1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN ĐỨC THỊNH
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA BÁC SĨ VỚI BỆNH NHÂN
TRONG QUÁ TRÌNH KHÁM, CHỮA BỆNH TẠI TRUNG TÂM
Y HỌC HẠT NHÂN VÀ UNG BƯỚU VÀ MỘT SỐ KHOA LÂM
SÀNG TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Tâm lý học
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thu Hương Hà Nội, 2012 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1. Tổng quan một số nghiên cứu về giao tiếp (GT) và đặc điểm
giao tiếp 12
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài 12
1.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam về giao tiếp và đặc điểm giao tiếp 14
1.2. Một số khái niệm cơ bản 17
1.2.1. Khái niệm về giao tiếp 17
1.2.1.1. Giao tiếp và hoạt động 17
1.2.2. Đặc điểm giao tiếp 22
1.3. Giao tiếp của bác sĩ trong quá trình khám chữa bệnh 29
1.3.1. Giao tiếp của bác sĩ với bệnh nhân 29
1.3.2. Đặc trưng của hoạt động khám chữa bệnh, và đặc điểm giao tiếp
3.1.4. Phong cách giao tiếp của bác sĩ với người bệnh. 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1. Kết luận 84
2. Kiến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 83 6
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Nội dung giao tiếp của bác sĩ với bệnh nhân trong quá trình khám
chữa bệnh 48
Bảng 2: Phạm vi giao tiếp của bác sĩ với bệnh nhân 50
Bảng 3: Thời điểm giao tiếp của bác sĩ với người bệnh 55
Bảng 4. So sánh thời điểm giao tiếp theo giới 57
Bảng 5: Mục đích giao tiếp của bác sĩ với bệnh nhân 58
Bảng 6. So sánh sự khác nhau theo trình độ văn hóa của bác sĩ trong
mục đích giao tiếp với bệnh nhân. 61
Bảng 7. Tự đánh giá của bác sĩ về khả năng giao tiếp. 64
Bảng 8. Tự đánh giá kỹ năng giao tiếp với NB của BS 68
Bảng 9. So sánh kỹ năng giao tiếp của BS theo kinh nghiệm làm việc 70
Bảng 10. Những kỹ năng giao tiếp cần thiết trong quá trình khám bệnh. 73
Bảng 11: Những kỹ năng giao tiếp cần thiết trong quá trình chữa bệnh
(đi buồng) của BS. 74
Bảng 12: Biểu hiện phong cách giao tiếp của BS với NB (qua ý kiến đánh giá
của BS và NB) 78
Bảng 13: Đánh giá mức độ cần thiết các phẩm chất giao tiếp của BS với NB 80
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Giao tiếp hợp lý, đúng hướng với người bệnh không những là điều kiện,
phương tiện cần thiết giúp cho người thầy thuốc chẩn đoán chính xác bệnh tật,
mà còn là một trong những liệu pháp tâm lý mang lại nhiều hiệu quả to lớn.
8
Nói cách khác, sự nghiệp đổi mới đất nước đang đặt ra những yêu cầu
ngày càng lớn đối với ngành Y tế, đòi hỏi người bác sĩ vừa phải có năng lực
chuyên môn y học cao, nhưng đồng thời vừa phải thiết lập mối quan hệ tốt đẹp
với người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh. “Lương y như từ mẫu“ được
xem là một quy điều quan trọng trong y đức mà người thầy thuốc nào cũng
phải tuân thủ theo. Như vậy, có thể khẳng định, giao tiếp là phương tiện không
thể thiếu trong quá trình thăm khám chữa bệnh giữa người bệnh và bác sĩ. Điều
này thể hiện ở hoạt động trao đổi thông tin, tác động qua lại lẫn nhau mà trong
đó, bác sĩ chính là người tiếp xúc, giao tiếp trực tiếp với người bệnh. Mối quan
hệ trên đóng vai trò quan trọng trong việc làm thỏa mãn hay không thỏa mãn
nhu cầu điều trị bệnh của người bệnh, nhất là với những người bệnh ung bướu
và mắc bệnh hiểm nghèo. Đồng thời, cách ứng xử của y bác sĩ cũng được xem
là nhân tố quyết định xu hướng của các dịch vụ Y tế: người bác sĩ cần xem
người bệnh là khách hàng chứ không nên coi người bệnh theo kiểu ban cho.
Chính xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu
đặc điểm giao tiếp của bác sĩ trong quá trình giao tiếp và điều trị bệnh cho người
bệnh, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn.
Do đó, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là“Một số đặc điểm giao tiếp của bác sĩ
với bệnh nhân trong quá trình khám chữa bệnh tại Trung tâm Y học Hạt nhân và
Ung bướu và Một số khoa lâm sàng tại Bệnh viện Bạch Mai”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm làm rõ hơn lý luận về giao tiếp, đặc điểm giao tiếp
nói chung và đặc điểm giao tiếp với người bệnh của bác sĩ trong quá trình
khám chữa bệnh tại bệnh viện Bạch Mai.
Nghiên cứu cũng nhằm chỉ ra được một số đặc điểm giao tiếp của bác
- Phong cách giao tiếp
10
Địa điểm nghiên cứu: Do thời gian có hạn nên tôi chỉ tập trung nghiên
cứu tại Trung tâm YHHN&UB và 4 khoa lâm sàng của Bệnh viện Bạch Mai.
7. Giả thuyết nghiên cứu
Giao tiếp của bác sĩ với người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh tại
bệnh viện là loại hình giao tiếp nghiệp vụ có đặc thù riêng, liên quan chặt chẽ
đến chất lượng và hiệu quả khám chữa bệnh. Vì vậy, để làm tăng hiệu quả
khám chữa bệnh cho người bệnh, các bác sĩ làm việc tại Trung tâm Y học hạt
nhân và Ung bướu và một số khoa lâm sàng của Bệnh viện Bạch Mai cần có
đặc điểm giao tiếp dân chủ và có một số kỹ năng căn bản trong giao tiếp với
người bệnh.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu và phân tích các tài
liệu, gồm: sách, báo, tạp chí liên quan tới giao tiếp, đặc điểm giao tiếp, quan
hệ bác sĩ – người bệnh của các tác giả trong và ngoài nước, nhằm xây dựng cơ
sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp nghiên
cứu chính của đề tài. Phiếu điều tra được thiết kế thành hai loại: phiếu đầu
tiên dành cho bác sĩ, phiếu thứ hai là dành cho người bệnh.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Đây là phương pháp bổ trợ cho
phương pháp nghiên cứu bảng hỏi. Phỏng vấn sâu 10 bác sĩ và 7 người bệnh
nhằm bổ sung thêm những thông tin còn thiếu trong điều tra bằng bảng hỏi.
- Phương pháp quan sát: Quan sát hành vi, cử chỉ, nét mặt, điệu bộ,
ngôn ngữ biểu hiện giao tiếp của bác sĩ và người bệnh cùng người nhà
người bệnh. Quan sát không tham dự trong một buổi trò chuyện của các
người bệnh về các biểu hiện của mối quan hệ giao tiếp như: ngôn ngữ
được sử dụng, cử chỉ, điệu bộ, khoảng cách giao tiếp, sắc thái tình cảm.
Quan sát một tình huống giao tiếp trong trong quá trình khám chữa bệnh;
quan” (1907), “Phản xạ học tập thể” (1921)… đã đề cập nhiều đến vấn đề giao
tiếp. Chính từ sự ra đời của thuyết điều khiển học, nhiều công trình nghiên cứu
xuất hiện dựa trên lý thuyết thông tin, lý thuyết điều khiển của các tác giả
phương Tây. Vào những năm 70 ở Liên Xô (cũ), giao tiếp trở thành một phạm
trù cơ bản được thể hiện trong các công trình nghiên cứu của B.Ph. Lomov
(1978) với “giao tiếp là vấn đề của tâm lý học đại cương”, của A.A. Bodaliov
(1972) về “giao tiếp và những đặc trưng của nó trong công việc với con
người”, của A.A. Leonchiev (1974) “Tâm lý học giao tiếp” GT được phân
13
tích chi tiết trong tác phẩm “Vấn đề giao tiếp trong Tâm lý học” của B.Ph.
Lomov (1981). Tiếp sau đó, hàng loạt nghiên cứu về giao tiếp khác của K.K.
Platonov, A.L. Xolominxki, B.D. Parughin, G.M. Andreeva dưới góc độ của
tâm lý học đại cương và tâm lý học xã hội đã được thực hiện. Các công trình
nghiên cứu về giao tiếp trên có thể khái quát theo hai hướng cơ bản:
- Hướng thứ nhất: Nhấn mạnh khía cạnh thông tin trong giao tiếp
(K.K. Platonov, L.X. Vygotxki, X.L. Rubinstein, A.G. Covaliov, A.L.
Xolominxki, B.D. Parughin ). Có thể nhận thấy nội dung này trong một số
định nghĩa về giao tiếp của các tác giả như K.K. Platonov (“giao tiếp là sự
trao đổi thông tin giữa những con người với nhau”), A.G. Xpirkin (“giao
tiếp là một quá trình trao đổi ý nghĩ, tình cảm; kích thích ý chí với mục đích
người này điều khiển người kia”) Trong tác phẩm “Tâm lý học xã hội”,
G.M. Andreeva đã cho rằng giao tiếp có ba mặt quan hệ hữu cơ với nhau:
+ Thông tin
+ Tri giác của con người với nhau
+ Tác động qua lại của con người với nhau
- Hướng thứ hai: Bản chất của giao tiếp được xem xét trong hệ thống
khái niệm, phạm trù tâm lý học (A.A. Leonchiev, B.Ph. Lomov ) khi bàn về
giao tiếp và hoạt động.
A.A. Leonchiev xem giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động, có
giao tiếp sư phạm”(1991) của Nguyễn Thạc và Hoàng Anh, “Kĩ năng giao
tiếp của sinh viên” (1991) của Hoàng Anh; “Vấn đề giao tiếp”(1992) -
Nguyễn Văn Lê; “giao tiếp sư phạm” (1992) – Ngô Công Hoàn; “Marketing
xã hội hay truyền thông giao tiếp”(1994) – Nguyễn Khắc Viện; “Vai trò của
giao tiếp trong quan hệ xã hội và quan hệ nhân cách” (1995)- Nguyễn Ngọc
Bích; “Tâm lý học giao tiếp” (1995) – Trần Tuấn Lộ; “giao tiếp sư phạm”
(1995) – Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh; “Nhập môn khoa học giao tiếp” (1996)
15
– Trần Trọng Thủy, Nguyễn Sinh Huy; “giao tiếp và tâm lý” (2002) – Nguyễn
Quang Uẩn.
Giao tiếp là vấn đề rất quan trọng, đó là công cụ sống của con người,
giúp con người tồn tại và phát triển được. Chỉ qua giao tiếp con người mới trở
thành người đúng nghĩa.
Những năm gần đây, có thể thấy một số công trình nghiên cứu chuyên
sâu về giao tiếp, chẳng hạn: “Thực trạng khả năng giao tiếp của sinh viên sư
phạm tỉnh Sơn La” của Lê Thị Mai Thoan (Tạp chí Tâm lý học số 2/2005),
“Một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên với học sinh khi thực tập
tốt nghiệp” của Nguyễn Thị Thanh Bình (luận án PTS khoa học sư phạm –
tâm lý, 1995), “Kĩ năng giao tiếp nghiệp vụ của trinh sát an ninh và phương
pháp đánh giá chúng” của Võ Sỹ Lực (luận án TS Tâm lý học, 2002), “Quy
trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá với bạn cùng lứa tuổi cho học sinh
các lớp 4, 5 trường tiểu học” của Lưu Thu Thuỷ (luận án PTS khoa sư phạm
tâm lý, 1995) …
Ở khoa Tâm lý học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại
học Quốc gia Hà Nội, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp,
nhưng tập trung cơ bản về các mảng: giao tiếp giữa sinh viên và giảng viên,
giao tiếp giữa quản giáo và tù nhân …Vấn đề giao tiếp giữa bác sĩ và người
bệnh nói chung và đặc điểm giao tiếp giữa hai chủ thể này nói riêng vẫn chưa
được quan tâm nghiên cứu.
hội; mặt khác, cá nhân đóng góp trở lại những suy nghĩ, quan điểm của bản
thân đối với xã hội thông qua giao tiếp.
Các tác giả cũng khẳng định bản chất tâm lý của giao tiếp, bởi có giao
tiếp mới xuất hiện nhu cầu, động cơ, xúc cảm giữa cá nhân với nhau trong
xã hội.
Chúng tôi nhận thấy, việc nghiên cứu về một số đặc điểm giao tiếp của
bác sĩ với người bệnh hiện nay đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc
17
khám chữa bệnh tại bệnh viện, góp phần nâng cao sự tin tưởng của mỗi người
bệnh khi mà họ tìm đến mỗi bác sĩ.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm về giao tiếp
1.2.1.1. Giao tiếp và hoạt động
A.A. Leonchiev xem giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động có
đối tượng, biểu hiện sự tác động qua lại giữa chủ thể - chủ thể. B.Ph. Lomov
xem giao tiếp là một phạm trù đồng đẳng với phạm trù hoạt động, biểu hiện
sự tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau giữa chủ thể - chủ thể. Quan điểm
của hai ông được các nhà tâm lý như B. Enconhin, A. Bodaliov, K.
Platonnov… đánh giá và cho rằng ý kiến của 2 nhà tâm lý học trên đều có mặt
hợp lý và chưa hợp lý. A.A. Leonchiev khi bảo vệ quan điểm cho rằng giao
tiếp là dạng đặc biệt của hoạt động có đối tượng đã lý giải chưa xác đáng về
đối tượng động cơ, chủ thể của hoạt động này; trong khi đó, B.Ph. Lomov quá
nhấn mạnh tới phạm trù giao tiếp cũng đi đến chỗ khó giải thích một số
trường hợp giao tiếp tham gia vào hoạt động có đối tượng như là điều kiện
thiết yếu của hoạt động. Các nhà tâm lý học cho rằng: Hoạt động là quy luật
chung nhất của đối tượng tâm lý người. giao tiếp là một dạng hoạt động phản
ánh mối quan hệ chủ thể - chủ thể. Hoạt động có đối tượng phản ánh mối
quan hệ chủ thể - khách thể. Hai khái niêm này có mối quan hệ gắn bó khăng
khít với nhau trong phạm trù hoạt động, là hai mặt thống nhất của cuộc sống
nhân cách, trong nhóm, tổ, tập thể lớn, phân xưởng, nhà máy, một tổ chức
đoàn thể, giai cấp, dân tộc và cả cộng đồng người”. [11, 533]
Trong sách “Nhập môn về khoa học giao tiếp”, các tác giả Nguyễn
Sinh Huy và Trần Trọng Thủy lại định nghĩa giao tiếp như sau: “giao tiếp là
một quá trình có chủ định và không chủ định, có ý thức hoặc không có ý thức
mà trong đó các cảm xúc và tư tưởng được biểu đạt trong các thông điệp bằng
ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ”. [14,15]
19
Trong “giao tiếp sư phạm”, Ngô Công Hoàn cho rằng “giao tiếp chính
là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi tư
tưởng tình cảm, vốn sống, kĩ năng nghề nghiệp”.[12, 37]
Trong “Tâm lý học xã hội” của Trần Thị Minh Đức, Hoàng Mộc Lan
định nghĩa giao tiếp như sau: “Giao tiếp là sự tiếp xúc trao đổi thông tin giữa
người với người thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, tư thế, trang phục.”[8, 145-146]
Phân tích những định nghĩa trên chúng tôi thấy có nhiều quan điểm
đồng nhất với định nghĩa giao tiếp trong sách “Tâm lý học đại cương” do
Nguyễn Quang Uẩn chủ biên: “giao tiếp là mối quan hệ của con người với
con người thể hiện sự tiếp xúc tâm lý giữa con người, thông qua đó con người
trao đổi về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua
lại với nhau”. [32, 65]
Trong “ Kĩ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên”, Hoàng Anh cho
rằng: “giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý, tạo lên qua hệ giữa hai hoặc nhiều người
với nhau, chứa đựng một nội dung xã hội - lịch sử nhất định, có nhiều chức
năng tác động, hỗ trợ cùng nhau: thông báo, điều khiển, nhận thức, hành động
và tình cảm… nhằm thực hiện một mục đích nhất định của một hoạt động
nhất địnhTrong “ Luyện giao tiếp sư phạm”, Nguyễn Thạc và Hoàng Anh cho
rằng giao tiếp có bốn dấu hiệu cơ bản sau:
+ Giao tiếp là một hiện tượng đặc thù của con người, chỉ con người mới
có giao tiếp thực sự khi con người sử dụng ngôn ngữ và được thực hiện trong
Các nhà tâm lý học cấu trúc định nghĩa sự giao tiếp như sau: “ sự giao
tiếp là cơ chế truyền đạt những thông điệp về nhận thức hay tình cảm, thuộc
về ý thức hay vô thức, nhờ một mạng lưới hay một hệ thống truyền thông tin
giữa những người đối thoại” Theo các nhà tâm lý học ứng dụng, “ sự giao tiếp
được xem là một tập hợp các quá trình nhằm truyền đạt và tri giác các thái độ,
các niềm tin và các ý định, dựa vào bộ máy sinh học tâm lý chung của loài
21
người làm sao để cho các bên đối thoại hiểu được nhau và đạt được các mục
tiêu giao tiếp”
Các nhà tâm lý học nhân cách cho rằng, “giao tiếp là quá trình tác động
qua lại giữa người và người, thông quá đó sự tiếp xúc tâm lý được thực hiện
và các qua hệ lên nhân cách được cụ thể hóa”
Các nhà tâm lý học kinh doanh định nghĩa giao tiếp là “một quá trình
trong đó một kích thích dưới dạng một thông điệp, được một bộ phát truyền
đi, nhằm tác động và gây ra một hiệu quả khi đi tới một bộ thu”
Như vậy giao tiếp là một hiện tượng tâm lý phức tạp và nhiều mặt, ở
nhiều cấp độ khác nhau. Do đó, hiện nay, người ta đưa ra nhiều định nghĩa
khác nhau về giao tiếp. Có những định nghĩa thu hẹp khái niệm giao tiếp, có
những định nghĩa mở rộng khái niệm giao tiếp. Mỗi định nghĩa của mỗi tác
giả nêu ra đều dựa trên một quan điểm riêng và có hạt nhân hợp lý của nó.
Tuy nhiên, các nhà tâm lý học Macxit và phần lớn các nhà tâm lý học
Việt Nam đều có quan điểm chung là công nhận giao tiếp là sự tiếp xúc tâm
lý giữa người với người, trong đó có sự trao đổi tư tưởng, tình cảm tác động
lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Từ những định nghĩa này ta có thể rút ra được
những đặc điểm cơ bản của giao tiếp. Nếu xét giao tiếp với tư cách là một
phạm trù, đồng đẳng với hoạt động thì giao tiếp có những đặc điểm sau:
+ Giao tiếp là sự tiếp xúc về tâm lý (nhu cầu, mục đích, nhận thức…)
giữa hai hay nhiều người.
+ Trong giao tiếp diễn ra sự trao đổi thông tin, sự hiểu biết lẫn nhau, sự
hay nói đúng hơn như là một dạng hoạt động người, như là một hoạt động lao
động, hoạt động nhận thức.”[27. 53]
Các đặc điểm giao tiếp trong hoạt động gồm 3 nhóm:
Chủ thể hoạt động có các đặc điểm giao tiếp – đặc điểm hoạt động
sau: Nhu cầu giao tiếp, nhận thức trong giao tiếp, các phẩm chất nhân cách
trong giao tiếp, phong cách giao tiếp, kĩ năng giao tiếp.
23
Đối tượng hoạt động có các đặc điểm giao tiếp - đặc điểm hoạt động
sau: Nhu cầu giao tiếp, nhận thức trong giao tiếp, các phẩm chất nhân cách
trong giao tiếp, phong cách giao tiếp, kĩ năng giao tiếp. Khi đối tượng hoạt
động là nhóm hoặc tập thể, nó còn có một số yếu tố tâm lý xã hội trong giao
tiếp (tâm lý giới, dư luận xã hội, tâm lý nghề nghiệp…)
Sự tác động qua lại giữa chủ thể hoạt động và đối tượng hoạt động
tạo nên quá trình hoạt động – quá trình giao tiếp, có các đặc điểm giao tiếp –
đặc điểm hoạt động sau: Mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp, hình thức
giao tiếp, hiệu quả giao tiếp.
Quá trình giao tiếp, nhất là nội dung giao tiếp, phải thể hiện được mối
quan hệ với nhau, nhận thức lẫn nhau, hoạt động cùng nhau, giữa các chủ thể
giao tiếp. Khi nghiên cứu đặc điểm giao tiếp của chủ thể hoạt động, cần xét
chúng trong mối quan hệ với các đặc điểm giao tiếp của đối tượng hoạt động
và quá trình hoạt động. Đặc điểm giao tiếp của chủ thể hoạt động là những nét
riêng biệt có giá trị hoạt động nổi lên ở nó trong quá trình giao tiếp với đối
tượng hoạt động. Chủ thể hoạt động, chủ thể giao tiếp có các đặc điểm giao
tiếp, đặc điểm hoạt động sau: Nhu cầu giao tiếp, nhận thức trong giao tiếp,
mục đích giao tiếp, các phẩm chất nhân cách trong giao tiếp, phong cách giao
tiếp, kỹ năng giao tiếp, nội dung giao tiếp, hình thức giao tiếp, một số yếu tố
tâm lý xã hội của đối tượng hoạt động trong giao tiếp, hiệu quả giao tiếp.
Những đặc điểm giao tiếp của chủ thể hoạt động này là sự cụ thể hóa các đặc
điểm cơ bản của phạm trù giao tiếp.
giao tiếp với mình để ứng xử phù hợp. Trong giao tiếp tính đồng cảm là phẩm
chất nhân cách, là hạt nhân của chủ thể giao tiếp. Vì nó là điều kiện quan
trọng nhất để thực hiện hiệu quả trong giao tiếp.
+ Tính cởi mở: Là những thuộc tính tâm lý biểu hiện sự giao tiếp với thái
độ, cởi mở, vui vẻ của chủ thể giao tiếp dựa trên những hiểu biết lẫn nhau.
25
+ Tính quyết đoán: Phẩm chất thể hiện ý chí quyết tâm trong giao tiếp
của chủ thể.
- Phong cách giao tiếp: Trong giao tiếp, mỗi chủ thể đều có những đặc
trưng riêng.
+ Phong cách độc đoán: Chủ thể giao tiếp với chủ thể giao tiếp khác
bằng tính độc đoán của mình.
+ Phong cách tự do: Chủ thể giao tiếp với chủ thể giao tiếp khác theo
tính linh hoạt quá mức của mình.
+ Phong cách dân chủ: Chủ thể giao tiếp với chủ thể giao tiếp khác
bằng tính dân chủ và sự đồng cảm của mình.
+ Phong cách quyết đoán: Chủ thể giao tiếp với chủ thể giao tiếp khác
bằng tính quyết đoán.
Tùy vào từng mục đích, nội dung, tình huống và các đặc điểm của chủ
thể giao tiếp với mình; chủ thể giao tiếp sử dụng tính sáng tạo và sự linh hoạt
các phong cách giao tiếp.
- Kỹ năng giao tiếp: Để truyền tải thông tin tới chủ thể giao tiếp khác,
chủ thể giao tiếp sử dụng các nhóm kỹ năng giao tiếp sau:[30, 21- 22]
+ Nhóm kĩ năng định hướng: Kỹ năng định hướng trước khi giao tiếp
(lập kế hoạch giao tiếp): Xác định mục tiêu giao tiếp, chuẩn bị nội dung,
thông tin cần trao đổi, hiểu rõ chủ thể giao tiếp với mình. Kỹ năng định
hướng trong quá trình giao tiếp: Qua những dấu hiệu bề ngoài của chủ thể
giao tiếp với mình, chủ thể giao tiếp đánh giá đúng bản chất, sự thay đổi
chân dung tâm lý của họ để điều chỉnh nội dung, thông tin và có cách truyền