Tìm hiểu đặc điểm tưởng tượng của học sinh lớp 4_Khóa luận tốt nghiệp lớp QLGDTH - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Học sinh tiểu học là một giai đoạn phát triển của đời người. Hiện nay,
học sinh tiểu học là những trẻ em từ 6 - 11 tuổi, một trình độ phát triển có
những đặc trưng riêng và có thể chủ động tổ chức từ phía nhà trường trên cơ
sở mới nhất của khoa học giáo dục. “Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học
sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên xã hội và con người; có kỹ
năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân
thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về múa hát, âm nhạc, mỹ thuật”
[6,tr22]. Để đạt được nội dung trên, phương pháp giáo dục tiểu học phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học, hình thành phương pháp tự học, khả năng
làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Phương
pháp giáo dục không chỉ phụ thuộc vào nội dung giáo dục mà còn phụ thuộc
vào đặc điểm tâm lí học sinh.
Đối với học sinh tiểu học, tưởng tượng là một trong những quá trình
nhận thức quan trọng. Sự phát triển không đầy đủ của tưởng tượng sẽ khiến
học sinh gặp khó khăn trong học tập. Khi học lịch sử thì nhất thiết phải xây
dựng được trong tưởng tượng bức tranh quá khứ, tìm hiểu địa lí không thể
không có các biểu tượng về cảnh quan, phong tục, khí hậu các nước Tưởng
tượng không gian rất cần khi học sinh học các yếu tố hình học, muốn tìm hiểu
nội dung bài tập đọc học sinh phải tái tạo, hình dung cho mình hình ảnh nhân
vật, hiện thực, thế giới hình tượng Có thể nói, tưởng tượng đóng vai trò
quan trọng trong sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học, thiếu nó học sinh
không thể tiến hành được hoạt động học tập.
- 1 -
Các công trình nghiên cứu về tưởng tượng của học sinh còn quá ít, đặc
biệt chưa có công trình nào nghiên cứu đặc điểm tưởng tượng của học sinh
lớp 4. Vì vậy tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu đặc điểm tưởng tượng của học sinh
lớp 4”.

Quan sát giờ học, giờ kiểm tra để phát hiện ra những biểu hiện về đặc
điểm tưởng tượng của học sinh lớp 4.
6.3. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động
Phân tích vở bài tập, các bài kiểm tra của học sinh.
6.4. Phương pháp thực nghiệm
- Thực nghiệm phát hiện: Soạn hệ thống bài tập để đo đặc điểm tưởng
tượng của học sinh lớp 4.
- Thử nghiệm hình thành: hoàn thiện giáo án và dạy một số tiết môn
Toán và môn Tiếng Việt để phát triển trí tưởng tượng cho học sinh.
6.5. Phương pháp xử lí số liệu
Dùng toán thống kê để xử lí số liệu, so sánh, đối chứng và từ đó rút ra
kết luận.
7. Phạm vi nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu đặc điểm tưởng tượng của học sinh lớp 4 trong quá trình
học tập môn Toán và môn Tiếng Việt.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài này nhằm phát hiện thực trạng đặc điểm tưởng tượng của học sinh
lớp 4 và phân tích nguyên nhân. Trên cơ sở đó cung cấp những số liệu, thử
nghiệm các biện pháp góp phần hoàn thiện và đổi mới phương pháp dạy học ở
giai đoạn thứ hai tiểu học.
9. Cấu trúc của khóa luận
- 3 -
- Mở đầu
- Chương 1. Cơ sở lí luận
- Chương 2. Đặc điểm tưởng tượng của học sinh lớp 4
- Chương 3. Thử nghiệm biện pháp hình thành và phát triển tưởng tượng
cho học sinh lớp 4
- Kết luận và kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục

tượng của trẻ ngày càng phát triển theo xu hướng rút gọn và khái quát hơn”
[7, tr76]. Tác giả đã cụ thể hơn: biểu hiện đặc trưng của tưởng tượng là thay
đổi cốt truyện, trình bày các sự kiện theo thời gian, diễn đạt đối tượng dưới
dạng khái quát và rút gọn. Nhiều khi những thay đổi và kết hợp như vậy mang
tính ngẫu nhiên không lôgic nhưng lại thoả mãn được nhu cầu “huyễn tưởng”
của trẻ. Tuy nhiên, với học sinh nhỏ tưởng tượng sáng tạo mới bắt đầu được
hình thành. Nó sẽ được phát triển mạnh ở lứa tuổi sau.
Trên đây là một vài nét về những thành tựu nghiên cứu có liên quan đến
đề tài. Trên cơ sở kế thừa và phát triển những thành tựu đó, chúng tôi tiếp tục
nghiên cứu đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học và đề xuất một số
biện pháp nhằm phát triển tưởng tượng cho học sinh tiểu học.
1.2. Những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
1.2.1. Khái niệm tưởng tượng trong tâm lí học
Tưởng tượng là quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa có trong
kinh nghiệm bằng cách xây dựng hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng
đã có[1].
Tưởng tuợng là quá trình phản ánh cái mới chưa hề có trong kinh
nghiệm của cá nhân nên tưởng tượng chỉ sinh ra khi gặp tình huống có vấn
đề. Tưởng tượng giải quyết vấn đề dựa vào các biểu tượng đã biết và tiến
hành các phương thức: liên hợp, điển hình hoá… Nói cách khác, tưởng tượng
phản ánh khái quát và gián tiếp đối tượng.
Sản phẩm của tưởng tượng là những biểu tượng mới. Biểu tượng là hình
ảnh vừa mang tính trực quan, vừa mang tính khái quát. Khác với biểu tượng
của trí nhớ là hình ảnh của sự vật, hiện tượng trước đó đã tác động vào não
- 6 -
người; biểu tượng của tưởng tượng là hình ảnh mới, khái quát hơn do con
người tự sáng tạo ra trên cơ sở biểu tượng trí nhớ.
Tưởng tượng là sự phản ánh hiện thực khách quan vì vật liệu xây dựng
nên biểu tượng, xét đến cùng phải lấy từ thực tế khách quan, do hoạt động
nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người đem lại. Chẳng hạn khi tưởng

đối với cá nhân người tưởng tượng và dựa trên sự mô tả của người khác, gọi
là tưởng tượng tái tạo.
Ví dụ: tưởng tượng của học sinh về những điều được mô tả trong sách
giáo khoa địa lý, lịch sử, văn học, toán học
Tưởng tượng sáng tạo: là quá trình xây dựng hình ảnh mới, độc lập với
cả cá nhân lẫn xã hội, được hiện thực hóa trong các sản phẩm vật chất độc đáo
và có giá trị khác nhau. Đây là một mặt không thể thiếu được của mọi loại
hoạt động sáng tạo như: sáng tạo kĩ thuật, sáng tạo nghệ thuật.
1.2.2.2. Ước mơ và lý tưởng
+ Ước mơ
Ước mơ là một quá trình độc lập, không hướng vào hoạt động hiện tại.
Có hai loại ước mơ: ước mơ có lợi và ước mơ có hại.
- Ước mơ có lợi: thúc đẩy con người vươn lên, biến ước mơ thành hiện
thực.
- Ước mơ có hại: không dựa vào khả năng thực tế, còn gọi là mộng
tưởng làm cho cá nhân thất vọng, chán nản.
+ Lý tưởng
Đó là một hình ảnh chói lọi, rực sáng, cụ thể, hấp dẫn của cái tương lai
mong muốn. Nó là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người vươn tới giành
tương lai.
- 8 -
Rõ ràng ta thấy rằng tưởng tượng là một thành phần của nhân cách. Giáo
dục và bồi dưỡng tưởng tượng cho học sinh không chỉ là nhiệm vụ của trí dục
mà còn là của đức dục nữa. Nhiệm vụ của nhà trường là phải hình thành và
phát triển trí tưởng tượng cho học sinh. [1, tr173-175].
1.2.3. Cách sáng tạo ra hình ảnh mới trong tưởng tượng
Có nhiều cách sáng tạo ra hình ảnh mới tưởng tượng. Phạm Minh hạc
trong giáo trình Tâm lí học đã đưa ra 6 cách cơ bản:
+ Thay đổi kích thước, độ lớn, số lượng, thành phần… của sự vật để tạo
ra hình ảnh mới. Ví dụ, hình tượng người khổng lồ, người tí hon.

chưa từng có trong kinh nghiệm của các em bằng cách xây dựng hình ảnh mới
dựa trên cơ sở biểu tượng đã có.
- Tưởng tượng của học sinh chỉ xuất hiện khi nhiệm vụ học tập thiếu dữ
liệu, không xác định rõ ràng.
- Trong đề tài này chỉ nghiên cứu tưởng tượng tích cực của học sinh đó
là loại tưởng tượng tạo ra những hình ảnh mới để học sinh tiếp thu tri thức, để
giải quyết nhiệm vụ học. Tưởng tượng tích cực có hai loại: tưởng tượng tái
tạo là học sinh hình dung lại những gì đã thấy, đã cảm nhận, đã trải qua trong
quá khứ. Ví dụ khi đọc bài tập đọc, nhờ tưởng tượng tái tạo mà học sinh hình
dung được nhân vật hay cảnh quan nào đó đang hiển hiện qua những điều mà
người giáo viên mô tả hoặc trình bày trên văn bản người tập đọc.Tưởng tượng
sáng tạo có thể tạo ra một hình ảnh mới không có trong thực tế, cũng có thể là
tưởng tượng ra một cái tuy tồn tại trong thực tế nhưng chưa hề có trong kinh
nghiệm của học sinh. Ví dụ như đối với học sinh tiểu học miền núi các em
chưa bao giờ xuống biển, muốn hình dung ra cảnh biển thì phải tưởng tượng
sáng tạo.
- 10 -
1.2.4. Hoạt động học tập và sự phát triển tưởng tượng của học sinh tiểu
học
1.2.4.1. Khái niệm hoạt động học tập
Hoạt động học tập là hoạt động của học sinh do hoạt động dạy tổ chức
và điều khiển nhằm tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo các môn học, trên cơ sở
đó hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu giáo dục của cấp
học, bậc học.
+ Đối tượng của hoạt động học tập là tri thức khoa học, kĩ năng kĩ xảo
tương ứng
Tri thức khoa học là tri thức khái quát về sự vật hiện tượng và những
thuộc tính bản chất, quy luật vận động của chúng, đó là hệ thống tri thức được
xác lập có căn cứ xác đáng kiểm tra được và ứng dụng được.
Ví dụ: khái niệm phép cộng, khái niệm tiếng đó là tri thức khoa học.

• Thường đặt ra câu hỏi cho người khác, thích nhận xét câu trả lời
của bạn.
• Không chỉ làm bài tập giáo viên cho mà còn làm cả bài tập khác.
• Tìm ra cách giải cho bài tập.
- Động cơ xã hội (động cơ ngoài): Động cơ này được nảy sinh bên ngoài
quá trình học tập. Cái thôi thúc học sinh không phải là tri thức mà là các mối
quan hệ xã hội.
Biểu hiện của động cơ này như sau:
• Học sinh học tập để được nhận phần thưởng.
• Học sinh học tập để làm vừa lòng bố mẹ, để được cô giáo khen, để
giỏi hơn bạn…
- 12 -
• Chỉ làm những bài tập giáo viên giao.
Cả hai loại động cơ trên đều được hình thành ở mỗi học sinh tuy nhiên
tuỳ thuộc vào nội dung và phương pháp dạy học mà loại động cơ nào giữ vai
trò chủ đạo ở học sinh. Xét theo quan điểm sư phạm (hình thành nhân cách
học sinh theo mục tiêu giáo dục) thì động cơ nhận thức có giá trị hơn. Động
cơ này tạo ra tính tự giác, hứng thú của học sinh trong học tập.
Động cơ học tập không có sẵn mà được hình thành chính trong quá trình
học sinh học tập. Nếu như trong từng tiết học , giáo viên tổ chức được quá
trình học sinh tiếp thu tri thức (hiểu bài), vận dụng được tri thức để giải bài
tập, giáo viên động viên, nhận xét, đánh giá kịp thời, dần dần hình thành mối
quan hệ thân thiết giữa học sinh với tri thức. Nghĩa là câu hỏi học để làm gì
được trả lời qua từng tiết học thì động cơ học tập được hình thành.
+ Nhiệm vụ học tập
Nhiệm vụ học tập là hình thức cụ thể hóa nội dung học thành mục đích
và phương tiện.
Mục đích học: Nội dung học tập là hệ thống các khái niệm, còn khái
niệm trong từng bài, từng tiết là mục đích học của học sinh.
Mỗi mục đích học hình thành cho học sinh một năng lực mới. Chẳng hạn

tinh thần, thao tác trí óc. Việc chuyển hóa hành động học tập thành thao tác
học cho học sinh phải được tiến hành trên cả hai phương diện: luyện tập và
rút gọn hành động học, tiếp theo phải đưa thao tác đó vào trong hành động
khác.
Thực chất của quá trình dạy học là quá trình tổ chức học sinh thực hiện
các hành động học tập. Có ba loại hành động học tập:
- 14 -
- Hành động phân tích: là hành động phân giải đối tượng thành các yếu
tố và mối liên hệ giữa chúng. Mục đích của hành động phân tích là phát hiện
nguồn gốc cấu trúc của khái niệm. Công cụ chủ yếu của hành động phân tích
là những tri thức học sinh đã tiếp thu được do đó trình độ phát triển của hành
động phân tích phụ thuộc vào trình độ nắm vững tri thức của học sinh.
- Hành động mô hình hóa: là quá trình học sinh xác lập mối quan hệ giữa
đối tượng và mô hình của nó và thông qua mô hình để nghiên cứu đối tượng.
- Hành động cụ thể hóa: là quá trình học sinh vận dụng tri thức phương
pháp chung để giải bài tập.
1.2.4.3. Sự hình thành hoạt động học tập của học sinh tiểu học
Sự hình thành hoạt động học tập ở học sinh tiểu học là sự hình thành các
yếu tố trong cấu trúc của hoạt động học tập. Để hình thành các yếu tố giáo
viên phải tiến hành hai loại tiết học:
+ Tiết hình thành
Mục đích của tiết này là hình thành cho học sinh tri thức mới, phương
pháp mới. Giáo viên cần xác định rõ mục đích, cái mới cần hình thành ở học
sinh và những phương tiện giáo viên, học sinh sử dụng để đạt được mục đích.
Nghĩa là giáo viên đưa đến cho học sinh một bài toán hay còn gọi là nhiệm vụ
học tập.
Để thực hiện loại tiết này giáo viên cần phải tiến hành theo trình tự sau:
- Thứ nhất: Giáo viên nêu nhiệm vụ học tập.
- Thứ hai: Giáo viên hướng dẫn cách giải quyết nhiệm vụ học (làm mẫu
hoặc thông qua câu hỏi gợi ý”.

1.2.5. Đặc điểm tâm lí của học sinh ở giai đọan thứ hai tiểu học
- 16 -
Học sinh ở giai đoạn thứ hai tiểu học là một cấp độ phát triển của học
sinh với những đặc điểm tâm lí đặc trưng. Các quá trình tâm lí được hình
thành và phát triển ở học sinh tiểu học có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
Bởi vậy khi nghiên cứu tưởng tượng của học sinh lớp 4 phải nắm được các
quá trình tâm lí khác nhau của học sinh.
1.2.5.1. Đặc điểm chú ý
Đối với học sinh giai đoạn thứ hai tiểu học, chú ý không chủ định vẫn
phát triển, những gì mang tính mới lạ, hấp dẫn thì dễ dàng làm xuất hiện ở
học sinh sự chú ý không chủ định. Tuy nhiên ở giai đoạn này chú ý có chủ
định đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ. Nếu ở giai đoạn thứ nhất(lớp
1 đến lớp 3) chú ý có chủ định chưa bền vững và còn non yếu thì ở giai đoạn
thứ hai loại chú ý này bắt đầu ổn định và bền vững. Các em đã biết chú ý vào
nội dung cơ bản của tài liệu đồng thời bắt đầu hình thành phân phối chú ý
nghĩa là vừa nghe giảng, vừa nhìn bảng, vừa ghi bài. Mặc dù vậy, chú ý của
các em vẫn còn thường hướng ra bên ngoài, hướng vào hành động vật chất,
khả năng chú ý vào bên trong còn yếu.
1.2.5.2. Đặc điểm tri giác
Học sinh lớp 4, lớp 5 khi tri giác ít gắn liền với tính tổng thể, tri giác
phân tích được hình thành và phát triển mạnh mẽ. Ở giai đoạn này, tri giác
của học sinh còn gắn liền với xúc cảm nghĩa là sự vật hiện tượng gây được
cảm xúc thì học sinh tri giác tốt hơn. Các loại tri giác không gian, thời gian,
vận động con người đã hình thành và phát triển mạnh, khả năng tri giác không
gian, thời gian hoặc các vật có kích thước lớn tăng lên rõ rệt so với học sinh
giai đoạn thứ nhất tiểu học. Từ đó vốn biểu tượng của học sinh tăng lên đáng
kể so với giai đoạn trước.
1.2.5.3. Đặc điểm trí nhớ
- 17 -
Trí nhớ từ ngữ, trừu tượng ở học sinh phát triển tốt hơn ở giai đoạn trước

thiết lập, dễ tan vỡ và cũng dễ làm lành với nhau. Sở dĩ như vậy là do xúc
cảm của các em đã hình thành nhưng chưa có quá trình liên kết trải nghiệm
nên chưa ổn định. Vì thế, giáo dục tình cảm cho học sinh là một nhiệm vụ
quan trọng của người giáo viên tiểu học.
Như vậy các đặc điểm tâm lí của học sinh giai đoạn thứ hai tiểu học đang
dần hoàn thiện hơn so với giai đoạn trước đáp ứng đồi hỏi ngày càng cao của
hoạt động học tập.
1.2.6. Môn Toán lớp 4 và sự phát triển tượng tượng của học sinh
1.2.6.1. Mục tiêu: Môn toán lớp 4 có mục tiêu:
- Về kiến thức: Cung cấp những kiến thức cơ bản ban đầu về sô học các
số tự nhiên, phân số, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình học và
thống kê đơn giản.
- Về kĩ năng: Hình thành các kỹ năng thực hành tính toán, đo lường, giải
bài toán có nhiều ứng dụng trong cuộc sống.
- Về thái độ: Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng
suy luận hợp lí và diễn đạt đúng; cách phát hiện và giả quyết vấn đề dơn giản,
kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học toán, góp phần hình thành bước
đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh
hoạt, sáng tạo [4].
1.2.6.2. Nội dung môn Toán 4
- 19 -
Nội dung xây dựng chương trình môn toán lớp 4 gồm 5 tuyến kiến thức:
số học, đại lượng và đo lường, yếu tố hình học, yếu tố thống kê và miêu tả,
giải toán. Cụ thể:
+ Số học:
- Số tự nhiên, các phép tính về số tự nhiên.
• Đọc, viết, so sánh các số đến lớp triệu. giới thiệu lớp tỉ.
• Tính giá trị các biểu thức chứa dạng chữ:
a + b, a – b, a x b, a : b, a + b + c, a x b x c, (a + b) x c
• Tổng kết về số tự nhiên và hệ thập phân.

- Nhận dạng góc trong các hình đã học.
- Giới thiệu hai đường thẳng cắt nhau, vuông góc, song song với nhau.
- Giới thiệu hình bình hành và hình thoi, công thức tính diện tích hình
bình hành và hình thoi.
- Thực hành vẽ hình, cắt , ghép hình.
+ Yếu tố thống kê.
- Giới thiệu bước đầu về số trung bình cộng.
- Lập bảng số liệu và nhận xét bảng số liệu.
- Giới thiệu biểu đồ, tập nhận xét trên biểu đồ.
+ Giải bài toán.
- Giải bài toán có đến hai hoặc ba bước tính, có sử dụng phân số.
- Giải các bài toán liên quan đến: Tìm hai số khi biết tổng hoặc hiệu và tỉ
số của chúng, tìm hai số biết tổng và hiệu của chúng, tìm số trung bình cộng,
các nội dung hình học đã học.
- 21 -
Môn Toán ở Tiểu học nói chung và môn Toán lớp 4 nói riêng là môn học
thống nhất không chia thành phân môn. Chương trình của môn học này được
xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm, hợp lí các kiến thức và kỹ năng được
hình thành chủ yếu bằng hoạt động thực hành và luyện tập[4].
1.2.6.3. Vai trò của môn Toán 4 với sự phát triển tưởng tượng của học
sinh tiểu học
Cũng như các môn học khác ở tiểu học môn Toán góp phần vào việc
hình thành và phát triển trí tưởng tượng cho học sinh. Thông qua học tập môn
Toán kích thích được trí tưởng tượng của các em
Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và
hình dạng không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó mà học sinh có phươg
pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanhvà biết cách hoạt động có
hiệu quả trong đời sống.
Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp
suy luận giải quyết các vấn đề. Nó góp phần phát triển trí thông minh, cách

- Giao tiếp: nói và viết, lời nói trong hội thoại.
- Văn bản: kết cấu 3 phần của văn bản: mở đầu, kết thúc, phần chính của
văn bản.
- Văn: các thể thơ 4 chữ, thơ 5 chữ. Sơ lược về lời người kể chuyện, lời
nhân vật.
+ Kĩ năng:
- Nghe: gồm cả kĩ năng nghe trong hội thoại (nhận ra thái độ, tình cảm
của người nói qua nội dung bài nói, ngữ điệu và cử chỉ, nét mặt) và kĩ năng
nghe hiểu văn bản (nắm được nội dung thông tin của văn bản và nhớ được nội
- 23 -
dung, nhân vật, chi tiết có giá trị nghệ thuật, tập nhận xét về nhân vật và sự
kiện trong truyện).
- Nói: bao gồm kĩ năng nói trong hội thoại và nói thành bài.
- Đọc: học sinh đọc thầm với tốc độ nhanh hơn lớp 3. Tập đọc các loại
văn bản nghệ thuật, hành chính, khoa học, báo chí , tập đọc diễn cảm một bài
thơ đã thuộc
Yêu cầu đọc hiểu dừng lại ở mức: nắm ý chính của văn bản ngắn, tập
chia đoạn, tập đặt đầu đề cho đoạn văn và nhận xét về hình ảnh, nhân vật, từ
ngữ trong các bài tập đọc có giá trị văn chương.
- Viết: bao gồm viết chính tả và viết bài văn.
Học sinh viết chính tả với tốc độ nhanh, chữ viết rõ ràng, trình bày đúng
quy định. Có 2 hình thức viết chính tả là nghe - viết và nhớ - viết. Ngoài ra
học sinh được ôn tập các quy tắc chính tả đã học, tập sửa lỗi chính tả.
Ở lớp 4 học sinh, học sinh được làm quen với việc lập dàn ý sơ lược, dàn
ý chi tiết cho một bài văn, viết mở bài (trực tiếp và gián tiếp), kết thúc bài.
Các em bắt đầu phải viết những bài văn hoàn chỉnh miêu tả đổ vật, cây cối,
con vật, củng cố văn viết thư, làm quen với việc viết giấy mời, thư mời, điện
báo
1.2.7.3. Vai trò của môn Tiếng Việt 4 với sự phát triển tưởng tượng của
học sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status