Báo cáo thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
1.4.2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY TRONG QUẢN LÝ
BÁN HÀNG 8
1.5 GIẢI PHÁP TIN HỌC HÓA CHO BÀI TOÁN QUẢN LÝ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
TẬP ĐOÀN NHỰA ĐÔNG Á 9
1.5.1 CÁC GIẢI PHÁP CHO BÀI TOÁN QUẢN LÝ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY 9
1.5.2 CÁC YÊU CẦU VỀ MẶT CHỨC NĂNG 10
1.5.3 CÁC YÊU CẦU VỀ CƠ SỞ CÔNG NGHỆ 10
CHƯƠNG 2 13
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ NHỮNG CÔNG CỤ CẦN THIẾT ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 13
2.1 TỔNG QUAN VỀ PHẦN MỀM 13
2.2. CÁC BƯỚC TỔNG QUÁT CỦA QUY TRÌNH PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG PHẦN
MỀM 15
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay công nghệ thông tin đang có sự phát triển nhảy vọt, bùng nổ trên khắp
thế giới và ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
như thông tin liên lạc, xử lý số liệu, tự động hóa công tác quản lý Đặc biệt là thành
tựu ứng dụng tin học vào công tác quản lý đã đem lại những kết quả rất khả quan.
Trước đây, khi công nghệ thông tin chưa được phát triển rộng rãi, sự hỗ trợ của
máy tính điện tử còn ở mức độ hạn chế và công tác quản lý đang được xử lý bằng
phương pháp thủ công cho nên hiệu quả công việc không cao mà trong thực tế có
những công việc không thể thực hiện được. Vì vậy, yêu cầu đưa tin học vào công tác
quản lý là một vấn đề cần phải được thực hiện.
Để phát triển nền kinh tế xã hội và thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
các doanh nghiệp, các cơ quan hành chính sự nghiệp đã tiến hành đưa tin học vào sử dụng
với mục đích xử lý nhanh, kịp thời, chính xác các công việc của đơn vị mình.
Ở Việt Nam hiện nay, các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp cũng đã và đang
áp dụng tin học vào công tác quản lý của đơn vị mình. Vấn đề không phải là có ứng
Á hoạt động trong lĩnh vực:
- Sản xuất các sản phẩm, vật liệu phục vụ trong xây dựng và trang trí nội ngoại
thất.
- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông.
- Kinh doanh vật liệu xây dựng, trang thiết bị nội, ngoại thất.
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á tiền thân là công ty liên doanh với đối
tác Đài Loan chuyên sản xuất sản phẩm nhựa mang thương hiệu Đông Á Sau khi
mua toàn bộ phần vốn góp của đối tác nước ngoài, đã được chuyển thành Công ty
TNHH Thương mại và Sản xuất Nhựa Đông Á.
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Năm 2001:
Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Nhựa Đông Á chính thức được thành lập:
Vốn điều lệ: 5 tỷ đồng.
Lao động: hơn 100 lao động.
Trụ sở: 41 Hàng Nón – Hoàn Kiếm – Hà Nội.
Nhà máy sản xuất chính đặt tại Lĩnh Nam – Thanh Trì – Hà Nội.
Nhà máy lắp ráp cửa nhựa đặt tại Chương Dương – Hà Nội.
Năm 2002:
Công ty TNHH Thương Mại và Sản xuất Nhựa Đông Á lập dự án trình UBND
TP Hà Nội xin phê duyệt và đã được cấp đất tại KCN Ngọc Hồi, đăng ký tham gia và
trở thành thành viên Hiệp hội Nhựa Việt Nam, Hội Doanh nghiệp trẻ thành phố Hà
Nội. Đăng ký và được cấp bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa độc quyền tại Việt Nam,
Lào, Campuchia cho nhãn hiệu Đông Á.
Năm 2003:
Công ty thành lập tổ chức công đoàn công ty trực thuộc Liên đoàn Lao động
huyện Thanh Trì. Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 trên toàn công
ty.
doanh lấy uy tín và chất lượng làm mục tiêu hàng đầu, công ty có thể đem đến các sản
phẩm chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu của quý khách hàng.
1.1.3 Chức năng nhiệm vụ của công ty
Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á là một công ty chuyên sản xuất tấm
trần nhựa Đông Á, cửa uPVC có lõi thép gia cường – Smart Windows. Nhận thấy chất
lượng cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu về các mặt hàng cao
cấp, nhất là các mặt hàng mang tính nghệ thuật cũng vì thế mà tăng lên. Đây là một
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
trong những công ty hàng đầu về lĩnh vực sản xuất các sản phẩm về nhựa mang thương
hiệu Đông Á. Mục đích và phương hướng kinh doanh của công ty là sản xuất và kinh
doanh các sản phẩm tấm trần nhựa Đông Á. Chức năng và nhiệm vụ chính của công ty
là sản xuất và cung cấp các mặt hàng tấm trần nhựa và cửa nhựa Smart Windows.
1.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty
1.2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của công ty bao gồm chủ tịch HĐQT, Giám đốc, Phó giám đốc,
và năm phòng: phòng kế hoạch, phòng nhân sự, phòng kế toán, phòng kinh doanh và
phòng kĩ thuật.
- Chủ tịch HĐQT: Là người đứng đầu, quản lý toàn bộ công ty, có trách nhiệm về
mọi mặt hoạt động tổ chức kinh doanh, và là người chịu trách nhiệm trước pháp luật.
- Giám đốc: là người đại diện theo pháp luật của công ty, có nhiệm vụ tổ chức
thực hiện các quyết định của Chủ tịch HĐQT, tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh
doanh va phương án đầu tư của công ty, thường xuyên báo cáo chủ tịch HĐQT tình
hình, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty .
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
Giám đốc
Phó Giám đốc
Phòng kế hoạch Phòng kế toánPhòng NS Phòng KD
Chủ tịch HĐQT
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Phòng kế hoạch: là bộ phận đề ra các kế hoạch và chiến lược kinh doanh của công ty.
1.3 Bài toán Quản lý bán hàng tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á
Đây là một công ty sản xuất và kinh doanh mặt hàng về nhựa, do đó việc giải
quyết tốt bài toán quản lý bán hàng là một công việc mang tính quyết định đối với công
ty. Hiện nay công việc quản lý bán hàng của công ty được thực hiện bằng phương pháp
thủ công dẫn đến những bất cập sau: tốc độ cập nhật, xử lý không cao, không đáp ứng
được nhu cầu cần báo cáo đột xuất của ban lãnh đạo. Không đồng bộ trong việc cập
nhật dẫn đến những sai sót. Quản lý thủ công thường chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố
chủ quan do sự tác động của môi trường bên ngoài. Thông tin thường được lưu trữ trên
giấy nên gây lãng phí lớn. Khi mở rộng quy mô hoạt động thì hệ thống quản lý thủ
công sẽ không đáp ứng được các yêu cầu lớn hơn đặt ra.
Bài toán đặt ra cho công ty là tìm cách tổ chức một hệ thống mới quản lý các
hoạt động liên quan tới quản lý bán hàng trên cơ sở các cách thức hoạt động và quy tắc
làm việc của công ty. Hệ thống mới phải làm sao giải quyết được các vấn đề nêu trên,
phù hợp với điều kiện của công ty.
1.4 Thực trạng tin học hóa tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á
1.4.1 Kế hoạch tin học hoá của công ty
Hiện nay công ty đang có kế hoạch mở rộng các hoạt động sản xuất và kinh
doanh, mở thêm một số chi nhánh trên địa bàn Hà Nội và tiến tới việc đặt chi nhánh tại
các tỉnh khác. Do đó bài toán Quản lý bán hàng của công ty ngày càng trở nên phức tạp
hơn. Lý do này khiến công ty phải tìm một công cụ quản lý bán hàng hiệu quả hơn.
Trong thời đại ngày nay, việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào các hoạt động
sản xuất kinh doanh càng ngày càng phổ biến và mang tính sống còn. Điều này đặt ra
cho công ty một yêu cầu cấp bách là phải có kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin
vào các hoạt động của mình, trong đó có công tác quản lý bán hàng.
Theo ban lãnh đạo của công ty, hiện nay công ty đã có kế hoạch cụ thể cho việc
tin học hoá cho một số hoạt động của công ty để tạo tiền đề cho việc mở rộng sản xuất
các thông tin của kế toán. Từ những hạn chế và khó khăn trên đòi hỏi phải có một phần
mềm chuyên nghiệp cho công tác quản lý bán hàng tại công ty .
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
1.5 Giải pháp tin học hóa cho bài toán quản lý bán hàng tại công ty cổ phần tập
đoàn Nhựa Đông Á
1.5.1 Các giải pháp cho bài toán quản lý bán hàng tại công ty
Trong nền kinh tế nhiều thành phần ngày nay thì quản lý bán hàng càng mang
tính quyết định chính trong hiệu quả kinh doanh. Vì vậy việc ra đời những bài toán
quản lý nói chung và quản lý bán hàng nói riêng là một điều tất yếu khách quan.
Với thực trạng của công ty hiện nay có thể đề xuất một số giải pháp nhằm thực
hiện tốt công tác quản lý bán hàng:
Thứ nhất: Tuyển dụng các cán bộ đã có sẵn trình độ, kinh nghiệm vào làm việc
cũng như tăng cường cử các nhân viên đang đảm nhiệm công tác quản lý bán hàng đi
học các lớp đào tạo nâng cao về nghiệp vụ, chuyên ngành để nâng cao hiệu quả và chất
lượng công việc.
Thứ hai: Công ty cần có ý thức và dành các khoản đầu tư thích đáng cho công
nghệ tin học, mua sắm cho quỹ các máy vi tính và phần mềm tương ứng để ứng dụng
và khai thác chúng phục vụ cho hoạt động quản lý nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp
và hiệu quả hoạt động. Việc ứng dụng máy tính cho phép một mặt giảm thiểu các sai
sót thủ công trong việc hạch toán kế toán và thời gian lập các loại báo cáo, mặt khác
giúp cho Giám đốc có thêm một công cụ phân tích, xử lý dữ liệu phục vụ cho công tác
hoạch định, lên kế hoạch, quản lý, giám sát, theo dõi và dự báo về mọi mặt của lĩnh
vực hoạt động.
Có thể nói rằng với sự phát triển của công nghệ thông tin thì việc quản lý thủ
công không còn phù hợp nữa. Hệ thống quản lý theo phương pháp thủ công có rất
nhiều yếu kém: Thông tin về đối tượng quản lý nghèo nàn, lạc hậu, không thường
xuyên cập nhật. Việc lưu trữ bảo quản khó khăn, thông tin lưu trữ trong đơn vị không
nhất quán, dễ bị trùng lặp giữa các bộ phận. Đặc biệt mất nhiều thời gian, công sức để
1.6.1 Lý do chọn đề tài
Trong thời gian thực tập tại công ty, bộ máy quản lý bán hàng tại công ty hoạt
động với số nghiệp vụ giao dịch trong ngày thường rất lớn, lượng dữ liệu tính toán khá
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
nhiều, mà áp dụng phương pháp thủ công tốn rất nhiều công sức và mất nhiều thời
gian. Tất cả các công việc liên quan đến việc bán hàng (nhập- xuất hàng hoá) đều đang
được thực hiện trên giấy tờ, sổ sách do kế toán trực tiếp kiểm kê và xác nhận.
Hiện tại, bộ máy quản lý bán hàng vẫn do con người trực tiếp kiểm kê, nhập,
xuất, ghi chứng từ, hóa đơn nhập xuất Vấn đề đó sẽ rất dễ gây nhầm lẫn, mệt mỏi.
Muốn kiểm tra, tìm kiếm chứng từ, hóa đơn, hay loại hàng hoá nào đó, người quản lý
bán hàng phải tra cứu trên sổ sách, giấy tờ, cộng sổ xem cuối kỳ tình hình tài chính là
bao nhiêu. Máy tính có thể trợ giúp( làm thay) con người những công việc trên. Đó là
những vấn đề nổi cộm cần phải được giải quyết ngay ở công ty nên đề tài: “ Xây dựng
phần mềm Quản lý bán hàng tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Đông Á ” sẽ
giải quyết những bất cập và hạn chế trên.
1.6.2 Sự cần thiết và tính khả thi của đề tài
Qua thời gian khảo sát việc quản lý bán hàng tại công ty, em nhận thấy đây là
quá trình chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của công ty. Ta có thể chỉ ra tính hạn chế
của hệ thống của việc quản lý mang tính thủ công, nó đã tồn tại từ những ngày công ty
mới thành lập, khi đó nó rất thích hợp và phát huy hiệu quả. Song đến thời điểm hiện
nay nó trở nên bất cập do lượng sản phẩm nhập xuất diễn ra thường xuyên hơn, làm
công việc giấy tờ trở nên tồn đọng, không giải quyết kịp thời và hay mắc sai sót.
Tốn nhiều thời gian, công sức trong việc tổng hợp thống kê báo cáo từ cấp trên.
Việc tra cứu, tìm kiếm chọn lọc thông tin về sản phẩm mất nhiều công sức
không thuận tiện đầy đủ chính xác.
Khó thực hiện việc cập nhật thường xuyên các thông tin về nhập và xuất hàng.
Và việc điều động nguồn nhân lực tốn kém về chi phí, lượng giấy tờ lưu trữ lớn
và phải lưu trữ lại.
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ NHỮNG CÔNG CỤ CẦN THIẾT
ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
2.1 Tổng quan về phần mềm
2.1.1 Phần mềm và phần mềm ứng dụng
Phần mềm
Phần mềm (software) là một tập hợp những câu lệnh được viết bằng một hoặc
nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trật tự xác định nhằm tự động thực hiện một số chức
năng hoặc giải quyết một bài toán nào đó.
Phần mềm là tổng thể bao gồm 3 bộ phận:
Chương trình máy tính
Các cấu trúc dữ liệu
Các tài liệu liên quan
Phần mềm ứng dụng
Là một loại chương trình có khả năng làm cho máy tính thực hiện trực tiếp một
công việc nào đó người dùng muốn thực hiện. Điều này khác với phần mềm hệ thống
tích hợp các chức năng của máy tính, nhưng có thể không trực tiếp thực hiện một tác
vụ nào có ích cho người dùng.
Các phần mềm ứng dụng thường được gom lại thành bộ phần mềm. Các phần
mềm riêng biệt trong bộ phần mềm thường có giao diện và tính năng tương tự làm
người dùng dễ dàng học và sử dụng. Và các phần mềm này thường tương tác được với
nhau để đem lại lợi ích cho người dùng.
2.1.2 Vai trò của phần mềm
Phần mềm – linh hồn của các hệ thống máy tính, có vai trò nền tảng của mọi
hoạt động xã hội. Mọi nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào phần mềm.
2.1.3 Vòng đời phát triển của phần mềm
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
13
tồn tại, đánh giá nhu cầu của sụ phát triển đối với sự phát triển của hệ thống mới với
các khía cạnh:
- Khả thi về mặt kỹ thuật để đảm bảo rằng mọi yêu cầu về chức năng của hệ
thống mới đều có thể tìm được giải pháp hay kỹ thuật thực hiện.
- Khả thi về mặt tài chính để đảm bảo mọi yêu cầu về chi phí cho việc sản
xuất phần mềm đều được đáp ứng và phù hợp với khả năng, dự trù kinh phí của người
dùng.
- Khả thi về thời gian để đảm bảo rằng thời gian dự kiến cho việc thiết kế phần
mềm là hợp lý và có thể được người dùng chấp nhận.
- Khả thi về nhân lực đảm bảo rằng từ phía nhà sản xuất có đủ đội ngũ nhân lực
trong việc xây dựng phần mềm đồng thời về phía người dùng cũng chuẩn bị được đội
ngũ nhân lực cho việc khai thác sử dụng và vận hành hệ thống.
Bước 2: Phân tích chi tiết
Phân tích chi tiết được tiến hành sau khi có sự đánh giá thuận lợi về yêu cầu.
Những mục đích chính của phân tích chi tiết là hiểu rõ các vấn đề của hệ thống đang
nghiên cứu, xác định những nguyên nhân đích thực của những vấn đề đó, xác định
những đòi hỏi và những ràng buộc áp đặt đối với hệ thống và xác định mục tiêu mà hệ
thống thông tin mới phải đạt được. Để làm những việc đó giai đoạn phân tích chi tiết
bao gồm các công đoạn sau:
- Lập kế hoạch phân tích chi tiết
- Nghiên cứu môi trường của hệ thống đang tồn tại
- Nghiên cứu hẹ thống thực tại
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Đưa ra chuẩn đoán và xác định các yếu tố giải pháp
- Đánh giá lại tính khả thi
- Chuẩn bị và trình bày báo cáo phân tích chi tiết.
Bước 3: Thiết kế logic
Bước này nhằm xác định tất cả các thành phần logic của một hệ thống thông tin,
này phải cung cấp các tài liệu như các bản hướng dẫn sử dụng và thao tác cũng như các
tài liệu mô tả về hệ thống. Các hoạt động chính của việc triển khai thực hiện kỹ thuật
hệ thống là như sau:
- Lập kế hoạch thực hiện kỹ thuật
- Thiết kế vật lý trong
- Lập trình
- Thử nghiệm hệ thống
- Chuẩn bị tài liệu
Bước 7: Cài đặt và khai thác
Giai đoạn này bao gồm các công đoạn:
- Lập kế hoạch cài đặt
- Chuyển đổi
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Khai thác và bảo trì
- Đánh giá.
2.3 Các phương pháp thiết kế
2.3.1 Phương pháp Top down design
Đây là một phương pháp thiết kế giải thuật dựa trên tư tưởng module hoá. Tư
tưởng của phương pháp này là đi từ tổng quan đến chi tiết tức là khi giải quyết một vấn
đề nào đó của thực tiễn, người ta đưa ra các phác thảo từ giải quyết vấn đề tổng quát.
Sau đó các vấn đề lại được phân ra thành vấn đề nhỏ, cụ thể hơn, tức là chuyển dần từ
module chính đến các module con từ trên xuống dưới cho đến khi mỗi vấn đề có thể
tương ứng với một chương trình, do đó phương pháp này còn có tên gọi là thiết kế “ từ
đỉnh xuống” ( Top down design). Quy trình này cũng được gọi là quy trình cấu trúc
hoá.
Phương pháp thiết kế Top down design phù hợp với các doanh nghiệp, các tổ
chức mà hệ thống thông tin chưa được tin học hóa, tức là đang ở mô hình xử lý thủ
công. Khi đó với phương pháp thiết kế từ đỉnh xuống đáy sẽ giải quyết triệt để các vấn
kết hợp cả hai phương pháp với mục đích cuối cùng là thiết kế được các giải thuật chất
lượng, tối ưu và hiệu quả.
2.4 Phương pháp luận về phân tích hệ thống thông tin
2.4.1 Các phương pháp thu thập thông tin
Phỏng vấn
Phỏng vấn là một trong hai công cụ thu thập thông tin đắc lực nhất dùng cho
hầu hết các dự án phát triển hệ thống thông tin . Phỏng vấn cho phép thu thập những
thông tin được xử lý theo cách khác nhau với mô tả trong tài liệu.
Nghiên cứu tài liệu
Cho phép nghiên cứu kĩ và tỉ mỉ về nhiều khía cạnh của tổ chức như lịch sử hình
thành và phát triển của tổ chức, tình trạng tài chính, các tiêu chuẩn và định mức, cấu
trúc thứ bậc, vai trò và nhiệm vụ của các thành viên, nội dung và hình trạng của các
thông tin đầu vào cũng như đầu ra.
Sử dụng phiếu điều tra
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
19
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phương pháp này sử dụng đối với các đối tượng cần điều tra thông tin với quy
mô lớn.
Quan sát
Việc thực hiện quan sát cho phép chúng ta thấy những gì không thể hiện trên tài
liệu hoặc qua phỏng vấn như tài liệu để ở đâu, đưa cho ai ? Phương pháp quan sát có
nhiều rủi ro vì nếu để đối tượng quan sát để ý thì họ sẽ thay đổi lịch trình làm việc
không như ngày thường.
2.4.2 Các công cụ mô hình hóa hệ thống thông tin
Các yêu cầu của người sử dụng thường được viết bằng ngôn ngữ tự nhiên để
những người không có kiến thức về mặt kỹ thuật có thể hiểu được nó. Tuy nhiên,
những yêu cầu hệ thống chi tiết phải được mô hình hoá. Mô hình hoá hệ thống giúp
người phân tích hiểu rõ các chức năng của hệ thống.
Ta có thể sử dụng các mô hình khác nhau để biểu diễn hệ thống từ nhiều khía
dấu“*”ở phía trên, góc phải của khối chức năng.
Nếu một quá trình nào đó bị loại khỏi đề án do chưa hợp lý hoặc
không đem lại lợi ích thì nên đánh dấu bằng một dòng đậm vào
khối chức năng.
Khi các chức năng phụ thuộc vào các sự kiện bên ngoài thì có thể
đánh dấu bằng một mũi tên bên lề phải. Tên gọi của sơ đồ chức
năng cần được đặt một cách đầy đủ, rõ ràng để người đọc dễ hiểu
và dễ dàng phân biệt giữa tên gọi của các chức năng với nhau.
Sơ đồ chức năng cần được xác lập một cách sáng sủa, đơn giản,
chính xác và đầy đủ. Các chức năng trên cùng một cấp thì có độ
phức tạp như nhau.
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
21
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Có thể đưa ra mô hình sơ đồ DFD một cách tổng quát như sau:
Sơ đồ luồng thông tin IFD.
Khái niệm
Sơ đồ luồng thông tin được dùng để mô tả hệ thống thông tin theo cách thức
động, tức là mô tả sự di chuyển của dữ liệu, việc xử lý, việc lưu trữ trong thế giới vật lý
bằng các sơ đồ.
Các ký pháp sử dụng trong sơ đồ IFD
Xử lý
Kho dữ liệu
Dòng thông tin
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
22
Thủ công
Giao tác
người-máy
Tin học hoá
phân rã tiếp.
Cố gắng chỉ để tối đa 7 xử lý trên một trang DFD.
Tất cả các xử lý trên một DFD phải thuộc cùng một mức phân rã.
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
23
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Luồng vào của một DFD mức cao phải là luồng vào của một DFD
con mức thấp nào đó. Luồng ra tới đích của một DFD con phải là
luồng ra tới đích của một DFD mức lớn hơn nào đó. Đây gọi là
nguyên tắc cân đối của DFD.
Xử lý không phân rã tiếp được thì gọi là xử lý nguyên thủy. Mỗi
xử lý nguyên thủy phải có một phích xử lý lô gíc trong từ điển hệ
thống.
Các mức phân rã cơ bản của sơ đồ DFD gồm có:
Mức ngữ cảnh ( context )
Mức 0
Mức 1
Các ký pháp sử dụng trong sơ đồ DFD :
Sơ đồ luồng dữ liệu là phần cốt lõi của rất nhiều phương pháp phân tích. Nó
chứa các ký pháp rất dễ hiểu đối với khách hàng. Các ký pháp sử dụng trong sơ đồ
DFD bao gồm:
Quá trình hoặc chức năng :
Dòng dữ liệu
Kho dữ liệu
Tác nhân bên ngoài
GVHD: KS. Bùi Thế Ngũ SV: Phí Thị Nhàn
24
Bán
hàng
Hoá đơn bán hàng