Cơ sở pháp lý và ý nghĩa của quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân. Nếu kết hôn là hiện tượng
bình thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn là hiện tượng bất bình thường, là mặt trái
của hôn nhân nhưng lại là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự không thể
hàn gắn. Trong trường hợp đó, ly hôn là một việc cần thiết cho cả vợ - chồng và cho xã hội; vì nó
giải quyết cho tất cả mọi người: vợ, chồng, các con cũng như các thành viên khác của gia đình có
thể thoát khỏi xung đột, mâu thuẫn bế tắc trong cuộc sống chung. Thực hiện nguyên tắc hôn nhân
tự nguyện và tiến bộ, đảm bảo quyền tự do hôn nhân bao gồm quyền tự do kết hôn của nam, nữ và
quyền tự do ly hôn của vợ chồng. Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, quyền yêu cầu ly hôn
nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật là quyền nhân thân gắn liền với nhân thân của
vợ, chồng; chỉ có vợ, chồng hay cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn.
Tuy nhiên, Nhà nước bảo hộ hôn nhân, bảo đảm quyền tự do ly hôn của vợ chồng không có
nghĩa là giải quyết ly hôn tùy tiện, theo ý chí, nguyện vọng của vợ chồng muốn sao làm vậy, mà
bằng pháp luật, Nhà nước kiểm soát việc giải quyết ly hôn, và trong một số trường hợp cần thiết
Nhà nước còn hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của công dân – cụ thể là người chồng. Bởi vì, trong
quan hệ hôn nhân, không phải chỉ có lợi ích riêng tư của vợ, chồng mà còn có lợi ích của những
thành viên khác trong gia đình như con cái…
Chính vì vậy, trong bài tập nhóm tháng 2 này, nhóm chúng em đã nghiên cứu về đề tài: “Cơ
sở pháp lý và ý nghĩa của quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn” nhằm hiểu rõ hơn về việc kiểm
soát này của Nhà nước.
I. Cơ sở pháp lý của việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn .
1. Một số khái niệm liên quan.
Theo khoản 8 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn
nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”.
Ðây là biện pháp cuối cùng mà luật cho phép thực hiện trong trường hợp cuộc sống vợ chồng lâm
vào tình trạng khủng hoảng mà không thể được khắc phục bằng bất kỳ biện pháp nào khác.
Nguyên nhân của sự khủng hoảng khá đa dạng: bất đồng ý kiến kéo dài, đối nghịch về quan niệm
sống, thần tượng sụp đổ, ngoại tình... Nhưng tất cả các trường hợp ly hôn đều có chung một đặc
điểm: vợ hoặc chồng hoặc cả hai không muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân và muốn được tự
do.
Trong đó Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định:

hôn, độ tuổi của vợ hoặc chồng mà không dựa trên tình trạng thực tế của quan hệ hôn nhân. Các
quy định này không thể hiện được tư tưởng tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và
trẻ em.
Trên thực tế chỉ từ Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đến nay thì các quy định về hạn chế
quyền yêu cầu ly hôn mới thể hiện được ý nghĩa tiến bộ của nó là bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và
trẻ em.
Cụ thể là trong Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959: “Trong trường hợp người vợ
có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh đẻ được một năm. Điều hạn chế này không áp
dụng đối với việc xin ly hôn của người vợ”; và Điều 41 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986:
“Trong trường hợp vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh con được một năm.
Điều hạn chế này không áp dụng đối với việc xin ly hôn của người vợ”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status