MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa đang là vấn đề nổi bật của thế giới hiện nay.
Những thành tựu mà các tổ chức, liên minh trước đó (WTO, EU, NAFTA) đã thúc đẩy
mạnh mẽ tiến trình liên minh, liên kết giữa các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế
giới. Việc ra đời Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng không nằm ngoài xu
hướng tất yếu đó. Hợp tác kinh tế - thương mại là nội dung quan trọng nhất và cũng là mục
tiêu mà ngay từ khi thành lập các thành viên ASEAN hướng tới. Hợp tác kinh tế - thương
mại ASEAN trong giai đoạn hiện nay gồm những nội dung nào? Và là một thành viên
của tổ chức này Việt Nam đã tham gia hợp tác kinh tế thương mại ra sao? Bài tiểu luận
dưới đây sẽ giải đáp những nội dung trên.
NỘI DUNG
I. Tổng quan về ASEAN
1. Quá trình hình thành và phát triển.
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn
hóa - xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Tổ chức này được thành lập trên
cơ sở Tuyên bố Băng Cốc ngày 8/8/1967 của Hội nghị ngoại trưởng năm nước thuộc khu
vực Đông Nam Á là Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philippine và Indonesia. Từ năm nước
thành viên ban đầu, đến nay ASEAN đã có mười quốc gia thành viên, bao gồm thêm năm
thành viên mới gia nhập là Bruney (1984), Việt Nam (1995), Lào (1997), Myanma (1997)
và Campuchia (1999).
1
Trụ sở của ASEAN đặt tại Jakarta, Indonesia. ASEAN có tổng diện tích vào khoảng
4,43 triệu km
2
, dân số gần 595 triệu người và tổng thu nhập quốc dân của các nước năm
2009 đạt đạt 1.492 tỷ USD.
2. Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động.
Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của ASEAN được quy định tại Hiến chương
ASEAN, nhìn chung hoạt động của ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu chủ yếu sau:
- Duy trì và tăng cường hòa bình, an ninh và ổn định cũng như sự vững chắc của
thách thức lớn không dễ vượt qua nếu không có sự liên kết chặt chẽ hơn và những nỗ lực
chung của toàn Hiệp hội. Để đối phó với tình hình đó, năm 1992, theo sáng kiến của Thái
lan, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN họp tại Xingapo đã quyết định thành lập Khu vực Mậu
dịch Tự do ASEAN ( gọi tắt là AFTA).
AFTA là bước ngoặt về mặt pháp lý khu vực trong hợp tác kinh tế ASEAN, nâng hợp
tác kinh tế ASEAN lên một tầm cao mới, vượt xa thỏa thuận về PTA. AFTA hướng tới
mục tiêu tự do hóa thương mại trong nội bộ bằng cách loại bỏ tất cả các hàng rào thuế quan
và phi thuế quan, tạo ra một thị trường thống nhất nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
vào thị trường khu vực, thúc đẩy phân công lao động trong nội khối ASEAN và phát huy
lợi thế so sánh của từng nước.
AFTA được thi hành dựa trên Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung
(Common Effective Preferential Tariff), gọi tắt là CEPT cũng được ký kết vào năm 1992.
Đây là một thoả thuận chung giữa các nước thành viên ASEAN về giảm thuế quan trong
nội bộ ASEAN xuống còn từ 0 - 5%, đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và
các hàng rào phi thuế quan. Nói đến vấn đề xây dựng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN là
nói tới việc thực hiện Hiệp định chung về thuế quan và phải hoàn thành 3 vấn đề chủ yếu,
không tách rời dưới đây:
Thứ nhất là vấn đề giảm thuế quan: Mục tiêu cuối cùng của AFTA là giảm thuế quan
xuống 0-5%, theo từng thời điểm đối với các nước cũ và các nước mới, nhưng thời hạn tối
đa là trong vòng 10 năm.
Thứ hai là vấn đề loại bỏ hàng rào phi quan thuế (NTB) : Các hàng rào phi thuế quan
bao gồm các hạn chế về số lượng (như hạn ngạch, giấy phép, ) và các hàng rào phi thuế
1
Xem: />quan khác (như các khoản phụ thu, các quy định về tiêu chuẩn chất lượng, ) Các hạn chế
về số lượng có thể được xác định một cách dễ dàng và do đó, được quy định loại bỏ ngay
đối với các mặt hàng trong Chương trình CEPT được hưởng nhượng bộ từ các nước thành
viên khác.
Thứ ba là hài hoà các thủ tục Hải quan, thể hiện qua các nội dung: Thống nhất biểu
thuế quan; thống nhất hệ thống tính giá hải quan; xây dựng Hệ thống Luồng xanh hải quan
và thống nhất thủ tục hải quan.
hệ đối tác trong phát triển năng động và trong một cộng đồng xã hội đùm bọc lẫn nhau”.
Như vậy, ý tưởng về một Cộng đồng ASEAN đã được hình thành cùng Tuyên bố tầm nhìn
ASEAN 2020. Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là một trong 3 mục tiêu của Cộng đồng
ASEAN. AEC là mục tiêu liên kết kinh tế khu vực cuối cùng của ASEAN trong “tầm nhìn
ASEAN 2020” và theo dự kiến sẽ thành lập vào năm 2015 (Tuyên bố Cebu về việc đẩy
nhanh thành lập AEC).
Mục tiêu cụ thể của việc xây dựng AEC là:
- AEC – một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất.
- AEC – một khu vực kinh tế cạnh tranh cao.
- AEC – một khu vực phát triển kinh tế đồng đều.
- AEC – một khu vực hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu.
AEC được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển những nội dung cơ bản, trụ cột về
hợp tác kinh tế trong khuôn khổ ASEAN. Nội dung hợp tác chủ yếu trong khuôn khổ Cộng
đồng kinh tế ASEAN gồm:
4.1 Tự do hóa thương mại hàng hóa.
Nội dung của tự do hóa thương mại hàng hóa chính là hoàn thành Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN (AFTA). Thông qua AFTA, ASEAN đã và đang đạt được tiến bộ đáng kể trong
việc xóa bỏ thuế quan. Tuy nhiên, tự do di chuyển hàng hóa cũng đòi hỏi không chỉ thuế
suất bằng 0 mà còn phải xóa bỏ những hàng rào phi thuế quan. Năm 2009. Hội nghị cấp
cao ASEAN lần thứ 14 tại Thái Lan đã thông qua Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN
(ATIGA) để thay thế CEPT và đã có hiệu lực từ 17/5/2010. Mục tiêu của Hiệp định này là
đạt được sự lưu chuyển tự do của hàng hóa trong ASEAN như một trong những công cụ
chính để xây dựng thị trường và cơ sở sản xuất chung hướng tới hội nhập kinh tế sâu sắc
hơn trong khu vực và hướng tới thực hiện Cộng đồng kinh tế ASEAN năm 2015.
4.2 Tự do hóa thương mại dịch vụ và tự do di chuyển lao động lành nghề.
Tự do lưu chuyển thương mại dịch vụ là một trong những yếu tố quan trọng để hiện
thực hóa AEC. Nội dung của tự do di chuyển một số lĩnh vực dịch vụ tiến tới hình thành
AEC là hoàn thành Hiệp định khung ASEAN về thương mại dịch vụ (AFAS). Để hỗ trợ
cho việc thực hiện AFAS, một nội dung quan trọng đã được bổ dung là tự do di chuyển lao
động có tay nghề. Nội dung này được thực hiện thông qua việc tạo thuận lợi hơn trong cấp
- Chương trình hợp tác trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng.
- Chương trình hợp tác trong lĩnh vực Nông, lâm, ngư nghiệp và lương thực.
- Chương trình hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp.
5. ASEAN – Hợp tác kinh tế - thương mại trong khu vực và trên thế giới.
Không chỉ hợp tác sâu và rộng trong nội khối giữa các thành viên ASEAN, mà ASEAN
còn mở rộng hợp tác kinh tế - thương mại với các đối tác khác trong khu vực và trên toàn
thế giới.
- Hợp tác kinh tế ASEAN – Trung Quốc: thông qua việc hình thành khu vực mậu
dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ASEAN-China Free Trade Area (AC - FTA hay CA -
FTA) tại Hội nghị cấp cao ASEAN – Trung Quốc lần thứ V ngày 06/11/2001. Hiệp định
khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc, có hiệu lực ngày
01/07/2003…
- Hợp tác kinh tế ASEAN – Hàn Quốc: ngày 16/05/2006, ASEAN và Hàn Quốc đã
ký Hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Hàn Quốc (AK - FTA) tại
Minila…
- Hợp tác ASEAN – Nhật Bản: ngày 05/11/2002, ASEAN và Nhật Bản ký tuyên bố
chung về quan hệ đối tác kinh tế toàn diện (CEP)…
- Hợp tác ASEAN - Ấn Độ: năm 2003, ASEAN - Ấn Độ ký Hiệp định khung về hợp
tác kinh tế toàn diện tạo cơ sở cho việc thành lập một khu vực thương mại va đầu tư
ASEAN – Ấn Độ (RTIA)…
- Hợp tác ASEAN – Hoa Kỳ: Tháng 8/2006, ASEAN và Hoa Kỳ ký kết Hiệp định về
thuận lợi hóa thương mại và đầu tư (TIFA)…
- Hợp tác ASEAN – EU: Năm 2003, đưa ra Sáng kiến Thương mại Liên khu vực
ASEAN – EU (TREATI), tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại và đầu tư giữa
hai khu vực…
- Hợp tác ASEAN + 3 (Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản)
ASEAN còn hợp tác với những đối tác khác như: Nga, Canada. Australia, Newzealand và
đang triển khai hợp tác với các đối tác khác.
III. Việt Nam trong việc thực hiện hợp tác kinh tế - thương mại ASEAN
Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN ngày 28/7/1995 tại Bru-nây; và lần đầu tiên
tư, tính đến cuối tháng 7/2005, Việt Nam đã tiếp nhận trên 800 dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) từ các nước thành viên khác – trừ Mianma – còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư
đăng ký khoảng 11,3 tỷ USD, trong đó đã thực hiện khoảng trên 5 tỷ USD. Nhìn tổng thể,
trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, đầu tư của ASEAN chiếm hơn 12% về số dự án,
hơn 23% về vốn đăng ký và gần 20% về vốn thực hiện. Hầu hết những dự án này đều phát
huy hiệu quả có lợi cho cả hai phía: nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư.
1
Bốn là, Ngay từ khi AEC còn đang là ý tưởng đến khi được chính thức ghi nhận, Việt
Nam đã thể hiện vai trò tích cực của mình trong việc đàm phán và thông qua Tuyên bố hòa
hợp ASEAN tại Bali, In-do-ne-xia trong đó đã đề ra những định hướng chiến lược quan
trọng cho sự phát triển của ASEAN, hướng tới xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN. Theo
Sáng kiến của Việt Nam, các nước ASEAN sẽ lần lượt tổ chức các diễn đàn thảo luận về
hiệu quả của AEC đối với 12 lĩnh vực ưu tiên hội nhập. Với tư cách là nước điều phối thực
hiện Lộ trình hội nhập nhanh trong lĩnh vực Lô-gis-tics, Việt Nam đã tổ chức thành công
Diễn đàn doanh nghiệp về dịch vụ Lô-gis-tics tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN vào
tháng 8 năm 2010, Diễn đàn về hội nhập ngành điện tử trong ASEAN…
TÓM LẠI, Cộng đồng kinh tế ASEAN đang tạo ra những cơ hội và cả thách thức chưa
có tiền lệ đối với nền kinh tế, doanh nghiệp và người dân nước ta. Nhưng thách thức và cơ
hội luôn vận động, biến đổi rất nhanh trong bối cảnh hội nhập của khu vực. Chỉ với sự
1
Nguồn: Theo thống kê của Bộ kế hoạch và đầu tư năm 2005.
chung sức của cộng động, sự quan tâm thỏa đáng của nhà nước, AEC mới chắc chắn mang
lại lợi ích đối với nền kinh tế Việt Nam.
KẾT LUẬN
Hợp tác kinh tế - thương mại ASEAN trong những năm qua đã đạt được những thành
tựu đáng kể. Là một thành viên của tổ chức, Việt Nam luôn luôn thực hiện tốt các cam kết
cũng như những mục tiêu mà ASEAN đã đề ra. Để thực thi tốt hơn nữa những mục tiêu của
ASEAN, thiết thấy mỗi thành viên của ASEAN cần phải làm tốt hơn nữa vai trò của mình,
mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực hơn nữa để ASEAN trở thành khu vực có nền kinh tế
thị trường đa dạng, năng động và cung cấp toàn cầu.