Bài tập lớn học kì – Môn Luật lao động
LỜI NÓI ĐẦU
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm
tạo ra các của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Lao động có năng suất,
chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước.
Để tuyển dụng và giữ lại đúng người làm đúng việc, ban giám đốc
cần có một hệ thống thù lao cạnh tranh và công bằng. Mặt dù tiền không
phải là lý do duy nhất để nhân viên làm việc cho một doanh nghiệp, nhưng
những phương pháp trả lương không công bằng vẫn là nguyên nhân chính
gây ra sự bất mãn của nhân viên và làm tăng tình trạng bỏ việc, giảm hiệu
quả quan hệ lao động và gây ra những chi phí không cần thiết cho doanh
nghiệp.
Hệ thống tiền lương và tiền công sẽ cho phép doanh nghiệp tuyển
dụng các nhân viên mới với mức lương thỏa đáng, tăng mức lương phù hợp
cho nhân viên và hình thành một con đường sự nghiệp cho các cá nhân. Để
thực hiện được tất cả các công việc này, cần phải có một hệ thống tiền
lương và tiền công có tổ chức hợp lý. Mục đích của một hệ thống tiền
lương và tiền công là đảm bảo rằng những người thực hiện các nhiệm vụ
được coi là có giá trị như nhau sẽ nhận được mức thù lao như nhau.Thù lao
bao hàm tất cả các hình thức thu nhập mà các cá nhân nhận được cho phần
lao động của họ.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, sau đây, em xin đi nghiên cứu đề
tài “Khái niệm tiền lương? Các yêu tố ảnh hưởng tới việc thỏa thuận điều
khoản tiềng lương trong hợp đồng lao động” và giải quyết một tình
huống về tranh chấp lao động cá nhân.
Bài tập lớn học kì – Môn Luật lao động
NỘI DUNG
1. Khái niệm tiền lương? Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thỏa thuận
điều khoản tiền lương trong hợp đồng lao động
1.1. Khái niệm tiền lương
Tiền lương là khái niệm có nội dung kinh tế, xã hội và pháp lí,
lời được cho câu hỏi “tiền lương là gì?”.
Điều 1 Công ước số 95 (1949) về bảo vệ tiền lương của ILO quy
định: “…từ “tiền lương” là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay
cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng sự thỏa thuận
giữa NSDLĐ và NLĐ, hoặc bằng pháp luật quốc gia do NSDLĐ phải trả
cho NLĐ theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng
miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho
những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”. Với định nghĩa này, ILO đã đưa ra
các dấu hiệu cơ bản nhận biết tiền lương, bao gồm: 1) Tiền lương là sự trả
công lao động; 2) Hình thức biểu hiện của tiền lương là bằng tiền mặt; 3)
Tiền lương được ấn định bằng sự thỏa thuận của các bên hoặc bằng pháp
luật quốc gia; 4) Lí do mà NSDLĐ phải trả lương cho NLĐ. Về phương
diện pháp lí, có thể thấy đây là định nghĩa khá toàn diện về tiền lương.
Pháp luật lao động của nhiều quốc gia đã vận dụng định nghĩa này một
cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại của quốc gia
mình.
Pháp luật lao động hiện hành ở nước ta thừa nhận quyền tự do thỏa
thuận về tiền lương (không trái luật) của NSDLĐ và NLĐ. Điều 55 Bộ luật
lao động quy định: “Tiền lương của NLĐ do hai bên thỏa thuận trong
HĐLĐ và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công
việc. Mức lương của NLĐ không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà
nước quy định.”
Như vậy, dưới góc độ luật lao động, tiền lương được hiểu là số tiền
mà NSDLĐ phải trả cho NLĐ căn cứ vào năng suất, chất lượng, hiệu
quảcông việc và điều kiện lao động, được xác định theo sự thỏa thuận hợp
pháp giữa hai bên trong hợp đồng lao động (HĐLĐ) hoặc theo quy định của
pháp luật.
Bài tập lớn học kì – Môn Luật lao động
Định nghĩa trên đã bao quát tiền lương với các bộ phận cấu thành cơ
bản của nó, bao gồm: Lương cơ bản (lương chính), phụ cấp lương và tiền
Các quy định của Nhà nước trong chế độ tiền lương chỉ là những tiêu
chuẩn tối thiểu hoặc những quy tắc cơ bản cần thiết cho các đơn vị sử dụng
lao động tiếp tục cụ thể hóa cho phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị
và làm cơ sở cho các bên thỏa thuận về tiền lương và các quyền lợi khác có
lien quan của NLĐ.
Nguyên tắc thỏa thuận là một trong những nguyên tắc pháp lí điều
chỉnh tiền lương. Tính chất của quan hệ lao động do luật lao động điều
chỉnh là sự tự do thỏa thuận. Nhìn chung những vấn đề về quyền lợi, nghĩa
vụ và trách nhiệm của các bên đều do họ tự quyết định bằng cách thỏa
thuận không trái luật, trong đó có tiền lương. Năng suất lao động, chất
lượng, hiẹu quả công việc và quy định của Nhà nước về tiền lương là
những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới việc thỏa thuận tiền lương. Bên cạnh
đó, tương quan cung cầu lao động trên thị trường, mức sống của nhân dân
địa phương, phong tục tập quán. Sức mạnh của tổ chức công đoàn: tình
trạng tài chính của đơn vị sử sụng lao động…cũng là những yếu tố ảnh
hưởng tới việc thỏa thuận lương ở những mức độ khác nhau.
2. Giải quyết tình huống
a. Việc chấm dứt HĐLD của công ty đối với A là đúng hay là sai? Tại
sao?
Trước hết cần khẳng định việc chấm dứt HĐLĐ của công ty đối với A là
sai.
Với trường hợp của A:
- Năm 2005, A và công ty X có ký với nhau một HĐLĐ thời hạn 2 năm.
Sau khi hết thời hạn, cả hai bên cùng kí them một HĐLĐ xác định thời hạn
2 năm nữa.
- 15/08/2009: HĐLĐ thứ hai hết hạn.