146
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
TRẦN THỊ THANH KHẢO SÁT LỖI PHÁT ÂM PHỤ ÂM TIẾNG ĐỨC
CỦA SINH VIÊN HỌC CHUYÊN NGÀNH TIẾNG
ĐỨC VÀ CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI -2008
PGS.TS. VŨ KIM BẢNG HÀ NỘI -2008
3
môc lôc Trang
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Phạm vi và nội dung của đề tài 8
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 8
2.2. Nội dung của luận văn 8
2.3. Giới hạn của đề tài 9
3. Phƣơng pháp nghiên cứu 9
4. Những đóng góp của luận văn 10
5. Bố cục của luận văn 01
CHƢƠNG 1: Những khái niệm liên quan 11
1. Các tiêu chí phân loại và miêu tả phụ âm 11
2. Cấu trúc âm tiết và hệ thống phụ âm tiếng Đức. 12
2.1. Cấu trúc âm tiết tiếng Đức. 12
2.2. Hệ thống phụ âm tiếng Đức 13
2.3. Miêu tả các nét khu việt của phụ âm tiếng Đức. 16
2.3.1. Các phụ âm tắc. 16
1.4.1. Quan niệm về lỗi phát âm 43
1.4.2. Cách xác định lỗi cụ thể 43
1.4.3. Phân loại, thống kê và miêu tả các dạng lỗi phát âm
phụ tiếng Đức. 45
2. Kết quả phân tích các lỗi phát âm phụ âm tiếng Đức 47
2.1. Các phụ âm đơn 47
2.1.1. Phụ âm đơn đứng trƣớc nguyên âm 47
2.1.2. Phụ âm đơn đứng giữa nguyên âm. 48
5
2.1.3. Phụ âm đứng sau nguyên âm 50
2.2. Các cụm phụ âm 52
2.2.1. Cum phụ âm đứng trƣớc nguyên âm 52
2.2.2. Cum phụ âm đứng sau nguyên âm 57
CHƢƠNG 3: Bước đầu giải thích nguyên nhân gây lỗi và một số
biện pháp khác phục hồi lỗi phát âm 67
1. Các nguyên nhân gây lỗi 67
1.1. Giao thoa ngôn ngữ 68
1.2. Giáo trình tiếng Đức. 72
1.3. Phƣơng pháp dạy ngoại ngữ. 73
1.4. Môi trƣờng học 73
1.5. Ý thức về việc rèn luyện phát âm 74
1.6. Đặc điểm tâm lý ngƣời Việt khi học ngoại ngữ 75
2. Giài pháp đề nghị đối với việc khắc phục các lỗi phát âm phụ
âm tiếng Đức 75
2.1. Truyền đạt kiến thức ngữ âm cơ bản đồng thời với việc
luyện tập phát âm 76
2.2. Bài tập luyện phát âm phụ âm tiếng Đức 78
2.3. Tạo một môi trƣờng học ngoại ngữ thuận lợi 86
2.4. Thái độ đối với lỗi phát âm 89
Đối tƣợng mà chúng tôi quan tâm là cách phát âm hệ thống phụ âm tiếng Đức và những lỗi phát âm
điển hình về phụ âm của các sinh viên năm thứ hai, chuyên ngành tiếng Đức, khoa Ngoại ngữ của Đại học
dân lập Phƣơng Đông. Các sinh viên này sẽ học chuyên tiếng Đức liên tục 4 năm để nhận bằng Cử nhân
tiếng Đức.Việc lựa chọn thời điểm này để khảo sát năng lực phát âm của sinh viên, chúng tôi muốn xác
định: những lỗi phát âm điển hình nào còn tồn tại sau khi kết thúc quá trình học thực hành tiếng để chuyển
sang giai đoạn học lí thuyết tiếng. Từ đó đề ra các biện pháp sớm khắc phục lỗi phát âm của sinh viên Việt
Nam học tiếng Đức với tƣ cách là một ngoại ngữ.
2.2. Nội dung của luận văn
Luận văn của chúng tôi thực hiện 3 nội dung cơ bản sau:
- Xác định các dạng lỗi phát âm phụ âm mà sinh viên hay mắc phải trên cơ sở khảo sát cách phát âm
các phụ âm của sinh viên năm thứ hai trƣờng Đại học dân lập Phƣơng Đông.
- Giải thích các nguyên nhân gây lỗi trên cơ sở so sánh đối chiếu cấu trúc âm tiết và hệ thống phụ
âm giữa tiếng Đức và tiếng Việt; các nguyên nhân bên ngoài gây ra lỗi phát âm, ví dụ: giáo trình dạy tiếng,
môi trƣờng dạy tiếng
- Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục các lỗi phát âm phụ âm của sinh viên Việt
Nam học tiếng Đức. Các giải pháp này có tính đến đặc điểm khác biệt mang tính loại hình giữa hai ngôn
ngữ; đặc điểm ngƣời học; môi trƣờng dạy ngoại ngữ Hệ thống các bài tập dạy phát âm các phụ âm tiếng
Đức đƣợc xem là biện pháp cụ thể nhằm mục đích giúp sinh viên trong một thời gian ngắn phát âm lƣu loát
và chuẩn xác.
2.3. Giới hạn của đề tài
3
Luận văn này giới hạn phạm vi nghiên cứu là cách phát âm và các lỗi phát âm về phụ âm của sinh
viên Việt Nam khi học tiếng Đức. Thực tế, trong khi học tiếng Đức, do sự khác biệt về loại hình, sinh viên
việt Nam còn mắc các lỗi ngữ âm khác nhƣ: lỗi phát âm nguyên âm, lỗi trọng âm, ngữ điệu Những vấn đề
đó cần đƣợc nghiên cứu sâu bằng các chuyên luận khác.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nội dung của luận văn này là phân tích lỗi phát âm. Do vậy, các bƣớc tiến hành điều tra lỗi tuân thủ
theo các bƣớc:
Kết quả của điều tra lỗi sẽ đƣợc trình bày bằng phƣơng pháp: phân loại, thống kê và miêu tả.
ra bằng cách kết hợp cả phƣơng thức tắc và xát đƣợc gọi là những phụ âm tắc xát (afficative).
a) có sự tham gia của dây thanh hay không, ta có các phụ âm vô thanh và hữu thanh;
5
b) lối thoát của luồng hơi đi ra qua miệng hay qua mũi ta có phụ âm tắc nổ hay tắc vang và c) luồng
hơi thoát ra theo chính giữa hay hai bên của khoang miệng, chúng ta có các âm xát giữa hay xát bên.
Bảng các ký hiệu phụ âm quốc tế IPA (1993)
2. Cấu trúc âm tiết và hệ thống phụ âm tiếng Đức
2.1. Cấu trúc âm tiết tiếng Đức
Giống nhƣ các ngôn ngữ khác, trong tiếng Đức, vị trí hạt nhân hay đỉnh của âm tiết là một nguyên
âm (đơn hay đôi). Kết hợp với hạt nhân là các phụ âm hay nhóm phụ âm đứng ở vị trí trước (onset) hay sau
(coda) để tạo thành âm tiết.
Ở vị trí trƣớc hạt nhân âm tiết có thể tồn tại một phụ âm, tổ hợp hai hoặc nhiều nhất là ba phụ âm.
Còn ở vị trí sau hạt nhân có thể tồn tại từ một đến nhiều nhất là tổ hợp năm phụ âm nhƣ sơ đồ dƣới đây:
2.2. Hệ thống phụ âm tiếng Đức
a. Tiêu chí phân loại
Phụ âm (consonant) là những âm đƣợc phát ra bị một cản trở nào đó, nhƣ qua khe hở của dây thanh,
sự tiếp xúc của đầu lƣỡi với răng, sự khép chặt của môi làm cho tiếng phát ra không dễ nghe, không êm
tai, có tiếng động, tần số không ổn định. Ví dụ phụ âm /b/, /v/, /f/ So với việc phỏt õm của nguyờn õm thỡ
sự phỏt õm của phụ õm khú hơn, cần luyện tập nhiều mới phát âm đúng đƣợc. Cũn cú những õm vừa cú
tớnh chất phụ õm vừa cú tớnh chất nguyờn õm nờn gọi là những bỏn phụ õm (semei - consonant).
Trong phõn tích đối chiếu để xác định lỗi phát âm, chúng ta cần xác định cơ sở miêu tả ngữ âm. Đặc
điểm cơ bản của phụ âm là khi phát âm chúng đƣợc cấu tạo bằng luồng không khí bị cản trở. Sự cản trở này
xảy ra ở những mức độ khác nhau.
6
2.3. Miêu tả các nét khu biệt của phụ âm tiếng Đức
2.3.1. Các phụ âm tắc
Đối với các PA tắc luồng hơi bị tắc lại hoàn toàn tại một vị trí nào đó trong khoang miệng, do hai
môi, đầu lƣỡi hoặc gốc lƣỡi và sau đó luồng hơi đƣợc xả ra với tiếng bật nổ nhẹ. Có 3 cặp PA tắc, mỗi cặp
Druck
5. [g]
g
Organ
6. [k]
k/ c
Kiste/ Caritas
7. [z]
s
Seife
8. [s]
s/ ss -
Hast/ Essen/ Spa
9. []
g
Garage
10. []
sch
Schule
11. [j]
j
Jagd
12. []
ch
Bucher
13. []
ch
Rauch
14. [v]
w
qu
Quelle
[ks]
x
Xenophobic
[ts]
z
Zaum 9
3. Âm tiết và hệ thống phụ âm tiếng Việt
3.1. Âm tiết tiếng Việt
Đặc điểm âm tiết tiếng Việt Tiếng Việt đƣợc xếp vào loại hình ngôn ngữ đơn lập
Cấu trúc âm tiết tiếng Việt Âm tiết tiếng Việt là một đơn vị hiển nhiên, có thể nhận diện một cách
đơn giản do các đặc điểm sau:
Trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, phụ âm đảm nhiệm vị trí âm đầu và âm cuối. Điểm đặc biệt và
cũng là khác biệt của cấu trúc âm tiết tiếng Việt so với cấu trúc âm tiết của các ngôn ngữ biến hình trong đó
có tiếng Đức là:
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn tiết tính mang thanh điệu có cấu trúc âm tiết đơn giản theo mô hình
CVCâm. Trong cấu trúc này hai yếu tố bắt buộc phải tồn tại là nguyên âm và thanh điệu.
Trong tiếng Việt, giữ vai trò hạt nhân âm tiết có thể có từ một nguyên âm đến tổ hợp 3 nguyên âm
trong khi ở vị trí đầu và cuối của âm tiết lại chỉ có thể là một phụ âm. Trong thực tế tồn tại 12 loại âm tiết:
3.2. Hệ thống phụ âm tiếng Việt
3.2.1. Hệ thống phụ âm đầu
Trong tiếng Việt, phụ âm đầu là thành phần mở đầu âm tiết. Nó tƣơng đối độc lập so với các thành
phần khác là: âm đệm, vần và thanh điệu.
Hệ thống phụ âm đầu của tiếng Việt đƣợc thể hiện khá đa dạng ở các phƣơng ngữ khác nhau cả về
mặt số lƣợng và chất lƣợng. Tuy nhiên, hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt có số lƣợng đầy đủ nhất đƣợc phản
ánh trong hệ thống chữ Quốc ngữ với 22 âm vị. Âm tắc họng [] không có chữ cái thể hiện.
[
,
,
, j ]
c) Những điều cần chú ý về sự không tương ứng giữa âm và chữ trong tiếng Đức:
• Chữ viết theo hệ Latinh nhưng lại phát âm khác
Chữ viết v ở đầu âm tiết đƣợc phát âm thành [f]
Chữ viết s ở đầu âm tiết đƣợc phát âm thành [z]
• Cùng một chữ viết nhưng đứng trước nguyên âm và sau nguyên âm lại phát âm khác nhau:
Các phụ âm hữu thanh [b, d, g] khi đứng ở cuối âm tiết bị vô thanh hoá trở thành các phụ âm [p, t,
k].
Các âm [] và [x] trong tiếng Đức đƣợc thể hiện bằng chữ viết ch vốn là hai biến thể vị trí của một
âm vị: sẽ đƣợc phát âm là [x] nếu trƣớc chữ viết ch là các nguyên âm a, o và u; trong các trƣờng hợp còn
lại, đƣợc phát âm là [].
4.2.2. Tổ hợp các phụ âm
Trong tiếng Việt không có tổ hợp phụ âm. Do vậy, tất cả các tổ hợp phụ âm trong cấu trúc âm tiết
tiếng Đức đều khác với cấu trúc âm tiết tiếng Việt.
5. Khái niệm giao thoa và lỗi phát âm
12
5.1. Khái niệm giao thoa
Khỏi niệm giao thoa bắt nguồn từ tiếng Latinh chỉ một hiện tƣợng õm học: inter (giữa, lẫn nhau);
ferire (hiệu quả) tức hiện tƣợng giao thoa của õm thanh trong tự nhiờn. Khỏi niệm này đƣợc chuyển theo
phộp ẩn dụ cho quỏ trỡnh tỏc động qua lại giữa ngụn ngữ thứ nhất (L1) và ngụn ngữ thứ hai (L2) trong quỏ
trỡnh học ngoại ngữ.
Cỏc loại giao thoa trong học ngoại ngữ:
Nếu so sỏnh L1 và L2 để cắt nghĩa cho hiện tƣợng giao thoa thỡ về nguyờn tắc chỉ xảy ra 2 khả
CHƢƠNG II:
CÁC DẠNG LỖI ĐIỂN HÌNH VỀ PHÁT ÂM
PHỤ ÂM TIẾNG ĐỨC
1. Phương pháp xác định lỗi phát âm phụ âm tiếng Đức
14
1.1. Xây dựng bảng từ khảo sát lỗi
Nguyên tắc xây dựng bảng từ khảo sát lỗi
Bảng từ xây dựng phục vụ mục đích xác định lỗi phát âm phụ âm tiếng Đức áp dụng cho sinh viên
bắt đầu học năm thứ hai, chuyên ngành tiếng Đức tại ĐHDL Phƣơng Đông.
- Bao gồm tất cả các âm vị phụ âm tiếng Đức (21 âm vị) trong các bối cảnh khác nhau (các biến thể
vị trí) lấy nguyên âm làm hạt nhân, âm tiết làm cơ sở, tức là các phụ âm đó đứng trƣớc hay sau nguyên âm
hạt nhân.
- Bao gồm các cụm phụ âm tiêu biểu nhất của tiếng Đức trong các bối cảnh khác nhau lấy nguyên
âm làm hạt nhân âm tiết làm cơ sở, tức là các cụm phụ âm đó đứng trƣớc hay sau nguyên âm hạt nhân.
1.2. Chọn đối tượng để khảo sát lỗi phát âm
Hiện nay, tại trƣờng ĐHDL Phƣơng Đông có 4 lớp sinh viên đang theo học từ năm thứ nhất đến
năm thứ tƣ. Giáo trỡnh giảng dạy là giỏo trỡnh đƣợc áp dụng nhƣ đối với các trƣờng Đại học quốc lập có
tên: Themen aktuell Band I, II III và EM- Brỹckenkurs, EM-Hauptkurs, EM-Abschlus-kurs. Trƣờng ĐHDL
Phƣơng Đông hiện nay có trụ sở chính là phố Trung Kính, số 210B. Để có đƣợc một kết quả khách quan,
chúng tôi đó chọn đối tƣợng cho thu băng cho luận văn là các em sinh viên đang theo học Tiếng Đức năm
thứ hai tại trƣờng ĐHDL Phƣơng Đông.
1.3. Các bước thu thập tư liệu
Để tiến hành thu thập tƣ liệu, chúng tôi đã tiến hành ghi âm cách phát âm của mỗi em tại lớp học,
trong phạm vi trƣờng đại học. Việc ghi âm đƣợc tiến hành theo trật tự:
15
Bƣớc 1: Do thƣờng dạy các em trên lớp nên tôi cũng có những điều kiện thuận lợi nhất định trong
việc gặp gỡ, trao đổi công việc và hẹn giờ, ngày để các em sắp xếp thời gian và sau đó tôi tiến hành làm
phiếu bốc thăm.
tiếng Việt chỉ là các phụ âm tắc vô thanh.
2.1.3. Phụ âm đứng sau nguyên âm
Loại lỗi đầu tiên là các phụ âm cuối vô thanh [p, t, k] (các từ từ 1 đến 6) đƣợc các sinh viên đọc
thành các từ có phụ âm cuối là [b, d, g]. Nguyên nhân ở đây là do chữ viết trong tiếng Đức vân viết là các
âm hữu thanh: b, d, g nhƣng chúng lại bị vô thanh hoá ở vị trí này.
CHƢƠNG III:
BƯỚC ĐẦU GIẢI THÍCH NGUYÊN NHÂN GÂY LỖI
VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI PHÁT ÂM
17
Những lỗi phát âm của sinh viên học tiếng Đức tại trƣờng ĐHDL Phƣơng đông đã đƣợc chúng tôi
thống kê, miêu tả cụ thể ở Chƣơng II. Trong chƣơng này, chúng tôi thử tìm cách lí giải các nguyên nhân
gây ra lỗi phát âm để từ đó tìm những giải pháp khắc phục các lỗi đó.
18
1. Cỏc nguyờn nhõn gõy lỗi
Nguyên nhân gây lỗi trong việc học tiếng Đức nói chung và lỗi phát âm nói riêng của sinh viên Việt
Nam do những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Tuy nhiên, phân định một cách rạch rũi, minh bạch
từng nguyờn nhõn thuộc về phớa nào lại là một vấn đề không đơn giản.
Có những nguyên nhân không hoàn toàn là chủ quan hay khách quan, ví dụ nhƣ môi trƣờng học
tiếng Đức. Hiện nay, tại Hà Nội có nhiều môi trƣờng giao tiếp tiếng Đức nhƣ Viện Goethe hay DAAD nằm
trong khuôn viên Trƣờng Đại học Bách khoa
1.1. Giao thoa ngụn ngữ
Những kết quả về lỗi phát âm đƣợc chúng tôi trỡnh bày trong Chƣơng II, trƣớc hết đƣợc giải thích
bằng nguyên nhân trực tiếp là giao thoa ngôn ngữ. Sâu sa hơn là sự khác biệt mang tính loại hỡnh giữa hai
ngụn ngữ dẫn tới sự giao thoa ngụn ngữ. Đó có thể coi là nguyên nhân cơ bản nhất, mang tính tất yếu.
1.1.1. Sự khỏc biệt giữa hai hệ thống phụ õm
Nhƣ đó trỡnh bày ở Chƣơng I, nếu chỉ xét hệ thống phụ âm đơn thỡ về cơ bản giữa tiếng Đức và
tiếng Việt khá giống nhau. Có tới 17 phụ âm đơn tiếng Đức tƣơng ứng với các phụ âm tiếng Việt (xét một
Phƣơng pháp dạy ngoại ngữ thực sự đƣa lại hiệu quả hoặc hạn chế hiệu quả của giờ học.
Thực tế là trong điều kiện Việt Nam hiện nay, phần lớn các thầy, cô giáo chúng tôi vẫn thƣờng chỉ
sử dụng đƣợc các phƣơng pháp dạy học truyền thống theo chủ nghĩa hành vi (Behaviorismus), trú trọng
20
nhiều đến cấu trúc, bảng biểu và cách lặp lại các bài tập trong đó có bài tập luyện âm, ít chú ý đến các hoạt
động thực hành và kỹ năng nghe - nói.
1.4. Môi trường học
Sinh viên Việt Nam học tiếng Đức ở Trƣờng ĐHDL Phƣơng Đông, chủ yếu do các giáo viên ngƣời
Việt Nam giảng dạy. Có thể nói đây là một nguyên nhân quan trọng góp phần gây lỗi phát âm trong quá
trình học tiếng Đức.
1.5. Ý thức về việc rèn luyện phát âm
Thông thƣờng, trong dạy và học ngoại ngữ, ngƣời học quan tâm nhiều đến các qui tắc ngữ pháp
nhƣ: các phạm trù ngữ pháp; các qui tắc hình thái và phép đặt câu Điều này dẫn đến tâm lí cả ngƣời dạy
và ngƣời học ít quan tâm, coi trọng việc luyện tập phát âm.
Một thực tế khác là các qui tắc ngữ pháp quá nhiều, ngƣời học luôn phải lo học các qui tắc này để
“đối phó” với các bài tập phải làm trong mỗi giờ học hoặc bài tập về nhà. Do vậy, họ ít có thời gian “quan
tâm” đến vấn đề phát âm.
1.6. Đặc điểm tâm lý người Việt khi học ngoại ngữ
Lý do cuối cùng, theo chúng tôi là đặc điểm đáng chú ý thuộc về tính cách của ngƣời Việt nói chung
và của sinh viên học ngoại ngữ nói riêng: sự rụt rè, không tự tin và không cởi mở. Mặc dù, khi hỏi nhiều
sinh viên đều thấy rằng học ngoại ngữ trong đó có tiếng Đức là việc làm cần thiết. Nhiều em có động cơ học
tập đúng đắn nhƣng do tính rụt rè, e ngại nên các em không dám giao tiếp bằng ngoại ngữ trƣớc các bạn,
đặc biệt là trƣớc thầy cô.