Hoạt động đầu tư phát triển ở Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, Chi nhánh Đống Đa - Pdf 26

MỤC LỤC
2.5.3. Giải pháp tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ 40
40
2.5.4. Giải pháp về đầu tư cho hoạt động marketing 40
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TMCP: Thương mại cổ phần
TSCĐ: Tài sản cố định
VĐT: Vốn đầu tư
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
HÌNH
Hình 1: Tổng vốn đầu tư vào TSCĐ (2009-2011) Error: Reference source not
found
Hình 2: VĐT phát triển mạng lưới PGD và quĩ tiết kiệm (2009-2011) Error:
Reference source not found
Hình 3: VĐT đổi mới Công nghệ (2009-2011) Error: Reference source not
found
Hình 4: Vốn đầu tư phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2009-2011 Error:
Reference source not found
Hình 5: Vốn đầu tư phát triển sản phẩm, dịch vụ (2009-2011) Error: Reference
source not found
BẢNG
2.5.3. Giải pháp tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ 40
2.5.3. Giải pháp tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ 40
40
40
2.5.4. Giải pháp về đầu tư cho hoạt động marketing 40
2.5.4. Giải pháp về đầu tư cho hoạt động marketing 40
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh

nghiệp (bao gồm cả tín dụng thủ công nghiệp và tín dụng nông nghiệp), tổ kế toán,
tổ thu phát và đại lý tiết kiệm số 03, số 10 và các bàn tiết kiệm. Đến năm 1964 trụ
sở chính được chuyển về số 187 phố Nam Đồng (tức phố Nguyễn Lương Bằng hiện
nay), lúc này cơ cấu tổ chức của Chi điểm đã có phòng kế toán, các tổ nghiệp vụ,
quỹ tiết kiệm trung tâm và các bàn tiết kiệm với tổng số cán bộ công nhân viên lên
đến khoảng 120 người. Từ ngày 1/7/1988 là đơn vị hạch toán phụ thuộc Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam, là chi nhánh loại I có doanh số hoạt động lớn trong
hệ thống Ngân hàng Công thương và trên địa bàn thành phố Hà Nội, có trụ sở chính
tại số 187 Nguyễn Lương Bằng, quận Đống Đa với tổng số 287 cán bộ công nhân
viên, 2 phòng giao dịch tại 2 phường Kim Liên và Cát Linh, với mạng lưới huy
động vốn rộng khắp gồm 15 quỹ tiết kiệm tại 15 phường.
Trong hơn 20 năm thành lập và đổi mới tuy phải đương đầu với nền kinh tế thị
trường hết sức sôi động và cạnh tranh, chi nhánh không tránh khỏi những khó khăn
trở ngại trong lĩnh vực kinh doanh – tiền tệ nhưng bằng ý chí vươn lên từ nội lực
của cán bộ công nhân viên chức, dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Ngân hàng TMCP
Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước thành phố Hà Nội, của các cấp, các
ngành chính quyền địa phương, từng bước chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống
Đa đã lập lại thế chủ động, hòa nhập với cơ chế thị trường mở cửa, nâng cao năng
lực cạnh tranh, đứng vững và ngày càng phát triển, góp phần trong công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế Thủ đô.
2
Trong những năm qua, Chi nhánh liên tục mở rộng về quy mô hoạt động, về tổ
chức bộ máy và mạng lưới, kết quả hoạt động kinh doanh cũng không ngừng tăng
trưởng cho nên chi nhánh ngày càng có uy tín được nhiều bạn hàng đánh giá
cao.Chính vì vậy, đến nay chi nhánh luôn giữ vững là đơn vị kinh doanh xuất sắc
trong hệ thống Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Do những thành tích
xuất sắc trong hoạt động nên chi nhánh đã được Chủ tịch nước tặng thưởng huân
chương lao động hạng ba năm 1995, năm 1998 được tặng thưởng huân chuơng lao
động hạng hai và năm 2002 được tặng thưởng huân chương lao động hạng nhất.
Đặc biệt năm 2003 chi nhánh đã được trao tặng danh hiệu “Anh hùng lao động thời

Á
M
Đ

C
TRƯỞNG
PHÒNG KẾ
TOÁN
CÁC
PHÒNG
CHUYÊN
MÔN
NGHIỆP VỤ
QUĨ TIẾT
KIỆM
TỔ KIỂM
TRA NỘI
BỘ
PHÒNG
GIAO DỊCH
TỔ TÀI
TRỢ
THƯƠNG
MẠI
TỔ THẺ
VÀ DỊCH
VỤ
THƯƠNG
MẠI ĐIỆN
TỬ

Phòng khách hàng số 2 còn bao gồm tổ tài trợ thương mại thực hiện nghiệp
vụ về thanh toán xuất nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh theo quy định
của Ngân hàng Công thương Việt Nam.
 Phòng quản lý rủi ro:
Có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc chi nhánh về công tác quản lý rủi ro
của chi nhánh.Quản lý giám sát thực hiện danh mục cho vay, đầu tư đảm bảo tuân
thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng.Thẩm định hoặc tái thẩm định khách
hàng, dự án, phương án đề nghị cấp tín dụng. Thực hiện chức năng đánh giá, quản
lý rủi ro trong toàn bộ các hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng Công
thương Đống Đa theo chỉ đạo của Ngân hàng Công thương Việt Nam
 Phòng quản lý nợ có vấn đề:
Chịu trách nhiệm về quản lý và xử lý các khoản nợ có vấn đề ( bao gồm các
khoản nợ: cơ cấu lại thời hạn trả nợ, nợ quá hạn, nợ xấu). Quản lý, khai thác và xử
lý tài sản đảm bảo nợ vay theo qui định của Nhà nước nhằm thu hồi các khoản nợ
gốc và tiền lãi vay. Quản lý, theo dõi và thu hồi các khoản nợ đã được xử lý rủi ro.
 Phòng kế toán:
Là các phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng.Các
nghiệp vụ và các công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chỉ tiêu nội bộ
tại chi nhánh.Cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán,
5
xử lí hạch toán các giao dịch. Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao
dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo đúng quy định của
Nhà nước và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.Thực hiện nhiệm vụ tư vấn
cho khách hàng về sử dụng các sản phầm dịch vụ ngân hàng. Trong phòng kế toán
còn có Tổ thẻ và dịch vụ thương mại điện tử thực hiện nhiệm vụ kế toán thẻ và các
dịch vụ thương mại điện tử của chi nhánh.
 Phòng tiền tệ- kho quỹ:
Là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản lý tiền mặt theo quy định
của Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Công thương Việt Nam. Tạm ứng và thu
tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thu chi tiền mặt

huy động
Tiền gửi tiết kiệm dân cư 1,700 44.46 1,640 41.00 2,340 56.39
Tiền gửi doanh nghiệp 2,000 51.95 1,880 47.00 1,500 36.14
Tiền gửi các định chế
tài chính
100 2.60 380 9.50 200 4.82
Kỳ phiếu 50 1.35 30 0.75 50 1.20
Giấy tờ có giá khác 70 1.75 60 1.45
Phân theo kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn 1,250 32.47 850 21.25 650 15.66
TG có kỳ hạn dưới 12
tháng
1,800 46.75 1,950 48.75 2,400 57.83
TG có kỳ hạn trên 12
tháng
800 20.78 1,200 30.00 1,100 26.51
Nguồn: Báo cáo kết quả huy động vốn 2009, 2010, 2011
Chi nhánh Đống Đa, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Có thể thấy tổng vốn huy động tăng liên tục mỗi năm 150 tỷ động trong 3 năm
2009-2011. Tuy lạm phát trong hai năm 2010 và 2011 đều ở mức hai con số, lần
lượt là 11.75% và 18.58% song lượng vốn huy động được vẫn không ngừng tăng
7
lên. Đây là một tín hiệu khả quan trong bối cảnh chung, thông thường khi lạm phát
cao thì lượng tiền huy động được thường có xu hướng giảm nhưng tại Chi nhánh
Đống Đa thì tình hình lại không như thế. Điều này chính tỏ các chính sách huy động
vốn, các biện pháp tăng cường khả năng huy động vốn,… của chi nhánh đã phát
huy tác dụng tích cực mang lại cho chi nhánh một nguồn vốn đáng kể ngay cả khi
nền kinh tế có những dầu hiệu không tốt đẹp. Tỷ trọng huy động bằng Việt Nam
đồng đạt 88.31% năm 2009 nhưng đến 2011 đã giảm xuống còn 87.95% trong khi
đó huy động bằng ngoại tệ lại gia tăng, đạt đỉnh 13% vào năm 2010 trong giai đoạn

Phân theo loại tiền
Việt Nam đồng 950 76.00 1,540 90.59 1,750 87.50
Ngoại tệ (quy đổi) 300 24.00 160 9.41 250 12.50
Phân theo loại hình kinh
tế
DN nhà nước 490 39.20 500 29.41 700 35.00
DN ngoài quốc doanh 720 57.60 1,100 64.71 1,150 57.50
Hộ gia đình và cá thể 40 3.20 100 5.88 150 7.50
Nguồn: Báo cáo kết quả huy động vốn 2009, 2010, 2011
Chi nhánh Đống Đa, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Bảng số liệu trên cho thấy tổng dư nợ của chi nhánh năm 2010 đạt 1,700 tỷ
đồng tăng 450 tỷ so với 2009, so với kế hoạch năm đạt 98% và chi nhánh đã thành
công trong việc khống chế dư nợ theo chỉ đạo của Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam. Dư nợ tăng là do gói kích cầu của chính phủ và chính sách hỗ trợ lãi suất
cho các doanh nghiệp vay vốn. Đến năm 2011 thì tổng dư nợ của chi nhánh tiếp tục
tăng lên thêm 300 tỷ so với năm 2010. Trong ba năm 2009-2011, lượng vốn huy
động được liên tục tăng, thêm vào đó các doanh nghiệp thường xuyên trong tình
trang “khát” vốn làm cho nhu cầu vay vốn tăng lên. Điều này lý giải phần lớn
nguyên nhân tại sao tổng dư nợ của Chi nhánh cũng tăng không ngừng từ năm 2009
đến năm 2011. Nhìn chung thì cho vay bằng Việt Nam đồng vẫn là chủ yếu, chiếm
trên 70% và đối tượng vay chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tuy
nhiên thì khách hàng cá nhân cũng đang tăng lên qua các năm, ngày càng chiếm tỷ
trọng lớn hơn trong cơ cấu cho vay của chi nhánh từ 3.2% năm 2009 lên 7.5% năm
9
2011.
Trong những năm qua, chi nhánh luôn chú trọng đầu tư cho vay ngắn hạn với
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp có đủ vốn nhập nguyên liệu phục vụ sản xuất kinh doanh ổn định và có hiệu
quả.Tỷ trọng các khoản vay ngắn hạn trong tổng dư nợ thường rất lớn. Từ năm
2009 đến năm 2011 tỷ trọng này lần lượt là 74.4%; 82.12% và 82.5%. Với lợi thế

Doanh số bán 45.85 47.50 121.36
Chi trả kiều hối 1.95 2.15 4.6
Nguồn: Báo cáo kết quả huy động vốn 2009, 2010, 2011
Chi nhánh Đống Đa, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Khách hàng của chi nhánh chủ yếu là những đơn vị sản xuất nên thường
phải nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Do đó nghiệp vụ
thanh toán quốc tế của chi nhánh phần lớn là phục vụ cho mở và thanh toán L/C
nhập khẩu, thanh toán chuyển tiền và nhờ thu nhập khẩu.Năm 2010 thanh toán L/C
nhập khẩu tăng 31.2 tỷ so với 2008 còn L/C xuất tăng 0,53 tỷ. Năm 2009 thị trường
ngoại tệ có diễn biến phức tạp, mặc dù đầu năm NHNN đã nới rộng biên độ và cuối
năm đã thực hiện điều chỉnh tỷ giá nhưng tỷ giá của ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá
ngoài thị trường tự do. Do đó, chi nhánh rất khó khăn trong việc mua ngoại tệ của
khách hàng thể hiện ở việc doanh số mua giảm so với năm 2008. Tuy nhiên do có
khách hàng truyền thống cộng với sự linh hoạt trong điều hành mà doanh số mua và
bán ngoại tệ vẫn đạt cao và lãi kinh doanh ngoại tệ đạt 1,6 tỷ đồng. Sang năm 2011
tình hình kinh tế tiếp tục khó khăn nhưng do có sự chuẩn bị trước và có các biện
pháp kinh doanh hiệu quả mà chi nhánh đạt được doanh số tăng đột biến 73.96 tỷ
đồng trong kinh doanh ngoại tệ.
Dịch vụ kiều hối đã đạt được nhiều thành công đáng kể ,mạng lưới chi trả kiều
hối đã được triển khai đến hầu hết các phòng giao dịch,điểm giao dịch và quỹ tiết
kiệm. Doanh số chi trả kiều hối năm 2011 đạt 4.6 tỷ tăng 136% so với 2009 và
chiếm khoảng 15% thị phần về dịch vụ kiều hối trên thị trường chính thức ở Việt
Nam.Ứng dụng phần mềm chi trả kiều hối Western Union và qua mạng Swift đã
11
mở rộng triển vọng hợp tác với nhiều nguồn chuyển tiền, nhiều đối tác trên thế giới
là các ngân hàng đại lý và các công ty chuyển tiền.
1.1.3.5. Kết quả hoạt động kinh doanh:
Bảng 4: Kết quả kinh doanh giai đoạn 2009-2011 của chi nhánh Đống Đa
ĐVT: tỷ đồng
2009 2010 2011

1.2.1. Tổng quan về hoạt động đầu tư phát triển ở chi nhánh
Đứng trên góc độ một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đặc thù, hoạt động
đầu tư phát triển ở ngân hàng là một hoạt động đầu tư không lớn nhưng lại mang lại
hiệu quả tích cực. Thông thường, các hoạt động sản xuất kinh doanh thường cần
một chi phí khá lớn đầu tư vào TSCĐ (nhà xưởng, máy móc thiết bị, dây chuyền
sản xuất,…) nhưng hoạt động kinh doanh tiền tệ lại không cần sử dụng nhiều VĐT
cho TSCĐ như vậy. Do đó, nếu hoạt động đầu tư phát triển ở các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh thông thường đầu tư vào xây dựng cơ bản, cần một số vốn rất lớn
thì hoạt động đầu tư phát triển ở ngân hàng lại chủ yếu tập trung vào phát triển
nguồn nhân lực và phát triển mạng lưới chi nhánh nên số VĐT phát triển cũng
không lớn như vậy.
Là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, Chi nhánh Đống Đa, thuộc Ngân
hàng TMCP Công thương Việt Nam, hoạt động đầu tư phát triển của chi nhánh
cũng được quan tâm chú ý, có thể thấy điều này thông qua tổng VĐT phát triển
trong 3 năm 2009-2011 của chi nhánh như sau
13
Bảng 5: Tổng vốn đầu tư phát triển (2009-2011)
Đơn vị: triệu đồng
Năm 2009 2010 2011
trđ % trđ % trđ %
Tổng VĐT phát triển 4706.45 100 5416.86 100 7223.47 100
Trong đó
- VĐT cơ sở vật chất
+ VĐT TSCĐ
+ VĐT phát triển mạng lưới
+ VĐT đổi mới công nghệ
4288
423
3780
85

tăng nhanh hơn, 1414.61 triệu đồng, gần gấp ba lượng tăng năm 2010 so với năm
2009. Sau ba năm lượng VĐT phát triển của chi nhánh tăng 2058.02 triệu đồng,
tương đương tăng 46.24% so với năm 2009. Lạm phát tăng cao cũng như sự mở
rộng hoạt động của mạng lưới giao dịch là một trong số nhiều nguyên nhân dẫn đến
lượng đầu tư tăng dần qua các năm, đặc biệt trong năm 2011. Cụ thể, trên 85% vốn
đầu tư phát triển chủ yếu tập trung vào đầu tư cơ sở vật chất, trong đó, lớn nhất là
đầu tư phát triển mạng lưới PGD và quĩ tiết kiệm. Ở đây, việc đầu tư cơ sở vật chất
không phải là việc xây dựng mới trụ sở hay các PGD mà chủ yếu là tiền thuê mạt
bằng. Đây là một phương hướng đầu tư hiệu quả, giúp ngân hàng quản bá và tăng
cường hoạt động của mình trên địa bàn, giúp khách hàng tiếp cận dễ dàng hơn với
14
các dịch vụ ngân hàng cung cấp. Hàng năm, ngân hàng luôn thực hiện thay mới các
thiết bị cũ, lạc hậu bằng các thiết bị mới tiên tiến hơn bởi hoạt động của ngân hàng
ngày nay được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện công nghệ thông tin
nên cần đổi mới liên tục nhằm hiện đại hóa hoạt động của ngân hàng sao cho phù
hợp với xu thế phát triển hiện này. Chính vì vậy mà nhu cầu vốn đầu tư phát triển
lại tăng dần theo từng năm, qua đây chứng tỏ chi nhánh nhận thấy tầm quan trọng
của hoạt động đầu tư phát triển đối với sự tồn tại và phát triển của chi nhánh.
Thứ hai, có thể thấy sự biến đổi trong cơ cấu VĐT phát triển của Chi nhánh,
đầu tư vè chiều sâu (phát triển nguồn nhân lực và phát triển sản phẩm dịch vụ) đang
ngày càng được chú trọng, biểu hiện là tỷ trọng VĐT cho những lĩnh vực này đang
tăng lên. Nếu năm 2009, đầu tư phát triển nhân lực và sảm phẩm dịch vụ chỉ chiếm
lần lượt 3.45% và 5.44% thì đến năm 2011 con số này đã tăng lên đến 4.93% và
9.9%. Trong khi đó, đầu tư cho cơ sở vật chất lại có xu hướng giảm dần từ 91%
xuống 85% năm 2011. Tỷ trọng đầu tư phát triển ở chi nhánh thể hiện theo đúng
quan điểm và xu hướng đầu tư phát triển hiện nay, đó là chú trọng hơn hoạt động
đầu tư đổi mới, nâng cao (chiều sâu) và giảm dần sự chú trọng vào chiều rộng. Đi
vào cụ thể có thể nhận ra, vốn đầu tư phát triển mạng lưới giao dịch chiếm tỷ trọng
cao nhất trong cơ cấu VĐT phát triển, trên 70%. Điều này cho thấy, ngân hàng tăng
cường mọi khả năng để tiếp cận khách hàng nhằm đem lại doanh thu về cho ngân

nguồn vốn tự có hay lợi nhuận giữ lại. Sở dĩ như vậy vì xuất phát từ đặc điểm hoạt
động kinh doanh của ngân hàng, tiền là sản phẩm được đem ra giao dịch, nên để
thực hiện hoạt động đầu tư phát triển, chi nhánh chủ yếu trích từ lợi nhuận giữ lại để
thực hiện các hoạt động mở rộng mạng lưới, phát triển sản phẩm hay đầu tư vào cơ
sở vật chất,… Càng ngày nguồn vốn đầu tư phát triển lại càng được huy động chủ
yếu tư nguồn vốn tự có, biểu hiện là tỷ trọng vốn tự có trong tổng nguồn vốn đầu tư
phát triển tăng từ 89.24% năm 2009 lên 94.69% năm 2011. Điều này chứng tỏ khả
năng tự chủ trong công cuộc đầu tư phát triển của chi nhánh, ít phụ thuộc vào yếu tố
bên ngoài. Tuy nhiên, vẫn còn dưới 10% là chi nhánh phải sử dụng nguồn đi vay
hay phát hành trái phiếu và huy động tiền gửi từ các thành phần trong xã hội những
tỷ trọng nguồn đi vay có xu hướng giảm dần qua các năm. Điều này phần nào
chứng tỏ chi nhánh đã nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động đầu tư phát triển nên
đã chủ động trong việc huy động nguồn vốn cho các hoạt động đầu tư, từ đây có các
16
phương án đầu tư một cách tự chủ và linh hoạt, tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư
phát triển đạt được hiệu quả tối đa.
1.2.3. Hoạt động đầu tư phát triển ở Chi nhánh theo nội dung đầu tư
1.2.3.1. Đầu tư vào cơ sở vật chất
1.2.3.1.1. Đầu tư vào tài sản cố định:
Tài sản cố định là tất cả những tài sản của doanh nghiệp có giá trị lớn, có thời
gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trên 1 năm hoặc trên 1 chu kỳ kinh doanh (nếu
chu kỳ kinh doanh lớn hơn hoặc bằng 1 năm). Trên thực tế, khái niệm TSCĐ bao
gồm những tài sản đang sử dụng, chưa được sử dụng hoặc không còn được sử dụng
trong quá trình sản xuất kinh doanh do chúng đang trong quá trình hoàn thành (máy
móc thiết bị đã mua nhưng chưa hoặc đang lắp đặt, nhà xưởng đang xây dựng chưa
hoàn thành ) hoặc do chúng chưa hết giá trị sử dụng nhưng không được sử dụng.
Những tài sản thuê tài chính mà doanh nghiệp sẽ sở hữu cũng thuộc về TSCĐ. Khác
với các doanh nghiệp kinh doanh thông thường, ở ngân hàng, một doanh nghiệp có
hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt- tiền tệ, thì TSCĐ thường chỉ là ô tô, công
cụ lao động (máy tính, máy in, máy điện thoại, máy fax,…).

18
chỉ 115 Nguyễn Khuyến, phường Văn Miếu, Đống Đa. Phòng giao dịch (PGD)
Nguyễn Khuyến là PGD loại II và cũng là PGD thanh niên kiểu mẫu của Chi nhánh
thể hiện sức trẻ, sáng tạo của tập thể đoàn viên thanh niên. Tại đây, Ban chấp hành
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh sẽ đảm nhiệm công trình, phần việc thanh niên với
phong cách phục vụ chuyên nghiệp cùng nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ
tốt nhất, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng đến giao dịch. Đến cuối năm, ngày
17/12/2009, khai trương Phòng giao dịch (PGD) Văn Chương tại số 56 Ngõ 221
Phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, Hà Nội.Với việc đưa vào hoạt động Phòng
giao dịch Văn Chương VietinBank - Chi nhánh Đống Đa đã hoàn thành kế hoạch
mở rộng mạng lưới kinh doanh năm 2009.
Năm 2010, không có PGD nào được mở thêm, chính vì vậy mà số VĐT cho
phát triển mạng lưới của năm 2010 không tăng nhiều so với năm 2009, chỉ tăng nhẹ
4.7%.
Năm 2011 đánh dấu một năm mà mạng lưới PGD của Chi nhánh Đống Đa có
nhiều sự thay đổi. Sự đánh dấu đầu tiên cho những thay đổi và mở rộng chính là
việc khai trương PGD đầu tiên năm 2011- PGD loại 1, PGD Đặng Văn Ngữ tại 87
Đặng Văn Ngữ, Đống Đa, Hà Nội. Tiếp đó ngày 18/5/2011, PGD Đào Duy Anh
được khai trương tại số 9 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội. Ngày 28/10/2011, PGD
Nguyễn Khuyến dược nâng từ PGD loại II lên loại I và chuyển sang địa điểm mới là
101 Nguyễn Khuyến, Đống Đa, Hà Nội. Cuối cùng, ngày 16/11/2011, PGD thứ 4,
PGD Khâm Thiên được khai trương ở địa chỉ 201 Khâm Thiên, Đống Đa, Hà Nội.
Chỉ riêng trong năm 2011 đã có đến bốn PGD mới được khai trương, đặc biệt hơn,
trong quý IV/ 2011 nửa số PGD mới này được khai trương. Do đó mà VĐT phát
triển mạng lưới PGD và quĩ tiết kiệm của Chi nhánh vì thế cũng tăng lên nhanh
chóng, tăng 1408 triệu đồng so với năm 2010, tăng 35.6%.
Như vậy, từ năm 2009 đến năm 2011, VĐT phát triển mạng lưới PGD và quĩ
tiết kiệm của Chi nhánh Đống Đa tăng lên 1584 triệu đồng, tương đương tăng
41.9%. Với mạng lưới PGD và quĩ tiết kiệm rộng khắp, rải rác trên nhiều địa bàn
đông đúc, Chi nhánh Đống Đa ngày càng thu hút được nhiều sự chú ý từ phía khách

Hệ thống mới quản lý đồng bộ, chặt chẽ và khoa học hơn tất cả các thông tin
chi tiết liên quan tới chi tiêu nội bộ của ngân hàng, hệ thống sẽ thay thế việc quản lý
thiếu tập trung, thủ công ngoài Incas của Quy trình QLTCNB hiện nay. Một khác
biệt lớn của hệ thống là bút toán được sinh ra một cách tự động và được kiểm soát
20
nhiều tầng thông qua quá trình phê duyệt, vì thế hạn chế được những sai sót về định
khoản. Hệ thống sử dụng các tài khoản trung gian và các quy tắc hạch toán ngầm
định đảm bảo các cặp bút toán này thống nhất với nhau. Việc phát sinh giao dịch ở
các tài khoản trung gian không làm ảnh hưởng đến các báo cáo tài chính của ngân
hàng và cán bộ kế toán có thể dựa vào số dư của các tài khoản này để kiểm tra quy
trình tác nghiệp đã được thực hiện đầy đủ chưa.
Thứ hai, VietinBank vừa cập nhật thành công ứng dụng Mobile Banking phiên
bản 1.5 với nhiều tính năng vượt trội so với phiên bản 1.0…. Cuối năm 2010,
VietinBank đã ra mắt ứng dụng Mobile Banking phiên bản 1.0. Đây là ứng dụng hỗ
trợ khách hàng sử dụng tin nhắn SMS thực hiện các giao dịch tài chính ngân hàng
thông qua điện thoại di động, thay vì phải nhớ cú pháp tin nhắn. Nhằm tạo ra sự đơn
giản, thuận tiện tối đa trong thao tác cho khách hàng, Ngân hàng đã phối hợp với
đối tác VNPay tiếp tục đầu tư, nghiên cứu và phát triển thêm các tiện ích của ứng
dụng. Kể từ ngày 27/6/2011, VietinBank chính thức cập nhật ứng dụng Mobile
Banking phiên bản 1.5 với nhiều tính năng vượt trội so với phiên bản 1.0.
Đây là một số công nghệ tiên tiến mà hệ thống Ngân hàng Vietinbank đã triển
khai thực hiện. Để có thể sử dụng những công nghệ tiên tiến như thế này thì Chi
nhánh Đống Đa đã bỏ ra một khoản chi phí để thực hiện, có thể thấy thông qua sơ
đồ sau
Hình 3: VĐT đổi mới Công nghệ (2009-2011)
Nguồn: Báo cáo kết quả huy động vốn 2009, 2010, 2011
Chi nhánh Đống Đa, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
So với tổng VĐT phát triển trong Chi nhánh thì VĐT đổi mới công nghệ
21
chiếm một phần nhỏ và tăng nhẹ qua các năm, trung bình mỗi năm tăng 19 triệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status