Bài tập nhóm tháng 1 – Môn: Tư pháp quốc tế
MỤC LỤC
MỤC LỤC.....................................................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU
Pháp luật quốc tế từ lâu đã thừa nhận quyền quốc hữu hóa của các quốc gia đối
với tài sản của quốc gia. Tuy nhiên, cho đến gần đây với áp lực của sự khủng hoảng
kinh tế toàn cầu, với sự tuyên bố xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa
của một số các nước ở Nam Mỹ thì ta mới được nghe thấy cụm từ “quốc hữu hóa ”
nhiều hơn, quen thuộc hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nghe thấy
nhiều, đọc thấy nhiều nhưng đó vẫn là khái niệm rất mơ hồ với chúng em. Vì thế, trong
bài tập nhóm lần này chúng em đã chọn tìm hiểu đề tài: “Phân tích mặt lý luận và thực
tiễn vấn đề quốc hữu hóa, nêu quan điểm trị ngoại lãnh thổ của đạo luật quốc hữu hóa”.
NỘI DUNG
I. Khái quát chung về vấn đề quốc hữu hóa.
1. Khái niệm quốc hữu hóa
Quốc hữu hóa là việc một quốc gia tước quyền sở hữu tài sản (công cụ và tư liệu
sản xuất, ruộng đất, hầm mỏ, xí nghiệp, ngân hàng, phương tiện giao thông…) của một
cá nhân hoặc một tổ chức để chuyển tài sản đó thuộc quyền sở hữu quốc gia. Trong một
số trường hợp, tài sản bị quốc hữu hóa là các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài, và hậu quả
sẽ có những vấn đề pháp lý phát sinh vượt quá thẩm quyền của tòa án địa phương.
Quốc hữu hóa phải được hiểu dưới hai góc độ: có bồi thường và không được bồi
thường. Quốc hữu hóa mà không bồi thường gọi là tịch thu hay sung công
2. Cơ sở của quốc hữu hóa
Nhóm: 1G1 – Lớp: Kinh tế G – Khoa: Pháp luật Kinh tế 1
Bài tập nhóm tháng 1 – Môn: Tư pháp quốc tế
Hành vi quốc hữu hóa thường được biện minh bằng học thuyết được luật pháp quốc
tế gọi là “hành vi quốc gia” (The acts of state doctrine), theo đó cho phép một quốc gia có
chủ quyền được toàn quyền hành động trên phạm vi lãnh thổ của mình mà không bị xét xử
bởi một tòa án của quốc gia khác. Đây là một hình thức đặc quyền xuất phát từ chủ quyền
quốc gia (immunity of state). Nói cách khác, học thuyết “hành vi quốc gia” cho rằng tòa
kinh tế quốc gia (đặc biệt là các ngân hàng), bởi vậy, Nhà nước có thể tiến hành quốc
hữu hóa để cứu vớt các công ty đó, tránh những hậu quả khôn lường.
Thứ hai: ở các nước đang phát triển, nguồn tài nguyên dồi dào, việc chính phủ
“quốc hữu hóa” một số ngành công nghiệp quan trọng có ý nghĩa to lớn với nền kinh tế
quốc dân là rất cần thiết để tránh việc các nước giàu có đầu tư vào để khai thác tài
nguyên dẫn đến nền kinh tế bị phụ thuộc.
Thứ ba: Quốc hữu hóa đôi khi là trường hợp của sự trả đũa về chính trị khi bang
giao giữa các quốc gia liên quan - ở đây là quốc gia nhận vốn đầu tư với quốc gia của
nhà đầu tư - không được tốt đẹp.
II. Thực tiễn của vấn đề quốc hữu hóa.
1. Thực tiễn về quốc hữu hóa trên thế giới
a. Quốc hữu hóa một số công ty, tập đoàn lớn ở các nước phát triển đang lâm
vào tình trạng phá sản.
Nhóm: 1G1 – Lớp: Kinh tế G – Khoa: Pháp luật Kinh tế 2
Bài tập nhóm tháng 1 – Môn: Tư pháp quốc tế
Ví dụ ngày 18/2/2008, Chính phủ Đức đã thông qua dự luật cho phép cưỡng chế
quốc hữu hóa các tổ chức tín dụng lâm vào cảnh khó khăn, một biện pháp cứng rắn nhằm
bình ổn thị trường tài chính trong bối cảnh suy thoái toàn cầu. Việc quốc hữu hóa các công
ty này chỉ được sử dụng khi tất cả các biện pháp khác nhằm bình ổn thị trường đều không có
tác dụng. Chính phủ Anh cũng đã quốc hữu hóa vài ngân hàng trong năm 2007 và 2008.
Nhiều người lầm tưởng rằng, “quốc hữu hóa” là một trong những biểu hiện của
“xã hội chủ nghĩa”, nhưng việc quốc hữu hóa một số ngân hàng hay một số doanh
nghiệp của các nước tư bản pháp triển không phải như vậy. Đó chỉ là một trong những
biện pháp can thiệp của Nhà nước chứ hoàn toàn không có nghĩa là các nước này đi
theo con đường “xã hội chủ nghĩa”. “Quốc hữu hóa” chỉ là quốc hữu hóa tạm thời mà
thôi. Thụy Điển là một ví dụ điển hình. Quốc gia này đã quốc hữu hóa một số ngân
hàng lớn yếu kém khi khủng hoảng xảy ra đầu các năm 1990. Khi đó các ngân hàng
lớn ở Thụy Điển thực sự đã phá sản và chính phủ trung hữu đã quốc hữu hóa chúng,
vực chúng dậy và sau đó lại thoái các khoản đầu tư của Nhà nước bằng cách bán cổ
phần của mình cho các nhà đầu tư tư nhân khi ngân hàng đã lành mạnh trở lại.
hình thức “phi cạnh tranh” dẫn đến nhiều thiệt hại về kinh tế. Các chuyên gia kinh tế
WTO luôn phản đối bất cứ hình thức quốc hữu hóa nào. Theo họ, các quốc gia tiến
hành quốc hữu hóa đó chỉ nhìn thấy những lợi nhuận trước mắt mà những thiệt hại về
Nhóm: 1G1 – Lớp: Kinh tế G – Khoa: Pháp luật Kinh tế 3
Bài tập nhóm tháng 1 – Môn: Tư pháp quốc tế
lâu dài thì không thể nào thấy và tính hết được. Tuy nhiên, các nước tiến hành quốc
hữu hóa lại không có quan điểm như vậy.
Ví dụ như việc chính phủ Ethiopia quốc hữu hóa công ty con của Nestle tại nước
này năm 1975 và sau đó đã bán lại cho một công ty trong nước để lấy 8,7 triệu USD.
Đối với một nước nghèo như Ethiopia, với mức bình quân đầu người dưới 100USD/
năm, kinh tế kiệt quệ thì đây là một khoản tiền khá lớn để tạo đà cho sự tăng trưởng
kinh tế. Tập đoàn Nestle đã đòi nước này khoản bồi thường lên đến 6 triệu USD, tuy
nhiên Chính phủ Ethiopia chỉ đồng ý bồi thường cho Nestle 1,5 triệu USD. Việc làm
này của Ethiopia có thể có lợi trước mắt nhưng về lâu dài nó sẽ tạo ra một tâm lý
không an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó đầu tư nước ngoài sẽ giảm đáng kể.
Thông thường Luật đầu tư nước ngoài của các quốc gia thường có quy định cấm quốc
hữu hóa hay đặt ra các quy định ngặt nghèo đối với việc quốc hữu hóa. Tuy nhiên, một
khi đã vì lợi ích, chính phủ nhiều quốc gia vẫn có cách để “tránh khỏi” các quy định
pháp luật đó. Và kết quả người thiệt hại là các nhà đầu tư nước ngoài.
Một ví dụ điển hình nữa là vụ kiện khá nổi tiếng: Banco Nacional de Banco kiện
Sabbatino (1964). Đây là vụ ki n phát sinh khi Chính phủ Cuba quốc hữu hóa mà không
bồi thường cho một công ty đường do nhiều công dân Hoa Kỳ đầu tư. Mặc dù nhiều nhà
đầu tư Hoa Kỳ đã chịu tổn thất lớn vì mất vốn đầu tư vào nhà máy đường bị Chính phủ
Cuba quốc hữu hóa, nhưng Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã chấp nhận áp dụng học thuyết
“hành vi quốc gia” để bác đơn kiện Chính phủ Cuba của các nhà đầu tư Hoa Kỳ.
Venezuela là một trong những nước sử dụng các đạo luật quốc hữu hóa mạnh
mẽ nhất. Sau khi thông qua đạo luật cho phép chính phủ kiểm soát toàn bộ ngành công
nghiệp “vàng đen”, quốc gia này đã tịch thu tài sản, quốc hữu hóa 39 công ty dầu mỏ tư
nhân và có vốn đầu tư nước ngoài. Tổng thống Venezuela, ông Hugo Chavez tuyên bố
tài sản của 39 công ty tư nhân và nước ngoài bị tịch thu từ nay sẽ thuộc sở hữu của
ban hành các văn bản về quốc hữu hóa. Theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ số
111/CP ngày 14 tháng 4 năm 1977 về việc ban hành chính sách quản lí và cải tạo xã
hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị, các tỉnh phía nam: “Nhà nước
quốc hữu hoá toàn bộ nhà cho thuê, không kể diện tích cho thuê nhiều hay ít của tư sản
mại bản, của địa chủ, của tư sản gian thương lớn, của những người phạm tội nặng về
chính trị và kinh tế của các tổ chức phản động.”
Như vậy, có thể thấy vấn đề quốc hữu hoá ở nước ta đã được đặt ra trong các
hoàn cảnh cụ thể, đối với các tư liệu sản xuất quan trọng của nền kinh tế mà chủ yếu là
đất đai, nhà ở. Các đạo luật quốc hữu hoá được ban hành chủ yếu sau những biến động
lớn của lịch sử dân tộc nhằm mục đích xoá bỏ chế độ tư hữu chủ yếu là của các thành
phần kinh tế phản động đối với các tư liệu sản xuất chính của nền kinh tế, qua đó phát
triển lực lượng sản xuất, thực hiện chính sách phân công lao động xã hội, ổn định tình
hình kinh tế, chính trị của đất nước. Từ đó, có thể thấy quốc hữu hoá là một phương
tiện quan trọng trong quá trình xây dựng và củng cố đất nước.
b. Vấn đề quốc hữu hóa trong giai đoạn hiện nay.
Trong thời hiện đại, vấn đề quốc hữu hoá được Nhà nước quy định cụ thể trong
Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12
năm 2001), cụ thể tại Điều 23 và Điều 25 của Hiến pháp.
Từ những đường lối, chính sách về vấn đề quốc hữu hoá được nêu ra trong Hiến
pháp 1992, các luật chuyên ngành cũng có những quy định cụ thể về vấn đề này: Điều
6 Luật đầu tư năm 2005 quy định: “Vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư
không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính; Trường hợp thật
cần thiết vì lí do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua, trưng dụng
tài sản của nhà đầu tư thì nhà đầu tư được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường
vào thời điểm công bố việc trưng mua, trưng dụng.”
Từ những quy định trên có thể thấy, vấn đề quốc hữu hoá trong bối cảnh hiện nay
ở Việt Nam không được áp dụng mà Nhà nước chỉ quy định về vấn đề trưng mua, trưng
dụng. Quy định như vậy là trên cơ sở tôn trọng quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổ
chức, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của người dân, giữ vững ổn định về kinh tế cũng
như chế độ chính trị. Như đã phân tích ở trên, kết quả của quốc hữu hoá trong lĩnh vực