Tiểu luận Phân tích tác động của thuế tài nguyên - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quý giá do thiên nhiên ban tặng, thuộc sở hữu quốc gia do
Nhà nước thống nhất quản lý, có vai trò quan trọng đối với con người. Trong điều kiện công nghiệp
hoá - hiện đại hoá và quốc tế hoá sâu rộng như hiện nay, nhu cầu sử dụng tài nguyên cho phát triển
kinh tế quốc dân ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết đối với mỗi quốc gia, nhất là các loại tài
nguyên quý hiếm, tài nguyên không tái tạo như: dầu khí, than, đá, Bên cạnh các công cụ quản lý
hành chính như: cấp phép thăm dò, khai thác, chế biến, thì thuế tài nguyên là công cụ hữu hiệu để
Nhà nước kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, tăng thu ngân sách, định hướng sử
dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên và thân thiện với môi trường.
Tổ chức thu đúng, thu đủ và thu kịp thời thuế tài nguyên đối với các nguồn khai thác tài
nguyên trong lãnh thổ Việt là nhiệm vụ quan trọng của Cơ quan thuế Nhà nước, nhằm góp phần ổn
định nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thực hiện chính sách phát triển kinh tế đất nước, đồng thời
tạo lập được một môi trường phát triển trong lành, tránh tình trạng khai thác bừa bãi, thúc đẩy góp
phần đẩy mạnh cuộc sống con người ngày càng phát triển.
Trước bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, việc cắt giảm thuế suất và thực hiện
các chính sách ưu đãi thuế quan là quá trình tất yếu của Việt Nam khi gia nhập WTO, đồng thời cũng
là thách thức đối với cơ quan thuế trong việc hoàn thành chỉ tiêu thu Ngân sách Nhà nước. Chính vì
vậy, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế, em đã chọn đề tài: Phân tích tác động của thuế tài
nguyên.
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ KHÁI QUÁT VỀ THUẾ TÀI NGUYÊN
CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.1. Giới thiệu về thuế tài nguyên:
Thuế tài nguyên là thuế được thu đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác tài nguyên, bao gồm các hoạt động khai thác khoáng sản
kim loại và không kim loại, dầu thô, khí đốt, sản phẩm của rừng tự nhiên, hải sản tự nhiên, nước tự nhiên và các loại tài nguyên thiên nhiên
khác.
Mục đích của thuế tài nguyên là hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng, đồng thời tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà
nước và điều hoà quyền lợi của các tầng lớp dân cư về việc sử dụng tài nguyên.
1.2. Khái quát về thuế tài nguyên của các nước trên thế giới
a) Nhận xét chung
Các nước khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện về nguồn tài nguyên và chiến lược khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên để quy
định phương thức đánh thuế tài nguyên: có nước thu thuế tài nguyên (Natural resources tax), có nước áp dụng phân chia sản phẩm thu

3. Sri-lanka
Khoáng sản ở bất cứ dạng lỏng,
rắn hay khí, nằm trên hay dưới
mặt đất, gồm cả muối và than bùn
nhưng không tính hydro-carbons
Tính trên tổng
doanh thu
0,5% tổng doanh thu
4. Trung Quốc
Các loại tài nguyên
+ Dầu mỏ 8-30 NDT/tấn
+ Khí đốt thiên nhiên 2-15 NDT/nghìn m3
+ Than 0-3-5 NDT/tấn
+ Các loại quặng thô quặng phi kim khác 0-
5-20 NDT/tấn hoặc m3
+ Quặng thô quặng kim loại đen 2-30
NDT/tấn
+ Quặng thô quặng kim loại màu 0-4-30
NDT/tấn
+ Muối: Muối rắn 10-60 NDT/tấn; Muối
lỏng 2-10 NDT/tấn
Thuế TNDN:
Trung ương 33%;
Địa phương 3%
5. Mông Cổ
Áp dụng với việc khai thác tất cả
các loại tài nguyên thiên nhiên trừ
nước, xăng dầu và gas tự nhiên
Giá bán ấn định
dựa trên giá bán

Các loại tài nguyên Doanh thu 5% trên doanh thu khai thác quặng. Thuế TNDN: 32%
9.Bờ biển Ngà
-
Doanh thu
-Kim loại: 2-4%
-Kim loại quý : 1.5 -3% tuỳ loại
-Đá quý, kim cương: 5%
Không đánh thuế với nguyên vật liệu xây
dựng
Thuế TNDN: 35%
10. Nam Phi Các loại tài nguyên Doanh thu
Từ 0,5% đến 5% trên doanh thu khai thác
quặng
Thuế TNDN: 43%
11. Zambia
- Các kim loại cơ bản
- Đá quý, kim loại quý
- Khoáng sản khác
Tổng giá trị (giá
bán FOB) tại
điểm xuất khẩu
từ Zambia hoặc
điểm nhận hàng
trong nội địa
Zambia.
- 3% tổng giá trị với các kim loại cơ bản được
phép khai thác theo quy định tại giấy phép.
- 5% tổng giá trị đá quý hoặc kim loại quý theo
quy định tại giấy phép.
- 2% tổng giá trị với các khoáng sản khác

phức tạp, vô cơ hoặc hữu cơ, thường
tổn tại ở dạng chất rắn, và trong một
vài trường hợp đặc biệt dưới dạng
chất lỏng hoặc khí.
Dựa trên doanh
thu bán tài
nguyên trừ đi chi
phí vận chuyển,
phân tích …
Giá bán phải cao
hơn hoặc bằng
với giá có thể
nhận được từ
việc bán thành
phẩm cho bên
thứ 3.
- 0.5% áp dụng với sắt hoặc hợp kim sắt.
- 2% phi kim,
- 2.5% áp dụng với kim loại quý,
- 4% với đá quý,
- 1% với tài nguyên công nghiệp, chất rắn,
hydrocarbons và các chất khác,
- 0% áp dụng với vật liệu xây dựng.
Các loại chi phí
được giảm trừ::
a) Chi phí thuê
nhà xưởng phục
vụ hoạt động khai
thác.
b) Chi phí chung

Thuế TNDN: 50%
15. Vê-nê-zu-
êla
Các loại tài nguyên Giá bán
- Vàng: 1%
- Khoáng sản kim loại khác: 3%
Thuế TNDN: 30%
16. Pê ru
Các loại tài nguyên
-Khoáng sản kim loại: 2 USD/hecta/năm;
-Khoáng sản không kim loại: 1
USD/hecta/năm.
Thuế TNDN: 30%
17. Agentina
Các loại tài nguyên Doanh thu
- Một số tỉnh thu với mức thuế suất dưới 3%
trên doanh thu bán sản phẩm khai thác trừ đi
các chi phí sàng tuyển, phân loại quặng.
- Một số tỉnh không thu.
Thuế TNDN: 40%
18. Bolivia Các loại tài nguyên Doanh thu Dưới 9% trên doanh thu khai thác. Thuế TNDN: 25%
19. Brazil
Các loại tài nguyên Doanh thu
- Vàng: 3%
- Khoáng sản khác: Bio-xít, măng gan là 3%;
+ Quặng sắt, hoá chất, than và các khoáng
chất khác là 2%;
+ Các loại đá quý là 0,2%;
Thuế TNDN: 33%
20. Colombia Các tài nguyên dưới bất kỳ hình

- Các loại khác: 5% giá trị
Với các khoảng sản xuất khẩu, thuế tài
nguyên phải nộp khi giao hàng trên tàu,
thuyền hoặc máy bay.
Các khoáng sản được sử dụng trong nước,
thuế tài nguyên được tính dựa trên giá tài
nguyên thế giới.
24. Salomon
"Khoáng sản" có nghĩa là bất kỳ
chất được tìm thấy trong tự nhiên
hay trên trái đất hình thành tùy
thuộc vào quá trình tự nhiên, địa
chất, nhưng không bao gồm xăng
dầu
Dựa trên
nguyên lý giá trị
thị trường của tài
nguyên tại nơi
khai thác
Thuế suất thuế tài nguyên do Bộ Tài chính
quy định.
25. Kazactan Các kim loại, hợp kim, đá quý,
phi kim, nguyên vật liệu (cụ thể
tại phần thuế suất)
Tổng giá bán:
được tính toán
dựa vào giá trị
của tài nguyên
thương phẩm;
giá bán trung

quý, gas.
- Phi kim loại, muối, nước
khoáng
% quota của
giá trị sản phẩm
2% áp dụng với sắt và hợp kim sắt, đá alumi,
đá quý, ngọc, bùn, kim loại hiếm, than bùn
chữa bệnh, kim loại quý, gas.
- 6% ápdụng với phi kim loại
- 6% áp dụng cho đá, trừ các loại đá trang trí
có quota 10%; - 8% với muối
28. Hungary - Khoáng sản nguyên liệu là các
nguyên liệu có ích cho hoạt động
khoa học và kỹ thuật.
- Tài nguyên khoáng sản: được
xác định theo các tính toán về địa
chất, công nghệ khai thác và nền
công nghiệp khai khoáng.
Cơ sở tính thuế
là giá trị của
nguyên khoáng
sản nguyên liệu
- 12% của giá trị thu được từ số lượng
khoáng sản nguyên liệu, khai thác trên cơ sở
cấp phép chính thức
- 5% của giá trị thu được từ số lượng khoáng
sản khai thác nguyên vật liệu trên cơ sở cấp
giấy phép chính thức,
- 0% với khai thác sâu mỏ khoáng sản rắn.
- 2% của giá trị thu được từ số lượng khoáng sản

+ Thứ ba, như đã phân tích, thuế tài nguyên không đánh vào tất cả các hành vi tác động vào tài
nguyên mà chỉ điều tiết vào hành vi của các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp
pháp theo quy định của pháp luật.
+Thứ tư, mục tiêu cơ bản của thuế tài nguyên là nhằm điều tiết một phần thu nhập của tổ chức, cá
nhân có hành vi khai thác tài nguyên vào ngân sách nhà nước trên cơ sở đó quản lý hoạt động khai
thác tài nguyên thiên nhiên của quốc gia.
Thuế tài nguyên là loại thuế thu vào hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên của tổ chức, cá nhân.
Hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên là sự kiện pháp lý làm phát sinh thuế tài nguyên (không
phải hành vi sử dụng tài nguyên thiên nhiên).
Việc thu thuế tài nguyên hiện nay dựa trên cơ sở pháp lý là Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 và
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6, Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 2008. Pháp lệnh Thuế tài nguyên
năm 1998 sẽ hết hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/2010 khi Luật Thuế tài nguyên có hiệu lực. Theo
Điều 2 Luật Thuế tài nguyên, phần lớn đối tượng chịu thuế tài nguyên là tài nguyên khoáng sản, như:
khoáng sản kim loại, khoáng sản không kim loại, dầu thô, khí than, khí thiên nhiên, nước nóng thiên
nhiên và nước khoáng.
Khi Luật Thuế tài nguyên có hiệu lực thì các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản có nghĩa vụ nộp
thuế tài nguyên phải quan tâm đến những vấn đề sau:
+ Thứ nhất, quy định về thuế suất. Có thể nói, thuế suất được xem như là “linh hồn” của một sắc
thuế. Việc xác định mức thuế suất như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số tiền nộp thuế của các
chủ thể khai thác tài nguyên thiên nhiên nói chung cũng như các chủ thể khai thác khoáng sản nói
riêng. Biểu thuế suất này được quy định trong Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 và Pháp lệnh số
07/2008/PL- UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998. Trước sự
biến động của nền kinh tế, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1998 đã
điều chỉnh khung thuế suất thuế tài nguyên nhằm góp phần điều tiết kịp thời lợi nhuận của doanh
nghiệp khai thác khoáng sản khi giá cả biến động. Có thể nói, trên thực tế, việc áp dụng mức thuế
suất trong một biên độ rộng theo quy định của Pháp lệnh năm 2008 là điều không đơn giản vì sự
chênh lệch quá cao giữa biểu thuế suất. Sự chênh lệch này sẽ làm khó cho cơ quan tính thuế khi nào
thì áp dụng mức thuế suất sàn và khi nào áp dụng mức thuế suất trần. Nhằm tăng tính hiệu quả và
hợp lý cho việc thu thuế tài nguyên, biểu thuế suất trong Luật Thuế tài nguyên đã được thu hẹp lại
biên độ bằng việc tăng mức sàn và hạ mức trần. Việc điều chỉnh này hướng tới hầu hết tài nguyên

chính sách thuế tài nguyên, một số quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như
Luật Dầu khí, Luật Đầu tư và thực tế triển khai thực hiện, Pháp lệnh thuế Tài nguyên đã bộc lộ
những bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung. Do đó, tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội XII đã thông qua Luật
Thuế Tài nguyên, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2010. Nhằm tăng tính hiệu quả và hợp lý cho việc
thu thuế Tài nguyên, biểu thuế suất trong Luật thuế Tài nguyên đã được thu hẹp lại biên độ bằng việc
tăng mức sàn và hạ mức trần. Việc điều chỉnh này hướng tới hầu hết tài nguyên thuộc nhóm khoáng
sản kim loại và một số tài nguyên quý hiếm khác.
Đối tượng chịu thuế này đều có mức thuế suất sàn tăng vì đây là những tài nguyên không thể tái tạo,
có giá trị lớn. Việc xác định biểu thuế suất này vẫn nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách Nhà nước,
đồng thời góp phần nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên quốc gia từ phía các chủ thể tiến hành khai
thác. Việc áp dụng thuế và phí trong bảo vệ môi trường là những hình thức thể hiện của nguyên tắc
“người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Thuế và phí đều là những nguồn thu phải nộp vào ngân sách Nhà
nước. Theo đó, đối tượng chịu thuế so với qui định trước đây đã loại “động vật của rừng tự nhiên” ra
khỏi đối tượng chịu thuế. Bổ sung thêm “khí than” vào đối tượng chịu thuế. Riêng sản phẩm của
rừng tự nhiên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên không bao gồm hồi, quế, sa nhân, thảo quả do
người nộp thuế (NNT) trồng tại khu vực rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi và bảo vệ. Đồng thời,
Thuế Tài nguyên đã nâng mức thuế tối thiểu của khung thuế suất đối với các loại tài nguyên thuộc
nhóm kim loại và một số loại tài nguyên quý hiếm khác; bỏ thuế suất 0% và qui định tài nguyên
không tái tạo phải áp dụng mức thuế suất cao; mở rộng đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế
2.2.2. Thuế tài nguyên góp phần ổn định sản xuất và chống lạm phát
Tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Trong điều kiện các nguồn lực để phát triển kinh tế còn chưa đủ mạnh thì tài nguyên là một
trong những nguồn lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước (theo số liệu Quyết
toán thu ngân sách năm 2007 thì: Số thu từ dầu khí chiếm 24% tổng số thu ngân sách = 78.634 tỷ
đồng/327.911 tỷ đồng. Số thu thuế tài nguyên là 23.992 tỷ đồng (chiếm 7.32% tổng số thu ngân sách
= 23.992/327.911 tỷ đồng; chiếm 13,11% tổng thu nội địa = 23.992/182.993 tỷ đồng).
Trong thời gian vừa qua, sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác, chế biến tài nguyên đã cung
cấp nguồn nguyên liệu đầu vào đáng kể cho các ngành sản xuất khác, hạn chế sự phụ thuộc vào
nguồn nguyên liệu nhập khẩu, góp phần ổn định sản xuất trong nước, tạo công ăn việc làm, tăng thu
nhập cho lao động, nâng cao đời sống nhân dân.

thức đầu tư khai thác, chế biến tài nguyên hợp lý và lựa chọn đường lối phát triển kinh tế xã hội thích
hợp với điều kiện địa phương mình. Tăng cường công tác quản lý và cấp phép khai thác, kinh doanh
tài nguyên khoáng sản, lựa chọn nhà đầu tư đủ điều kiện, tiềm lực để khai thác, chế biến tài nguyên;
có chính sách khuyến khích đầu tư chế biến sâu nâng cao giá trị tài nguyên. Từ đó, tài nguyên ngày
càng được quản lý chặt chẽ hơn, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên, bảo vệ môi
trường.
2.3. Những khó khăn và thuận lợi trong việc thu thuế
2.3.1. Những thuận lợi
( Tăng cường quản lý nhà nước đối với tài nguyên, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có
hiệu quả; bảo vệ môi trường.
( Kế thừa, luật hoá các quy định của pháp luật hiện hành về thuế liên quan đến tài nguyên còn phù
hợp. Khắc phục những mặt hạn chế, chưa đầy đủ của chính sách thuế tài nguyên hiện hành.
( Thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tiếp tục cải cách, xây dựng hệ thống
thuế đồng bộ, phù hợp với các quy định của Hiến pháp, tính thống nhất và đồng bộ với các văn bản
pháp luật khác có liên quan.
( Góp phần đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách nhà nước.
2.3.2. Những khó khăn
Trong quá trình thực hiện chính sách thuế, việc tính thuế tài nguyên đang có nhiều bất cập và vướng
mắc:
( Công tác điều tra đánh giá nguồn tài nguyên khoáng sản của quốc gia cũng như những điểm mỏ do
địa phương quản lý không được coi trọng. Và theo đó công tác quy hoạch phát triển ngành khai
khoáng của địa phương hoàn toàn bị bỏ qua. Các điểm mỏ hàng ngày bị xé nhỏ, cấp phép tràn lan
cho các doanh nghiệp không có kinh nghiệm kỹ thuật công nghệ, không có tiềm lực tài chính, không
có đánh giá địa chất đầy đủ để có thể quyết định đầu tư chế biến sâu ra các sản phẩm có giá trị
thương mại cao hơn sản phẩm thô. Từ đó hạn chế nguồn thu thuế
( Sự chênh lệch quá cao giữa biểu thuế suất quy định so với thực tế cũng gây không ít khó khăn cho
cơ quan tính thuế. Chẳng hạn, quy định khoáng sản không kim loại có khung biểu thuế suất (từ 3 -
15%). Với biên độ khá lớn này, khi nào tính thuế suất 3% và khi nào tính 15%
( Chưa đưa các loại tài nguyên như không khí, vùng biển, vùng trời, kho số, tần số, các nguồn năng
lượng (gió, ánh sáng mặt trời)… vào đối tượng chịu thuế tài nguyên.

tạo (tốt nghiệp các trường kinh tế, tài chính, kế toán, thương mại, ngoại thương). Ưu tiên bố trí
những cán bộ đã làm công tác thuế, giá lâu năm, dày dặn kinh nghiệm thực tế.
- Công tác đào tạo: Song song với việc hoàn thiện mô hình tổ chức, tiếp tục thực hiện công tác
đào tạo nâng cao trình độ, năng lực của cán bộ làm công tác thuế, giá tại các Chi cục trực thuộc đặc
biệt là cán bộ làm công tác kiểm tra.
- Xây dựng chế độ khen thưởng: khen thưởng định kỳ, đột xuất đối với những trường hợp có
thành tích trong công tác phát hiện gian lận, truy thu thuế cho Nhà nước và các Chi Thuế Tài nguyên
cần được hoàn thiện theo hướng đơn giản hóa cơ cấu thuế suất để nâng cao khả năng kiểm soát,
chống gian lận thương mại, theo đó cần giảm bớt số lượng các mức thuế suất, loại bỏ việc áp dụng
nhiều mức thuế suất đánh vào các sản phẩm cùng loại. Đồng thời cần xác lập rõ hệ thống phân loại
các mức thuế suất. hoàn chỉnh các qui trình, qui chế thực hiện các biện pháp chế tài để đảm bảo thực
thi nghiêm túc Luật thuế Tài nguyên không để nợ thuế quá hạn hàng quí, năm.
- Để phát triển công nghiệp khai khoáng và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản
trên địa bàn các tỉnh phải bắt đầu từ các dự án khai thác mỏ, cần theo đúng Luật Khoáng sản và theo
cam kết của các doanh nghiệp, nếu dự án không triển khai theo đúng tiến độ thì sẽ bị thu hồi. Các dự
án hết hạn đều không cho gia hạn.
KẾT LUẬN
Trên đây là toàn bộ nội dung của đề tài tiểu luận Phân tích tác động của Thuế tài nguyên. Từ
chương 1 là giới thiệu về thuế tài nguyên và khái quát về một số luật thuế tài nguyên ở các quốc gia
trên thế giới, đến chương 2 là khái quát về Luật Thuế Tài nguyên của Việt Nam, số 45/2009/QH12
do Quốc Hội ban hành có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2010. Qua đó, phân tích tác động của luật thuế
tài nguyên tới các mặt đời sống kinh tế - xã hội, những điểm thuận lợi, khó khăn khi thi hành luật
thuế tài nguyên. Cuối cùng, đưa ra những kiến nghị chỉ mang tính định hướng, gợi mở về luật thuế
tài nguyên . Do thời gian có hạn và kiến thức còn nhiều hạn chế, nên đề tài tiểu luận không thể tránh
khỏi những thiết sót, những vấn đề chưa phân tích thỏa đáng , rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của Thầy.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status