ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ NGA
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỚI ĐỜI SỐNG
NỮ CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
NGOÀI NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 62 31 30 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TSKH Nguyễn Viết Vượng
2. TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
1
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3
3. Mục đích nghiên cứu
4
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
5
5. Phương pháp thu thập thông tin
5
6. Giả thuyết nghiên cứu
6
7. Khung lý thuyết
6
8. Kết cấu luận án
8
NỘI DUNG
9
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
9
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
9
1.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân và lao động nữ
15
1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về chính sách xã hội đối
với lao động nữ
17
1.4. Các lý thuyết vận dụng trong luận án
20
1.4.1. Lý thuyết hành động xã hội
20
2.1.2. Đôi nét về khu vực kinh tế ngoài Nhà nước
45
2.1.3. Đặc điểm nữ CNLĐ trong doanh nghiệp ngoài Nhà nước
49
2.2. Thực hiện chính sách xã hội đối với nữ CNLĐ trong doanh
nghiệp ngoài Nhà nƣớc tại Hà Nội
52
2.2.1. Chính sách tuyển dụng và ký kết hợp đồng lao động
52
2.2.2. Chính sách việc làm
59
2.2.3. Chính sách tiền lương, tiền công
63
2.2.4. Chính sách cải thiện điều kiện lao động
66
2.2.5. Chính sách thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
73
2.2.6. Chính sách bảo hộ lao động
79
2.2.7. Chính sách bảo hiểm xã hội
83
2.3. Đời sống nữ CNLĐ trong doanh nghiệp ngoài Nhà nƣớc trên
địa bàn Hà Nội hiện nay
87
2.3.1. Đời sống vật chất
87
2.3.1.1. Tiền lương, thu nhập
87
v
140
2.4.2.3. Tiền lương, tiền công chưa thoả đáng và thiếu ổn định, dẫn
tới giảm thiểu cơ hội tham gia các hoạt động văn hoá tinh thần của nữ
CNLĐ
150
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC CHÍNH
SÁCH XÃ HỘI NHẰM NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NỮ CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG
TRONG DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƢỚC
161
3.1. Phƣơng hƣớng
161
3.2. Giải pháp
164
3.2.1. Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các chính sách xã hội đối với
nữ CNLĐ trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước
164
3.2.2. Nâng cao nhận thức, thái độ, hành vi của các chủ thể thực hiện
chính sách xã hội đối với nữ CNLĐ trong các doanh nghiệp ngoài
169
vi
Nhà nước
3.2.3. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách xã hội đối với
nữ CNLĐ.
173
3.2.4. Tăng cường vai trò của phương tiện truyền thông nhằm nâng
cao hiệu quả thực hiện các chính sách xã hội đối với nữ CNLĐ.
175
3.2.5. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn cơ sở tại các
doanh nghiệp ngoài Nhà nước
An toàn vệ sinh lao động
2.
BHXH
Bảo hiểm xã hội
3.
BHYT
Bảo hiểm y tế
4.
CĐCS
Công đoàn cơ sở
5.
CNLĐ
Công nhân lao động
6.
CBCNV-LĐ
Cán bộ công nhân viên lao động
7.
CNXH
Chủ nghĩa Xã hội
8.
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
9.
DN
Doanh nghiệp
10.
DNNNN
Doanh nghiệp ngoài Nhà nước
11.
HĐLĐ
Bảng 2.5: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lao động
133
Bảng 2.6: Các bệnh thường mắc trong quá trình lao động
135
Biểu 2.1: Thời gian làm tính theo ngày
74
Biểu 2.2: Cấp phát vật dụng bảo hộ lao động
80
Biểu 2.3: Tiền lương tháng
88
Biểu 2.4: Nhà ở của nữ công nhân lao động
95
Biểu 2.5: Tiện nghi sinh hoạt
100
Biểu 2.6: Thăm hỏi, giúp đỡ khi ốm đau
102
Biểu 2.7: Các hoạt động văn hoá doanh nghiệp tổ chức
106
Biểu 2.8: Doanh nghiệp tổ chức các hoạt động chung
108
Biểu 2.9: Địa bàn sinh sống trước khi vào làm việc tại doanh nghiệp
123
Biểu 2.10: Trình độ học vấn của nữ công nhân
141
Biểu 2.11: Thâm niên công tác
144
Biểu 2.12: Mức độ tham gia các hoạt động chung của nữ CNLĐ
152
Biểu 2.13: Điều kiện để nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh
thần
thông xuyên suốt với các vùng khác trong cả nƣớc cũng nhƣ đáp ứng
nhu cầu về hàng hoá cho ngƣời dân thủ đô, mà phạm vi và tốc độ phát
triển các loại hình kinh tế ở thủ đô đƣợc mở rộng và tăng nhanh. Nhờ
2
những ƣu thế nổi trội hơn các vùng khác về mặt kinh tế, đời sống xã hội,
Hà Nội luôn là nơi thu hút rất đông khách du lịch và một lực lƣợng lớn
ngƣời lao động ở khắp nơi trong cả nƣớc đổ về.
Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, năm 2008
giá trị sản xuất công nghiệp ngoài Nhà nƣớc tăng 19,9%, trong đó Công
ty trách nhiệm hữu hạn tăng 17,6%, Công ty cổ phần tăng 24,6%, doanh
nghiệp tƣ nhân sản xuất cũng tăng. Điển hình là các ngành sản xuất nhƣ:
sản xuất dụng cụ chính xác, sản xuất kim loại, khai thác đá mỏ. Khu vực
sản xuất công nghiệp ngoài Nhà nƣớc trong một số năm gần đây đạt tốc
độ tăng cao là do số doanh nghiệp Nhà nƣớc cổ phần hoá có vốn Nhà
nƣớc chuyển sang khu vực công ty cổ phần và hàng năm có nhiều doanh
nghiệp mới thành lập đi vào hoạt động.
Sự phát triển nguồn nhân lực của Hà Nội còn gặp nhiều khó khăn
do sự phát triển đô thị không đồng bộ, (đặc biệt là hệ thống cơ sở hạ
tầng), do cơ cấu kinh tế chƣa thật hợp lý (còn tính chất tự phát trong quá
trình phát triển kinh tế thị trƣờng), do quy mô và tốc độ nguồn lao động
tăng nhanh, lại thiếu những chính sách biện pháp tổng thể có tính chất
chiến lƣợc của Nhà nƣớc trong việc sử dụng lao động. So với các tỉnh
khác, Hà Nội là một thành phố có dân số tƣơng đối già. Đây cũng chính
là một trong những nguyên nhân dẫn tới một bộ phận lớn lực lƣợng
CNLĐ thủ đô hiện nay là ngƣời lao động ngoại tỉnh đặc biệt là nữ
CNLĐ. Số lao động này tập trung đông trong một số ngành nhƣ: dệt
may, giày da, chế biến lƣơng thực, thực phẩm.
Có thể thấy, quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát
triển các doanh nghiệp ngoài nhà nƣớc nói riêng luôn mở ra những cơ
ngoài Nhà nước trên địa bàn Hà Nội".
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1. Ý nghĩa khoa học
4
- Đề tài nghiên cứu là một quá trình vận dụng các phƣơng pháp
nghiên cứu xã hội học vào việc nhận diện và phân tích một vấn đề xã
hội đang đƣợc quan tâm, đó là việc thực hiện các chính sách xã hội đối
với nữ CNLĐ trong các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp ngoài
Nhà nƣớc hiện nay.
- Qua nghiên cứu, phân tích, đánh giá đề tài góp phần phong
phú thêm lý luận xã hội học, xã hội học lao động, đặc biệt là xã hội học
về giới trong phát triển. Ngoài ra, hy vọng nghiên cứu này cũng sẽ đóng
góp thêm những kinh nghiệm và phƣơng pháp trong nghiên cứu liên
ngành kinh tế – xã hội với cách tiếp cận giới, tiếp cận về chính sách giới
trong lao động.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Làm sáng rõ thêm tình hình thực hiện chính sách xã hội và đời
sống của nữ CNLĐ trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nƣớc trên địa bàn
Hà Nội hiện nay.
- Làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách có cơ sở khoa
học trong việc định ra những chính sách phù hợp mang lại hiệu quả thiết
thực, đồng thời có những giải pháp điều chỉnh kịp thời trong từng
trƣờng hợp cụ thể góp phần thực hiện công bằng xã hội.
- Làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy và nghiên cứu chuyên
ngành xã hội học lao động, xã hội học về giới, xã hội học công nghiệp.
3. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng thực hiện chính sách xã hội đối với nữ CNLĐ
trong doanh nghiệp ngoài nhà nƣớc trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
- Phân tích một số tác động chủ yếu của chính sách xã hội tới đời
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu các nam, nữ công nhân (25
ngƣời), cán bộ công đoàn (3 ngƣời), cán bộ quản lý (2 ngƣời) tại 3
6
doanh nghiệp. Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để bổ sung thông tin định
tính cho hệ thống thông tin thu đƣợc qua phiếu trƣng cầu.
5.4. Phương pháp quan sát
Quan sát sinh hoạt thƣờng ngày của nữ CNLĐ tại nơi cƣ trú nhằm
tìm hiểu đời sống vật chất và sinh hoạt văn hoá tinh thần của nữ CNLĐ.
5.5. Kỹ thuật xử lý thông tin
Các phiếu điều tra đƣợc tiến hành nhập và xử lý, phân tích kết quả
trên máy tính, bằng phần mềm chuyên dụng SPSS.
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Về cơ bản, các doanh nghiệp ngoài Nhà nƣớc đã thực hiện hầu
hết các chính sách xã hội đối với nữ CNLĐ, với mức thực hiện khác
nhau ở các loại hình doanh nghiệp khác nhau.
- Việc thực hiện chính sách xã hội đối với nữ CNLĐ phụ thuộc
vào nhận thức, thái độ hành vi của ngƣời sử dụng lao động, của nữ
CNLĐ và cơ chế kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng.
- Thực hiện chính sách xã hội trong các doanh nghiệp ngoài nhà
nƣớc có ảnh hƣởng rất lớn đến đời sống vật chất và văn hoá tinh thần
của nữ CNLĐ.
7. Khung lý thuyết
Nhóm biến độc lập: Thực hiện chính sách xã hội đối với nữ CNLĐ
trong doanh nghiệp ngoài nhà nƣớc.
Nhóm biến phụ thuộc: Đời sống vật chất, đời sống văn hoá tinh thần
của nữ CNLĐ hiện nay.
Nhóm biến can thiệp: Biến đổi kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới,
nhu cầu việc làm, mong muốn và nguyện vọng của nữ CNLĐ, hoạt động
Công đoàn trong doanh nghiệp.
8
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới, một thời gian dài trƣớc đây do quan niệm, nhận
thức chƣa đúng về vai trò và năng lực của nữ trong hoạt động kinh tế -
xã hội nên việc tuyển chọn, đào tạo và sử dụng lao động nữ chƣa đƣợc
chú trọng. Đến nay, trong công cuộc xây dựng và kiến thiết của mỗi
quốc gia, một lực lƣợng phụ nữ ngày càng đông đảo đã đƣợc huy động,
sử dụng và điều này đòi hỏi lao động nữ phải đƣợc đào tạo để trở thành
ngƣời lao động có trình độ văn hoá, có chuyên môn giỏi để có thể tham
gia đƣợc vào các lĩnh vực, các ngành nghề khác nhau.
Từ những năm 80 đến những năm cuối của thập niên 90, tại các
nƣớc trên thế giới và ở khu vực và châu Á, tỷ lệ lao động nữ tham gia
vào các hoạt động kinh tế xã hội ngày một tăng lên. Cùng với xu hƣớng
chuyển dịch mô hình cơ cấu lao động nhƣ lao động nông lâm nghiệp
giảm, tăng tỷ lệ lao động công nghiệp và dịch vụ khiến tỷ lệ lao động nữ
tham gia trong các ngành sản xuất, kinh tế xã hội so với nam giới thì
không hề thua kém. Ở Hàn Quốc năm 1998 tỷ lệ nữ làm trong các ngành
công nghiệp là 19,0% so với nam giới là 34,0%, ở Indonesia là
16,0%/21%; ở Malaxia là 28,0%/34%; ở Thái Lan là 16,0%/19,0%; ở
Singapore là 23,0%/34,0%. Nhìn chung, tỷ lệ lao động nữ ngày càng
tăng và tập trung trong một số ngành nhƣ may mặc, dệt sợi, đồ chơi,
4 xí nghiệp vệ sinh môi trƣờng thuộc 4 quận nội thành Hà Nội vào năm
1997, tác giả Tôn Thiện Chiếu - Phòng Xã hội học Lao động và Công
nghệ, Viện Xã hội học đã triển khai đề tài nghiên cứu: “Môi trường lao
động của nữ công nhân một số ngành nặng nhọc, độc hại và thái độ của
họ”. Nghiên cứu tập trung hƣớng đến nhận diện thực trạng môi trƣờng lao
động của nữ CNLĐ cùng nhận thức của họ về điều kiện lao động và những
đảm bảo về sức khoẻ cho nữ CNLĐ. Trên cơ sở đó, kiến nghị những chính
sách nhằm cải thiện điều kiện lao động, góp phần bảo vệ và nâng cao sức
khoẻ của nữ CNLĐ để họ thực hiện tốt các chức năng của mình trong sản
10
xuất cũng nhƣ trong cuộc sống gia đình. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những
bất cập trong môi trƣờng lao động sản xuất của ngƣời công nhân nhƣng
chƣa tập trung nhiều vào thực hiện những chính sách cần thiết đối với ngƣời
lao động đặc biệt là nữ CNLĐ.
Đề tài nghiên cứu: “Môi trường lao động và bệnh xạm da nghề
nghiệp của nữ công nhân rải nhựa đường, Bộ Giao thông vận tải” của các
tác giả Phạm Đắc Thuỷ, Vũ Thị Cánh Sinh (Bộ Giao thông vận tải) đề cập
đến điều kiện làm việc còn nhiều khó khăn của công nhân rải nhựa đƣờng
và đây cũng là một đặc thù riêng của nghề. Môi trƣờng làm việc ngoài trời,
tính rủi ro cao và nguy cơ mắc các bệnh nghề nghiệp cao nhƣ bệnh xạm da
là điển hình. Bằng các phƣơng pháp nhƣ đo khí hậu, đo nhiệt độ và độ ẩm,
đo tốc độ gió, đo nồng độ hơi khí độc nơi làm việc theo tiêu chuẩn của Viện
Y học lao động và vệ sinh môi trƣờng, đề tài đã đánh giá tình hình sức khoẻ
và bệnh tật của nữ công nhân rải nhựa đƣờng. Đề tài cũng đƣa ra một số
khuyến nghị và giải pháp nhằm cải thiện điều kiện lao động cho ngƣời lao
động, đặc biệt đối với nữ CNLĐ ngành này. Tuy nhiên, các tác giả vẫn chƣa
đề cập nhiều tới việc thực hiện chính sách đối với nữ CNLĐ nói chung và
nữ công nhân rải nhựa đƣờng nói riêng.
Năm 2000 trong cuốn sách của tác giả Bùi Thị Thanh Hà “Công
động nữ trong các doanh nghiệp công nghiệp”. Kết quả nghiên cứu đã
cho thấy thực trạng thực thi Bộ Luật Lao Động đối với nữ CNLĐ tại
một số tỉnh thành trong cả nƣớc còn nhiều bất cập. Từ đó, đề tài đã đƣa
ra một số khuyến nghị nhƣ sau: Thứ nhất là cần đẩy mạnh công tác đào
tạo nghề cho lao động nữ, chú trọng đến lao động nữ nông thôn đang
đang làm việc trong nhiều ngành công nghiệp hƣớng vào xuất khẩu, sử
dụng nhiều lao động nữ. Thứ hai là cần phát triển mạnh hệ thống trƣờng
dạy nghề, đáp ứng nhu cầu thị truờng lao động. Nhà nƣớc nên có chính
sách hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo nghề, đào tạo dự phòng cho lao động
nữ nhƣ miễn giảm thuế tƣơng ứng với chi phí đào tạo, hỗ trợ vốn ƣu đãi
cho trang thiết bị, nhà xƣởng, giáo trình , và đề ra các cơ chế qui định
12
quyền và nghĩa vụ của lao động nữ đƣợc đào tạo tại doanh nghiệp. Thứ
ba là cần liên kết các hệ thống đào tạo, các hình thức đào tạo thuộc các
khu vực kinh tế khác nhau để nâng cao hiệu quả đào tạo, đáp ứng nhu
cầu thị trƣờng và sự thay đổi công nghệ. Thứ tƣ là Cần nghiên cứu ban
hành cơ chế giảm thiểu chi phí giao dịch tìm việc làm, mở rộng khả
năng tiếp cận thông tin việc làm, đào tạo nghề cho lao động nữ, đặc
biệt là những ngƣời nghèo, những ngƣời nhập cƣ, lao động nữ ở các
vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Nhìn chung, đề tài đã quan tâm tới
việc thực thi các điều luật trong lao động đối với nữ ở phạm vi rộng
trong các ngành nghề khác nhau, ở nhiều tỉnh thành khác nhau trên cả
nƣớc.
Năm 2003, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học về Gia đình và Phụ
nữ thực hiện với sự tài trợ của tổ chức NOVIB - Hà Lan, đã triển khai
đề tài nghiên cứu “Nữ công nhân khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh
và dịch vụ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam” cũng đã tập trung phân tích điều
kiện làm việc của nữ CNLĐ, thực trạng thực thi Bộ Luật Lao Động
trong các doanh nghiệp hiện nay. Qua điều tra khảo sát 13 doanh nghiệp
Quang Thọ làm chủ nhiệm, đã phân tích thực trạng điều kiện sống và tâm
lý của công nhân, viên chức và lao động trong quá trình sắp xếp đổi mới
doanh nghiệp. Thời gian vừa qua, quá trình cải cách các doanh nghiệp nhà
nƣớc, đã ảnh hƣởng đến các vấn đề việc làm, tiền lƣơng, thu nhập, bảo
hiểm đến mọi mặt của đời sống vật chất và tinh thần, hiện tại và tƣơng
lai của hầu hết CNVC-LĐ. Trƣớc yêu cầu của chủ trƣơng cổ phần hoá,
khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp nhiều ngƣời lao động gặp nhiều
khó khăn khi quyết định tham gia góp vốn cổ phần hay chuyển sang doanh
nghiệp khác, thậm chí thôi việc Điều kiện sống của CNLĐ sẽ bị biến đổi,
suy nghĩ, thái độ, thói quen cũng thay đổi. Theo những trăn trở của ngƣời
lao động trong quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nƣớc là một thực tế cần
đƣợc quan tâm xem xét và giải quyết. Nhìn chung đề tài đã chỉ ra những
14
yếu tố tác động đến tâm lý và điều kiện sống nhƣ: yếu tố công nghệ và
trình độ học vấn của ngƣời lao động, yếu tố khí hậu, yếu tố về môi trƣờng
lao động, yếu tố về thẩm mỹ, yếu tố về tổ chức và quản lý lao động, yếu tố
về thủ tục hành chính. Trên cơ sở đó đề tài đã đƣa ra những giải pháp, kiến
nghị nhằm cải thiện đời sống, ổn định tâm lý của CNVC-LĐ trong quá
trính sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hiện nay. Tuy nhiên, về thực thi các
chính sách xã hội trong quá trình cổ phần hoá không cho thấy rõ sự tác
động nhƣ thế nào tới đời sống của ngƣời lao động.
Tóm lại, tính đến thời điểm này chƣa có đề tài nào trực tiếp đề
cập đến tác động của chính sách xã hội tới đời sống vật chất và văn hoá
tinh thần của nữ CNLĐ trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nƣớc giai
đoạn hiện nay. Vì vậy, với đề tài này chúng tôi cố gắng tập trung nghiên
cứu để có thể góp phần thêm về lý luận và thực tiễn của việc thực hiện
chính sách xã hội đối với nữ CNLĐ hiện nay trong một số doanh nghiệp
ngoài nhà nƣớc và tác động cụ thể nhƣ thế nào tới đời sống của nữ CNLĐ
trên địa bàn Hà Nội. Từ đó nhằm cung cấp những thông tin thực tế và đƣa
lý. Đảng, Nhà nƣớc cần nêu cao trách nhiệm trong việc giúp đỡ cán bộ
nữ, đồng thời khuyến khích sự cố gắng vƣơn lên của bản thân họ trong
cách mạng, trong đấu tranh giành quyền bình đẳng cho ngƣời phụ nữ.
Đặc biệt, đối với giai cấp công nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu
rất sâu sắc và đánh giá cao vai trò của họ trong xã hội và trong quan hệ
cơ cấu giai cấp. Giai cấp công nhân là giai cấp chiếm vị thế trung tâm
trong xã hội, bởi họ đại diện cho phƣơng thức sản xuất tiến bộ nhất. Đó
là giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng và toàn xã hội. Giai
cấp công nhân là một trong ba lực lƣợng nòng cốt làm cơ sở xã hội và
nền tảng của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu xây
dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đề ra chính sách xã
16
hội đối với giai cấp này. Ngƣời nhắc nhở chúng ta phải quý trọng con
ngƣời, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý của xã hội.
Trong Sắc lệnh của Chủ tịch nƣớc Việt Nam dân chủ Cộng hoà,
ký ngày 12/3/1947, có quy định: “Công nhân đàn bà hay trẻ em mà cùng
làm một công việc như công nhân đàn ông được tính tiền công bằng số
tiền công của đàn ông”. Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan
tâm đến vấn đề bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn cho ngƣời lao động.
Trong lần đi thăm công trƣờng Đèo Nai, Cẩm Phả, Ngƣời nói: “Một
công nhân bất kỳ nam hay nữ đều quý báu, chẳng những quý cho gia
đình, các cô, các chú mà còn quý cho Đảng, Chính phủ và nhân dân
nữa. Nếu xảy ra tai nạn là thiệt cho bản thân, gia đình, Đảng và Chính
phủ. Người bị nạn không đi làm được, gia đình sẽ gặp khó khăn, sức lao
động của nhân dân vì vậy mà kém sút. Vì thế chúng ta phải hết sức bảo
vệ an toàn lao động, bảo vệ tính mạng người công nhân” [23; 391-392].
Ngày nay, các quan điểm của Hồ Chí Minh về phụ nữ, về CNLĐ,
về lao động nữ, về chính sách xã hội đã và đang đƣợc Đảng, nhân dân ta
tiếp tục nghiên cứu, học tập noi theo.
2/ Doanh nghiệp sử dụng thƣờng xuyên trên 100 nữ CNLĐ và có
số nữ CNLĐ từ 30% trở lên so với tổng số lao động có mặt thƣờng
xuyên của doanh nghiệp.
Mặt khác, Nhà nƣớc cũng qui định những vấn đề cấm đối với
ngƣời sử dụng lao động là:
- Cấm ban hành qui định không có lợi hơn những qui định của
pháp luật cho lao động nữ.
- Cấm những hành vi làm hạn chế khả năng đƣợc tiếp nhận nữ
CNLĐ vào làm việc.
- Cấm mạt sát, đánh đập xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm
của lao động nữ trong khi làm việc.
18
Trƣờng hợp ngƣời sử dụng lao động vi phạm các điều cấm qui
định trên, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo qui định
của pháp luật.
Về chế độ làm việc của nữ CNLĐ: Để đảm bảo điều kiện thuận
lợi cho nữ CNLĐ, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 23-CP ngày 18-
4-1996, theo điều 3 của Nghị định qui định rõ các hình thức sau:
- Làm việc theo thời gian biểu linh hoạt là việc bố trí, sử dụng nữ
CNLĐ làm công việc với thời gian làm việc (thời gian bắt đầu và kết
thúc) khác với thời gian làm việc theo qui định chung của cơ quan, đơn
vị.
- Làm việc không trọn ngày là việc bố trí, sử dụng nữ CNLĐ làm
việc với thời gian ít hơn số giờ làm việc trong một ngày theo qui định
chung của cơ quan đơn vị.
- Làm việc không trọn tuần là việc bố trí, sử dụng nữ CNLĐ làm
việc với số ngày ít hơn số ngày làm việc chung của cơ quan, đơn vị
trong một tuần lễ.
- Giao việc làm tại nhà: Là hình thức giao việc làm cho nữ