (trình tự bỏ phiếu không tín nhiệm) của Hội đồng nhân dân
xã đối với Ủy ban hành chính xã.
Có thể nói, những nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính quyền địa phương được quy định trong Hiến pháp 1946 thể hiện tinh
thần dân chủ và tiến bộ của nhà nước ta. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh
nên những quy định này chưa được áp dụng trong thực tế. Cuối năm 1946, hệ
thống tổ chức hành chính nước ta được sắp xếp lại. Cả nước chia thành 12
khu hành chính quân sự. Cơ quan chính quyền địa phương được gọi là Ủy ban
kháng chiến hành chính. Do tình hình chiến sự lan rộng và phức tạp, hoạt
động của chính quyền cơ sở tổ chức phải linh hoạt và năng động, đáp ứng
được đòi hỏi của tình hình lúc bấy giờ.

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

18


Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

19
quyết định những vấn đề thuộc về địa phương mình nhưng không được trái
với chỉ thị của cấp trên. Mặt khác, nguyên tắc này còn thể hiện quyền làm chủ
của nhân dân trong việc lựa chọn những đại biểu xứng đáng cho mình trong
bộ máy chính quyền xã.
- Do hoàn cảnh chiến tranh, nên hệ thống chính quyền địa phương các
cấp nhất là cấp cơ sở cũng trở nên vô cùng đa dạng, năng động và sáng tạo
chứ không thể cứng nhắc, đơn giản trong những khuôn khổ và nguyên tắc cố
định. Mặt khác, chính quyền xã còn được sự hỗ trợ của các tổ chức quần
chúng như Hội Nông dân, Hội mẹ chiến sỹ, Hội phụ lão. Vì vậy, chính quyền
xã trở thành công cụ sắc bén để chống lại kẻ thù, động viên tổ chức nhân dân
kháng chiến thắng lợi.
- Về nguyên tắc đã phân định rõ chức năng và tổ chức bộ máy Ủy ban
hành chính, trong đó nhân sự của Ủy ban hành chính được bầu từ Hội đồng
nhân dân. Ủy ban hành chính chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng
cấp. Qua đó nhằm xác định vai trò quyết định của cơ quan dân cử ở chính
quyền xã.
Chế độ bầu cử Hội đồng nhân dân không theo quy định về thời gian và
tổ chức Ủy ban hành chính được thành lập ở nhiều nơi do cấp trên chỉ định.
Chủ trương giải tán Hội đồng nhân dân, triệu tập hội nghị đại biểu nông dân
thể hiện tính chất thiếu tôn trọng nguyên tắc pháp quyền của nhà nước dân
chủ nhân dân. Những khiếm khuyết trên đã dẫn đến sự khủng hoảng, suy yếu
của chính quyền cấp xã trong một thời gian dài sau sửa sai.
Giai đoạn 1959-1980:
Đây là thời kỳ nhân dân bắt tay vào khôi phục và xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Chủ trương củng cố, kiện toàn toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó có
bộ máy quyền lực cấp xã được thể hiện rõ ràng trong bản Hiến pháp năm

Giai đoạn 1980- 1992:
Ở địa phương, Ủy ban hành chính được đổi thành Ủy ban nhân dân, ở
xã là Ủy ban nhân dân xã. So với Hiến pháp năm 1959, cơ quan quản lý nhà
nước ở cơ sở chỉ khác nhau về tên gọi còn tổ chức pháp lý, vị trí và vai trò
vẫn giữ nguyên như trước. Bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện khoán 10,

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

21
nông thôn đã có những bước thay đổi toàn diện. Điều này ảnh hưởng mạnh
mẽ đến vị trí, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã đẫn đến chính
quyền cấp xã lúng túng về phương thức hoạt động.
Một số đặc trưng:
- Trong giai đoạn này, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân
tiếp tục được mở rộng và quy định cụ thể hơn. Ví dụ: Hội đồng nhân dân
quyết định các vấn đề về sản xuất, phân phối, lưu thông…
- Giai đoạn đầu của thời kỳ này, vai trò của chính quyền xã mờ nhạt
do việc đề cao chính quyền cấp huyện. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân đóng vai trò là người thực hiện các quyết định của Ban chủ nhiệm hợp tác
xã và Đảng ủy xã.
1.2.2. Vị trí, vai trò của chính quyền xã trong hệ thống chính quyền địa
phƣơng hiện nay
Chính quyền xã là một đơn vị hành chính trong hệ thống 4 cấp hành
chính, tổ chức mang tính quyền lực nhà nước có quyền hạn và nhiệm vụ quản
lý các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng ở đơn vị hành chính
xã.
Theo Điều 118 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) thì các đơn vị hành chính

Nhân dân không chỉ làm chủ trên phạm vi cả nước, thông qua Quốc hội là cơ
quan quyền lực Nhà nước cao nhất mà còn làm chủ tại làng, xã của mình theo
quy định của pháp luật. Do vậy, chính quyền xã còn đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, là công cụ chủ yếu để thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở.
Chính quyền xã do nhân dân địa phương thiết lập có quyền quyết định
những vấn đề của địa phương, có ngân sách riêng, có đội ngũ cán bộ thực
hiện công vụ, có quyền tạo lập và phát mại tài sản riêng, có thiết chế dân chủ,
có năng lực pháp lý và đủ những điều kiện để quản lý các công việc của địa
phương mình và có sự giám hộ của cơ quan chính quyền cấp trên. Như vậy,
chính quyền cơ sở là một tổ chức chính trị có tư cách pháp nhân. Mặc dù,
hình thức tổ chức hành chính phân quyền cấp cơ sở ở mỗi giai đoạn có nội
dung, mức độ khác nhau, nhưng đó là định hướng nhất quán trong suốt hơn

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

23
50 năm qua, thể hiện rõ nét trong Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và
1992 (sửa đổi). Cách tổ chức nền hành chính phân quyền có những mặt hạn
chế là những quyền lợi chung của quốc gia ít được quan tâm, vì quan chức địa
phương do nhân dân địa phương bầu ra và chịu áp lực trước nhân dân địa
phương. Song, mặt khác lại bớt đi gánh nặng và sự can thiệp quá sâu của các
cơ quan nhà nước ở Trung ương vào các công việc riêng của địa phương. Tuy
các cơ quan nhà nước cấp trên giao quyền tự quản cho chính quyền cơ sở,
nhưng các cơ quan cấp trên vẫn có các thẩm quyền quyết định (phê chuẩn,
thanh tra, hủy bỏ, đình chỉ hoạt động hoặc giải tán, điều động, cách chức).
Nhưng mặt khác, nếu cơ quan hành chính cấp trên có sai lầm, chính quyền cơ

thành tiền đề đầu tiên, là điều kiện tiên quyết.
Hai là, hệ thống chính quyền xã là hệ thống quyền lực có địa bàn rộng
lớn nhất, trực tiếp với cuộc sống nhân dân nhất. Trong hệ thống chính trị nói
chung và hệ thống chính trị ở cơ sở nói riêng, bộ máy chính quyền là lớn nhất,
quyền hạn hợp pháp nhất, phổ quát nhất. Quyền lực đó vừa xuất phát từ nhân
dân sở tại vừa xuất phát từ Nhà nước. Chính quyền cơ sở (xã) vừa đại diện
cho quyền lực nhân dân trong địa bàn, được nhân dân bầu ra, thực hiện ý chí
chung của nhân dân trong địa bàn; đồng thời cũng thay mặt quyền lực Nhà
nước ở địa phương. Quyền lực của chính quyền xã biểu hiện ở quyền đưa ra
những quy định, quyết định, cưỡng chế thực hiện những quy định, quyết định
đó.
Ba là, tất cả các tổ chức quyền lực nhà nước cấp trên, cuối cùng đều
phải thông qua vai trò của hệ thống chính quyền cấp xã, và nếu không có
chính quyền xã vững mạnh, các tổ chức chính quyền cấp trên cũng không thể
phát huy tác dụng.
Bốn là, muốn dân gắn với Đảng, với Nhà nước, mọi quan hệ của dân
với Nhà nước trước hết và trực tiếp thông qua quan hệ của dân với chính
quyền xã. Tạo lập lòng tin của dân với Đảng, Nhà nước trước hết cũng thực
hiện thông qua quan hệ giữa nhân dân địa phương với chính quyền xã. Lòng

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã

25
tin của dân với chính quyền xã phải được thông qua giải quyết những nội
dung rất cụ thể, trực tiếp và hàng ngày với dân.
Năm là, sức mạnh của chính quyền xã là ở nơi dân, vừa quy tụ được
lòng dân, phát huy tình đoàn kết, truyền thống, tinh thần làm chủ của nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status