LỜI NÓI ĐẦU
Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, là nguồn cung cấp thực
phẩm chủ yếu cho người dân, cung cấp các sản phẩm đặc sản tươi sống và sản
phẩm chế biến có giá trị cho xuất khẩu. Đây cũng là ngành kinh tế không những
giúp cho nông dân tăng thu nhập mà còn tạo được nhiều công ăn việc làm cho
người lao động. Ngành Chăn nuôi hiện chiếm 27% trong đóng góp của Ngành Nông
nghiệp vào tổng thu nhập quốc nội của Việt Nam (Cục Chăn nuôi 2011).
Mốc son Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức
thương mại thế giới WTO đã đưa ngành chăn nuôi vươn ra thị trường quốc tế, đồng
thời cũng gặp phải sức cạnh tranh mạnh mẽ. Không gian rộng lớn, tỷ trọng chăn
nuôi trong nông nghiệp chiếm tới 70-80%, là những cơ hội đối với các sản phẩm
chăn nuôi của Việt Nam nói chung và của Hải Phòng nói riêng.
Được thành lập từ năm 1997 – thời kỳ kinh tế trong và ngoài nước gặp nhiều
biến động, công ty Cổ phần Đầu tư và Xuất nhập khẩu Súc sản và Gia cầm Hải
Phòng (ANIMEX Hải Phòng) đã trải qua 17 năm tồn tại và phát triển song hành với
những bước tiến của ngành chăn nuôi Việt Nam, đưa thương hiệu sản phầm ngành
chăn nuôi của Việt Nam ra thị trường thế giới.
Được sự giới thiệu của Khoa Tiếng Anh thương mại - Trường Đại Học
Thương Mại em đã may mắn có cơ hội thực tập tại Phòng Xuất nhập khẩu – Công
ty ANIMEX Hải Phòng. Sau thời gian thực tập 4 tuần (từ 06/1/2014 đến 14/2/2014)
với sự giúp đỡ của lãnh đạo và cán bộ trong công ty, em đã tìm hiểu và nắm được
những thông tin cơ bản cần thiết để phục vụ cho việc hoàn thành bài báo cáo thực tập.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo khoa tiếng Anh,
trường Đại học Thương Mại cùng các cán bộ công ty ANIMEX Hải Phòng và đặc
biệt là sự chỉ bảo tận tình của cô giao Lê Thị Phương Mai đã giúp em hoàn thành
bài báo cáo. Rất mong nhận được sự giúp đỡ và góp ý của thầy cô giáo để bài báo
cáo của em được hoàn chỉnh hơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 2 năm 2014
Sinh viên
Phan Thị Phương Thảo
1
Tên công ty bằng tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XUẤT NHẬP
KHẨU SÚC SẢN VÀ GIA CẦM HẢI PHÒNG
Tên công ty bằng tiếng Anh: HAIPHONG INVESTMENT AND ANIMAL
POULTRY PRODUCTS IMPORT - EXPORT
JOINT STOCK COMPANY
Trụ sở công ty: No.16, Cu Chinh Lan street, Hong Bang district, Hai
Phong city
Điện thoại: 031.3823.737
Fax: 031.3842.181 / 031.3823.737
Địa chỉ thư điện tử:
[email protected]
Tên viết tắt ANIMEX Hai Phong
Công ty CPĐT&XNK Súc sản và Gia cầm Hải Phòng được thành lập theo
giấy phép kinh doanh số 111075 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng.
Ban đầu, Công ty CPDT&XNK Súc sản và Gia cầm Hải Phòng chỉ có 97 cán
bộ công nhân viên. Những ngày đầu thành lập, cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ
sản xuất còn yếu kém. Thành lập năm 1997 - thời kỳ kinh tế trong và ngoài nước có
nhiều biến động, Công ty đã gặp không ít khó khăn về thị trường tiêu thụ cũng như
nguồn vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh.
5
Những năm cuối thập niên 90 công ty chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực
xuất khẩu các mặt hàng nông sản thực phẩm sang thị trường Đông Âu, chủ yếu là
Nga, xuất khẩu lợn sữa sang thị trường Hồng Kong, Malaysia. Bên cạnh đó, công ty
nhập khẩu các mặt hàng vật tư, thiết bị, sắt, thép.
Công ty được chuyển thành Công ty Cổ phần theo Quyết định số 2545/QĐ –
BNN-ĐMDN ngày 31/8/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và lấy
tên là Công ty Cổ phần Đầu tư và Xuất nhập khẩu Súc sản Gia cầm Hải Phòng với
các ngành nghề như giấy phép đăng ký kinh doanh sau:
1.2 Lĩnh vực hoạt động kinh doanh:
trên sơ đồ sau:
Biểu đồ 1.3. Biểu đồ cơ cấu tổ chức của công ty ANIMEX Hải Phòng
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý. Hội đồng quản trị có trách nhiệm quyết
định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế toán kinh doanh hàng năm của
công ty và quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, quyết định
thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ
phần của doanh nghiệp khác.
Ban điều hành công ty gồm 3 người: 1 Tổng Giám đốc và 2 Phó Tổng Giám
đốc. Ban điều hành có nhiệm vụ quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh
doanh hàng ngày của công ty đồng thời kiến nghị các phương án cổ tức và xử lý lỗ
trong kinh doanh.
Phòng kế toán gồm 6 nhân viên chịu trách nhiệm vấn đề tài chính của công ty
ví dụ như vay vốn ngắn hạn phục vụ cho mục đích chăn nuôi để chế biến và kinh
doanh các lô hàng, lập báo cáo tài chính hàng quý và hàng năm và giao dịch với cơ
quan thuế để đóng góp nghĩa vụ cho ngân sách nhà nước.
Phân xưởng cơ điện lạnh gồm 1 quản đốc, 1 phó quản đốc, 8 công nhân biên chế
và 20 công nhân lao động thời vụ. Phân xưởng có nhiệm vụ lắp đặt các kho hàng đông
lạnh, phòng mát, hệ thống máy lạnh trung tâm cho các nhà hàng và siêu thị.
Phòng kinh doanh XNK gồm 4 và có nhiệm vụ ý kết các hợp đồng xuất - nhập
khẩu với các đối tác nước ngoài, siêu thị, trung tâm thương mại và các chợ đầu mối.
Phòng nghiệp vụ giao nhận gồm 7 nhân viên và có trách nhiệm trong việc
giao nhận các mặt hàng xuất nhập khẩu của công ty.
7
Phòng tổ chức hành chính gồm 3 nhân viên có nhiệm vụ tuyển dụng cán bộ
công nhân viên cho công, tìm kiếm nguồn nhân lực có đủ năng. Đồng thời, phòng
có trách nhiệm phân công nhân sự; chịu trách nhiệm trong đánh giá nhân sự.
Xí nghiệp chăn nuôi và chế biến thịt lợn XK gồm 1 giám đốc, 1 phó giám
đốc và 15 công nhân và có nhiệm vụ chăn nuôi thịt lợn thương phẩm đạt sản lượng
thường xuyên trong chuồng nuôi là 5000 con đồng thời phải đảm bảo đúng quy
trình giết mổ.
Trong những năm đầu mới thành lập, thị trường tiêu thụ của Công ty
ANIMEX Hải Phòng chủ yếu là Hải Phòng và các tỉnh lân cận như: Hà Nội, Quảng
Ninh, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định với sản lượng tiêu thụ rất thấp, chỉ khoảng
5.000 tấn sản phẩm/năm. Sản phẩm của Công ty chưa đến tay người tiêu dùng ở
miền Trung và miền Nam.Đến nay, sản phẩm của Công ty mới chiếm khoảng
4,23% thị phần cả nước.
Bên cạnh dó, công ty còn phải đối mặt với sự cạnh tranh rất gay gắt của các
doanh nghiệp sản xuất chế biến các sản phẩm cùng loại. Theo một khảo sát thị
trường gần đây của công ty, trên cả nước có khoảng hơn 150 doanh nghiệp sản xuất,
chế biến các mặt hàng thực phẩm gia súc, gia cầm các loại; trong Tổng Công Ty
Chăn Nuôi Việt Nam cũng đã có đến 40 doanh nghiệp; và ngay tại địa bàn TP Hải
Phòng đã có đến 8 doanh nghiệp.
2.2.2.2. Thị trường tiêu thụ nước ngoài
Trong những năm đầu của “Đổi mới” thời kỳ nền kinh tế đất nước chuyển từ
nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, Công ty chỉ xuất khẩu
sang Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và các nước trong khu vực Đông Nam Á
với số lượng thấp. Hiện nay hầu như sản phẩm của Công ty mới chỉ được tiêu thụ ở
thị trường các nước láng giềng, ở một vài nước Đông Âu, chưa tương xứng với tiềm
năng của công ty. Nhìn chung những thị trường lớn như: Nhật Bản, Mỹ, EU mới chỉ
tiêu thụ ở mức rất hạn chế. Doanh thu tiêu thụ của Công ty trên các thị trường Đông
Âu, Bắc Á mới chỉ đạt khoảng 20 tỷ đồng/năm – một con số còn khiêm tốn.
Năm 2013, sản phẩm của Công ty đã có mặt trên 28 nước trên thế giới.
2.1.2 Các sản phẩm chính của doanh nghiệp:
9
Công ty ANIMEX Hải Phòng kinh doanh theo các ngành chính sau:
Thứ nhất, Công ty chăn nuôi lợn thịt thương phẩm theo quy trình. Quy trình
chăn nuôi được sự cấp phép đạt tiêu chuẩn của chính phủ Bắc Úc, được trung tâm Y
tế dự phòng cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện giết mổ.
Thứ hai. Công ty xuất khẩu lợn sữa sang Hồng Kong
Thứ ba, Công ty nhập khẩu bò thịt từ Australia để phục vụ thị trường nội địa.
1.152.248.221
861.264.606
8 Chi phí bán hàng 23 443.684.736 726.594.847
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp 24 1.960.688.682 1.349.204.232
10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh
doanh
25 77.521.411 515.010.446
11 Thu nhập khác 30 8.614.983.310 10.163.459.357
12 Chi phí khác 31 8.623.051.704 10.037.449.833
13 Lợi nhuận khác 32 (8.068.394) 126.009.524
14 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 40 69.453.017 641.019.970
15 Chi phí thuế TNDN hiện hành 50 17.363.254 125.254.993
17 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh
nghiệp
52 52.089.763 515.764.977
Bảng 2.2. Báo cáo doanh thu của công ty năm 2012 và 2013
2.2.1. Doanh thu và cơ cấu doanh thu:
Dựa vào bảng kết quả báo cáo tài chính của hai năm 2012 và 2013 có thể
thấy doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp tăng hơn
11
23 tỷ đồng (khoảng 34%) trong khi các khoản giảm trừ chỉ tăng gần 0,5% và giá
vốn hàng bán tăng 34,38%. Nhìn chung, tỷ lệ tăng của các khoản giảm trừ và giá
vốn hàng bán thấp hơn tỷ lệ tăng của doanh thu thuần cho thấy so với năm trước,
hiệu quả trong quá trình bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp đã nâng
cao, có thể doanh nghệp đã tiết kiệm được tối đa số lượng cũng như giá trị nguyên
vật liệu hoặc công cụ dụng cụ dư thừa, tận dụng tối đa giá trị của hàng tồn kho. Lợi
nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng hơn 25% (hơn 700 triệu đồng) và
cũng là nguồn thu chủ chốt của doanh nghiệp
Xét đến doanh thu từ hoạt động tài chính, doanh thu từ hoạt động này vào
năm 2013 đã giảm hơn 144 triệu đồng (khoảng hơn 36%) trong khi đó chi phí tài
2.2.4 Vốn và cơ cấu vốn:
Sau một năm tài chính, tổng tài sản của doanh nghiệp đã giảm hơn 15 tỷ. Bên
cạnh đó, vốn lưu động và vốn cố định cũng cho thấy sự thay đổi rõ rệt. Tổng giá trị
tài sản của vốn lưu động giảm hơn 11 tỷ, vốn cố định giảm hơn 41 tỷ. Cùng với sự
tăng lợi nhuận thuần hoạt động kinh doanh của năm 2013 so với năm trước đã cho
thấy sự hiệu quả hơn trong việc sử dụng tất cả các nguồn lực của công ty.
2.2.5 Lao động và cơ cấu lao động:
Công ty ANIMEX Hải Phòng đến nay đã tạo công ăn việc làm cho 148 lao
động trong đó có 98 lao động nam và 50 lao động nữ, 32 nhân viên có trình độ
chuyên môn tốt nghiệp Đại học, 20 tốt nghiệp Cao đẳng, 11 trung cấp chuyên
nghiệp, 55 công nhân có tay nghề cao và 30 công nhân thời vụ.
Nhìn chung, lực lượng lao động của Công ty được sắp xếp tương đối hợp lý.
Những cán bộ quản lý là những người có trách nhiệm với công việc và chăm lo đời
sống của nhân viên, ngược lại, nhân viên là những người chăm chỉ, luôn ý thức
hoàn thành tốt công việc được giao, sẵn sàng làm thêm giờ khi khối lượng công
việc của doanh nghiệp tăng lên. Mặc dù vậy, họ còn thiếu sót một số các kỹ năng
mềm, chưa phát huy được hết khả năng sáng tạo.
2.2.6 Tiền lương và cơ cấu tiền lương:
13
Tiền lương của công nhân phân xưởng sản xuất, công ty thực hiện việc trả
lương theo thời gian, tính lương theo cấp bậc, (bậc thợ, bậc lương) đơn giá theo sản
phẩm và phụ cấp. Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển và lớn mạnh của
công ty mức lương bình quân của cán bộ công nhân viên cũng được tăng lên.
2.3 Đánh giá, nhận xét về ưu điểm, hạn chế:
2.3.1 Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
2.3.1.1. Ưu điểm:
Công ty luôn giữ phương châm sản phẩm bán ra phải giữ chữ tín với khách
hàng. Công ty đã đẩy mạnh công tác quản lý thành phẩm. Trước khi cho nhập kho,
thành phẩm đã được nhómvthụ hóa ở xí nghiệp kiểm tra và đưa đến cho bộ phận
kinh doanh của Công ty để kiểm tra lại một cách nghiêm ngặt về chất lượng và quy
từ các đối thủ, Công ty xây dựng mối quan hệ gần gũi hơn với nhà cung ứng chiến
lược tạo điều kiện để tìm ra những đặc điểm có thể tăng cường mối quan hệ trong
khi vẫn đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở đôi bên cùng
có lợi và cùng nhau tăng cường khả năng tạo ra nguồn lợi nhuận mới.
2.3.1.2 Hạn chế:
Hạn chế về Nguồn nhân lực
Công ty ANIMEX Hải Phòng gặp một số khó khăn trong vấn đề nguồn nhân
lực để cải tiến kỹ thuật trong sản xuất và thâm nhập thị trường nước ngoài.
Công ty tuy có bề dày kinh nghiệm truyền thống nhưng chưa chủ động tìm
tòi những cái mới, những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật trong chính lĩnh vực hoat
động của mình. .Hiện nay, ngành chăn nuôi nhờ có những phát triển vượt bậc của
Khoa học kỹ thuật mà đã nhanh chóng nâng cao sản lượng và cải thiện chất lượng
sản phẩm. Để có thể tiếp thu và ứng dụng những kỹ thuật này không những đòi hỏi
người lao động có kiến thứ chuyên môn vững chắc mà còn phải luôn linh động
trong việc cập nhật những thành tựu ứng dụng trong chăn nuôi. Nhân viên ở Công
ty tuy có bề dày kinh nghiệm nhưng chưa thực sự nhanh lẹ với những cái mới
15
Thêm vào đó, trình độ tiếng Anh của các nhân viên không đủ để đáp ứng với
những đòi hỏi của kinh doanh. Vì mọi hoạt động trong kinh doanh cần đến tiếng
Anh đều phải dựa vào phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu nên sẽ dẫn đến hai tác
động tiêu cực. Thứ nhất, điều này sẽ làm hạn chế khả năng ứng biến linh hoạt của
các phòng ban khác khi có giao dịch bằng tiếng nước ngoài, tạo rào cản trong các
hoạt động kiểm dịch, kiểm kê và giải quyết những tranh chấp tạm thời với đối tác
nước ngoài. Thư hai, phòng Kinh doanh Xuất nhập khẩu sẽ phải đảm trách nhiều
công việc cùng một lúc, điều này sẽ làm giảm tính hiệu quả chuyên môn của bộ
phận này.
Nguồn nguyên liệu đầu vào ngày càng gia tăng sức ép về giá, Công ty đối
mặt với nguy cơ giảm lợi nhuận.
Nguồn thức ăn chăn nuôi của công ty còn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu
nhập khẩu. Theo con số thống kê của Hiệp hội Thức ăn Chăn nuôi Việt Nam cho
3.1.2 Kế hoạch marketing và xây dựng thương hiệu đã trở nên lỗi thời:
Trên thực tế, công ty ANIMEX Hải Phòng vẫn căn cứ vào doanh số bán hàng
để đánh giá sự thành công trong kinh doanh của mình. Các chiến lược bán hàng
thường nhằm vào việc nâng cao doanh số bán mà không phải là định vị thương hiệu
17
trong tâm trí khách hàng. Bên cạnh đó, công ty chưa có chiến lược định vị thương
hiệu trong khách hàng các nhân.
Trong khi đó, khách hàng muốn mua thứ họ cần chứ không phải thứ bán ra.
Bán hàng ngày càng trở nên khó khăn vì sự nở rộ mạng mẽ của thông tin phổ biến
trực tuyến. Điều này đã mang cho khách hàng thêm nhiều lựa chọn hơn.
Mặc dù hàng năm công ty có gửi hàng tham dự các hội chợ trong và ngoài
nước nhưng quy mô còn nhỏ. Công ty đã lập tài khoản thư điện tử mang tên
[email protected], nhưng vẫn chưa có một website chính thức.
3.1.3. Vấn đề về phát triển thị trường
Thị trường của công ty trong những năm gần đây ghi nhận sự mở rộng nhanh
chóng sang khu vực Đông Âu. Tuy nhiên, đối với thị trường nội địa, Công ty mới
chỉ cung cấp các sản phẩm cho siêu thị tại các thành phố lớn quanh khu vực duyên
hải miền Bắc. Vấn đề thiếu vốn và thiếu thông tin nghiên cứu thị trường như đã nói
ở trên là hai trong số những lực cản chính để Công ty tham gia vào các thị trường
miền Trung và miền Nam Việt Nam.
3.2 Một số ý kiến và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty
cổ phần đầu tư và xuất nhập khẩu súc sản gia cầm Hải Phòng:
3.2.1 Huy động vốn:
Công ty Cổ phần đầu tư và xuất nhập khẩu súc sản và gia cầm Hải Phòng có thể
huy động vốn từ các nguồn nội bộ, tức là từ chính những nhân viên trong Công ty.
Ngoài ra công ty còn có thể thu hút vốn thông qua hình thức vay ngân hàng, ,
từ chính lợi nhuận tích lũy được hoặc thông qua đầu tư, liên doanh, liên kết với đối tác.
3.2.2 Cập nhật các chiến lược marketing hiệu quả phù hợp trong môi trường
cạnh tranh:
Công ty ANIMEX Hải Phòng cần mạnh dạn thay đổi những chiến lược
19
Việc sử dụng tiếng Anh trong doanh nghiệp còn gặp rất nhiều hạn chế do khả
năng ngoại ngữ của nhân viên chưa được chú trọng. Trình độ ngoại ngữ của các
nhân viên trong công ty chưa đủ để đáp ứng những yêu cầu giao tiếp mà các hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu, đối ngoại đòi hỏi. Những nhân viên khi gặp các
đối tác nước ngoài còn lung túng và chưa diễn đạt được đầy đủ hết những thông tin
mình muốn cung cấp. Điều này gây ảnh hưởng đến những khía cạnh sau
Thứ nhất là việc mở rộng thị trường. Để xâm nhập và thâm nhập thành công
một thị trường mới, ví dụ Bắc Âu, doanh nghiệp trước tiên cần phải sử dụng thành
thạo công cụ tiếng Anh trong việc đọc, tìm hiểu các tài liệu về thị trường. Không
những thế còn cần phải đi thực tế những thị trường tiềm năng đó để có kinh nghiệm
cụ thể, quyết định xem có nên quyết định đầu tư vào thị trường đó hay không.
Thứ hai, ngoại ngữ trong Công ty chưa được cải thiện sẽ có thể gây ảnh
hưởng tiêu cực đến những quan hệ kinh doanh hiện tại của công ty. Như đã đề cập ở
trên, công ty ANIMEX Hải Phòng có mối liên hệ với Hiệp hội Chăn nuôi Australia
để thực hiện nhập khẩu thịt bò vào thị trường VN. Hàng tháng đều có đại diện của
Hiệp hội này từ Australia sang để khảo sát quy trình chăm sóc và chế biến bò. Như
vậy có thể thấy nhu cầu sử dụng tiếng Anh trong những hoạt động kinh doanh hàng
ngày là khá cao, trong tương lai đòi hỏi về giao tiếp tiếng Anh sẽ là một tất yếu
khách quan cho sự phát triển của Công ty.
Thứ ba, sử dụng thành thạo tiếng Anh là một điều kiện để có thể tiếp cận
nhanh chóng và dễ dàng hơn đối với kỹ thuật và công nghệ chăn nuôi, giết mổ, chế
biến mới trên thế giới.
Cuối cùng, công cụ tiếng Anh giúp cho sản phẩm của Công ty dễ dàng tiếp
cận hơn với người tiêu dùng trên thế giới. Việc đóng gói bao bì, các thông số của
sản phẩm bằng tiếng Anh sẽ giúp sản phẩm tiến lại gần hơn với mối quan tâm của
người tiêu dùng.
3.3.2 Giải pháp nhằm nâng cao trình độ sử dụng tiếng Anh của nhân viên trong
Công ty
Công ty nên bắt đầu việc cải thiện trình độ sử dụng tiếng Anh trong công ty
Investing.businessweek.com
Baohaiphong.com.vn
Tratu.soha.vn
Macmillandictionary.com
Thesaurus.com
Người hướng dẫn Phân tích tài chính
Nội dung
Chị Ngô Thị Huyền (phó phòng kế toán)
Mr. Trần Đức Huy
Tài liệu Nội dung Báo cáo tài chính năm 2012 của công ty
ANIMEX Hải Phòng
Báo cáo tài chính năm 2013 của công ty
ANIMEX Hải Phòng
22
KẾT LUẬN
Với tinh thần tận tâm trong công việc của các lãnh đạo và nhân viên, Công ty
Cổ phần Đầu tư và Xuất Nhập khẩu súc sản Gia cầm Hải Phòng là một trong những
doanh nghiệp nhà nước làm ăn có lãi, tiếp tục đóng vai trò làm doanh nghiệp “đầu
tàu” trong ngành chăn nuôi của cả nước. Những con số về doanh thu và lợi nhuận
khả quan đã chứng minh cho điều này. Dự án nhập khẩu thịt bò Úc để phục vụ thị
trường trong nước đã được triển khai hứa hẹn sẽ có những tín hiệu khả quan, vừa
phục vụ nhu cầu của các khách hàng Việt Nam, vừa giúp Công ty gia tăng lợi nhuận
đáng kể. Cách thức giao hàng giữ chữ tín là một trong những điều đáng học hỏi nhất
ở Công ty. Điều này giúp công ty duy trì và củng cố mối liên hệ với các bạn hàng
lớn như chuỗi các siêu thị BigC hay Metro.
Bên cạnh những mặt mạnh, Công ty cần có những chiến lược và định hướng
triển khai cụ thể để giải quyết những vấn đề về công cụ marketing nói chung và
giao tiếp khách hàng nói riêng. Vấn đề nguồn vốn không phải là thách thức dễ giải
quyết, nhất là trong giai đoạn khó khăn những năm gần đây. Tuy nhiên, với tiềm
năng phát triển của mình, Công ty hoàn toàn có thể tìm được lời giải đáp. Bối cảnh