Chương 1:
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI “ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN THƯƠNG MẠI MẶT HÀNG GIẦY DA CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ, XUẤT NHẬP KHẨU DA GIẦY HÀ NỘi
TRÊN THỊ TRƯỜNG MIỀN BẮC”
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Việt Nam trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã có những bước
chuyển mình phát triển về mọi mặt kinh tế - chính trị - xã hội cũng như vị thế trên
trường quốc tế. Trong sự phát triển vượt bậc về mặt kinh tế có sự đóng góp đáng kể
của các ngành kinh tế mũi nhọn như Dệt may, nông sản, chế biến thuỷ sản… trong
đó có ngành da giầy. Trong những năm qua các doanh nghiệp da giầy liên tục phát
triển về quy mô cũng như đa dạng hoá cải tiến chất lượng, mẫu mã sản phẩm, đặc
biệt là sản phẩm giầy da. Phát triển thương mại mà tập trung chủ yếu vào các thị
trường xuất khẩu mạng lại lợi nhuận cao như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản…phần lớn các
doanh nghiệp không quan tâm hoặc ít quan tâm đến phát triển thương mại thị
trường nội địa. Hơn nữa, kinh tế phát triển, thu nhập ngày càng được nâng cao, do
đó nhu cầu của người dân với mặt hàng giầy da ngày càng cao và đòi hỏi về chất
lượng cũng như mẫu mã cũng được nâng cao.
Vậy đề tài:” Giải pháp phát triển thương mại mặt hàng giầy da của công ty cổ
phần đầu tư, xuất nhập khẩu Da giầy Hà Nội trên thị trường miền Bắc” là cần thiết
xuất phát từ những lý do sau:
Về mặt lý luận:
Thứ nhất, phát triển thương mại mặt hàng là hoạt động không thể thiếu với
các doanh nghiệp nói chung và với các doanh nghiệp giầy da nói riêng. Vì vậy cần
có nền tảng lý luận cơ bản, rõ ràng, cụ thể để các doanh nghiệp giầy da có thể hiểu
rõ hơn về hoạt động phát triển thương mại mặt hàng giầy da. Đề tài nghiên cứu sẽ
giúp doanh nghiệp có cơ sở vững chắc về mặt lý luận để từ đó có những chiến lược
phát triển thương mại phù hợp với doanh nghiệp.
Thứ 2, Nghiên cứu phát triển thương mại mặt hàng giầy da trên thị trường
miền Bắc sẽ giúp các doanh nghiệp giầy da có những chiến lược phát triển thương
i
đề tài luận văn:
ii
“Giải pháp phát triển thương mại mặt hàng giầy da của công ty cổ phần đầu
tư, xuất nhập khẩu da giầy Hà Nội trên thị trường miền Bắc”
1.2 XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TRONG ĐỀ TÀI
Mỗi đề tài nghiên cứu đều tập trung tìm hiểu, luận giải, dự báo và có những
giải pháp mà thực tiễn đề ra. Vậy thì phát triển thương mại mặt hàng là gì? Các
nhân tố nào ảnh hưởng tới sự phát triển thương mại mặt hàng giầy da? Thực trạng
phát triển thương mại của mặt hàng giầy da ra sao? Có những thành công và tồn tại
nào trong phát triển thương mại mặt hàng giầy da? Giải pháp đề ra là gì?. Giải đáp
những vấn đề trên một cách đầy đủ, đề tài luận văn của em tập trung nghiên cứu
những vấn đề sau:
Về lý luận: Luận văn đưa ra tính cấp thiết khi nghiên cứu đề tài, xác lập và
tuyên bố vấn đề, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Tiếp theo, luận văn đã
trình bày các khái niệm liên quan đến vấn đề nghên cứu, đi tìm hiểu bản chất, mục
tiêu, vai trò của phát triển thương mại mặt hàng giầy da trên thị trường miền Bắc.
Bên cạnh đó, luận văn cũng tìm hiểu một số công trình nghiên cứu đi trước. Những
nguyên lý cơ bản chi phối trong hoạt động phát triển thương mại, những đặc điểm
vai trò cũng được luận văn nghiên cứu một cách kỹ càng.
Về mặt thực tiễn: trên cơ sở những lý luận cơ bản cùng với những phương
pháp phân thu thập, phân tích số liệu thực tế, luận văn đã cố gắng phân tích các
nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thương mại, thực trạng việc phát triển thương mại
mặt hàng giầy da trên thị trường miền Bắc của ngành da giầy. Đặc biệt lấy công ty
cổ phẩn đầu tư, xuất nhập khẩu da giầy Hà Nội làm ví dụ.
Về mặt giải pháp: từ những vấn đề thực tiễn nêu ra, luận văn giải quyết tập
trung những giải pháp mang tính đặc trưng của ngành da giầy cũng như của thị
trường miền Bắc. Từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể với nhà nước, hiệp hội da
giầy và các doanh nghiệp. Về phía nhà nước, luận văn đề xuất những chính sách
phù hợp nhằm phát triển thương mại mặt hàng giầy da. Về phía hiệp hội da giầy có
biện pháp cụ thể để nâng cao sức mạnh cạnh tranh của ngành. Về phía các doanh
- Về mặt nội dung
Phát triển thương mại được nghiên cứu dưới góc độ kinh tế thương mại xoay
quanh 3 vấn đề là nguồn lực thương mại, hiệu quả thương mại, và lợi thế so sánh
của mặt hàng giầy da. Và nội dung được luận văn tập trung vào bao gồm những vấn
đề sau:
+ Khai thác và lựa chọn sử dụng nguồn lực thương mại một cách hợp lí.
iv
+ Phân tích thị trường và xây dựng hoàn thiện hệ thống kênh phân phối mặt hàng
giầy da trên thị trường miền Bắc.
+ Phát huy lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của mặt hàng giầy da.
+ Đẩy mạnh tiêu thụ và nâng cao hiệu quả thương mại
- Về mặt không gian
Do những hạn chế nhất định như về thời gian, kinh phí, năng lực hạn chế,
bên cạnh đó là những giới hạn theo quy định cho phép, luận văn tập trung nghiên
cứu trong phạm vị nhất định, có tính thời sự đối với sự phát triển thương mại mặt
hàng giầy da trên thị trường miền Bắc. Trong quá trình thực tập em thấy công ty cổ
phần đầu tư, xuất nhập khẩu da giầy Hà Nội có những điều kiện phù hợp với nội
dung của luận văn. Bên cạnh đó em cũng có tham chiếu sang một số doanh nghiệp
sản xuất giầy da khác trên thị trường Bắc mà tập trung chủ yếu ở Hà Nội. Nghiên
cứu trong khoản không gian mẫu là những doanh nghiệp có tính tiêu biểu trên thị
trường miền Bắcdo đó luận văn vẫn mang tính khách quan và hoàn toàn có cơ sở để
đưa ra những kết luận và ứng dụng trong thực tế.
- Về mặt thời gian
Với đề tài, luận văn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm
2009. Trong khoảng thời gian này có những sự kiện đặc trưng để có thể cho thấy sự
phát triển của thương mại mặt hàng giầy da trên thị trường miền Bắc.
Đó là 3 năm sau khi Việt Nam ra nhập WTO đồng thời trong khoảng thời
gian này cũng xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính dẫn đến trì trệ trong phát triển
thương mại. Vì vậy mà trên cơ sở đó em đã chọn khoản thời gian này
Tóm lại có những giới hạn về mặt nội dung cũng như không gian và thời gian
lợi nhuận.
Thương mại, tiếng Anh là “Commerce” , ngoài ra còn có thuật ngữ khác là
Trade, tiếng Pháp “Commerce”, tiếng Latinh “Commercium”, về cơ bản các từ
này đều được hiểu là buôn bán hàng hóa với mục đích sinh lợi.
Luật Thương mại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng ghi:
“Hoạt động Thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm: mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi
khác”.
2.1.2 Thương mại hàng hoá
Thương mại hàng hoá là một bộ phận của thương mại nói chung, ra đời từ rất
lâu trong lịch sử. Thương mại hàng hoá là lĩnh vực trao đổi hàng hoá hữu hình, bao
gồm tổng thể các hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động hỗ trợ các chủ thể
kinh tế nhằm thúc đẩy quá trình trao đổi đó diễn ra theo mục tiêu đã xác định.
2.1.3 Khái niệm về sản phẩm giầy da
Nghề làm giầy đã được người Trung Quốc tìm ra từ thế kỷ thứ II trước công
nguyên với mục đích đơn giản ban đầu là giữ ấm cho đôi bàn chân và giúp cho việc
đi lại được dễ dàng hơn. Từ đó với sự thay đổi của thị trường, thói quen tập quán xã
vii
hội, quy trình giầy không ngừng phát triển và gắn bó với nhu cầu ăn mặc thời trang,
nó chịu ảnh hưởng nhanh chóng, trực tiếp của quy luật và chu kỳ mốt với những
yếu tố cấu thành nhiều vẻ như: Kiểu mẫu, chất lượng, nguyên liệu, công nghệ làm
sản phẩm sự thành công của các hãng giầy nổi tiếng trên thế giới.
Công nghệ sản xuất giầy đơn giản và ít thay đổi nơi làm việc không đòi hỏi
các điều kiện khắt khe, quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động, ưu thế rất
thích hợp với nước nghèo vì nguồn lao động dồi dào.
Đặc tính công nghệ của ngành giầy là có thể chia nhỏ các bước công nghệ
trong quá trình lắp ráp các chi tiết của sản phẩm. Đây là cơ sở để đào tạo, bố trí
người lao động cụ thể vào việc thao tác chuyên môn hoá.
Tổ chức hàng giầy có thể đơn giản, công cụ không đòi hỏi cồng kềnh và tối
tân nếu chưa đủ điều kiện sắp xếp vị trí và quy mô cơ động. Lúc muốn chuyên môn
chính xác hơn, làm rõ được bản chất thị trường. Thị trường không chỉ bao gồm các
mối quan hệ mà còn bao gồm các tiền đề cho các mối quan hệ và hành vi mua bán.
Có thể có nhiều cách thức và góc độ khác nhau được sử dụng để phân loại
và phân đoạn thị trường của doanh nghiệp. Sự khác nhau khi sử dụng các tiêu thức
này thường được xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ cần giải quyết.
Theo phạm vi hoạt động thì thị trường miền Bắc là một bộ phận của thị trường nội
địa bao gồm các tỉnh thuộc khu vực phía Bắc.
2.1.5 Khái niệm phát triển thương mại mặt hàng
Phát triển thương mại mặt hàng là sự nỗ lực cải thiện về quy mô, chất lượng
các hoạt động thương mại trên thị trường, nhằm tối đa hoá tiêu thụ và hiệu quả hoạt
động thương mại cũng như tối đa hoá lợi ích mà khách hàng mong đợi trên thị
trường mục tiêu.
2.2 BẢN CHẤT, MỤC TIÊU VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI
MẶT HÀNG GIẦY DA TRÊN THỊ TRƯỜNG MIỀN BẮC
2.2.1 Bản chất của phát triển thương mại mặt hàng giầy da
a. Bản chất
Phát triển thương mại mặt hàng giầy da trên thị trường miền Bắc là sự nỗ lực
cải thiện về quy mô, chất lượng các hoạt động thương mại trên thị trường miền Bắc,
ix
nhằm tối đa hoá tiêu thụ và hiệu quả hoạt động thương mại cũng như tối đa hoá lợi
ích mà khách hàng mong đợi trên thị trường miền Bắc.
Như vậy, bản chất của phát triển thương mại mặt hàng giầy da là sự tăng lên
về số lượng, cơ cấu, chất lượng sản phẩm, mối quan hệ bền vững với khách hàng và
sự phát triển ổn định, bền vững về mọi mặt của mặt hàng giầy da trên thị trường
miền Bắc.
b. Các chỉ tiêu đánh giá phát triển thương mại:
- Giá trị gia tăng trong thương mại hàng hoá: Chỉ tiêu này phản ánh chênh lệch giữa
kết quả và chi phí nguồn lực bỏ ra trong thương mại hàng hoá của quốc gia. Giá trị
gia tăng là chỉ tiêu phản ánh kết quả tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Nó cho phép
phân tích đánh giá sự tham gia, sự đóng góp của thương mại ngành hàng đó vào thu
+ Phát triển bền vững các quan hệ với khách hàng và đối tác. Đây là cơ sở,
môi trường để doanh nghiệp phát triển các hoạt động kinh doanh của mình.
+ Tối đa hoá hiệu quả sử dụng các nguồn lực và lợi ích cuả các nhà cung cấp.
Đây là điều kiện để các doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
b. Đối với kinh tế - xã hội
+ Phát triển thương mại mặt hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, phục vụ
cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước, góp phần tạo thu nhập,
tăng trưởng cho nền kinh tế.
+ Phát triển thương mại mặt hàng nhằm góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thưo hướng nâng dần tỷ trọng công nghiệp dịch vụ, giảm dần tỷ trọng của nông
nghiệp trong cơ cấu các ngành.
+ Phát triển thương mại mặt hàng nhằm ổn định thị trường nội địa, góp phần
bình ổn nền kinh tế.
+ Phát triển thương mại mặt hàng nhằm giải quyết công ăn việc làm cho một
số bộ phận người lao động, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống
của người dân.
+ Phát triển mạng lưới giao thông vận tải, thu hẹp khoảng cách chênh lệch
giầu nghèo giữa thành thị và nông thôn.
2.2.3 Vai trò của phát triển thương mại mặt hàng giầy da trên thị trường miền
Bắc.
a. Vai trò đối với nền kinh tế quốc dân.
- Góp phần vào sự ổn định và phát triển lành mạnh của thị trường nội địa.
Phát triển thương mại mặt hàng giầy da không chỉ là tăng trưởng về quy mô
mà còn cải thiện về cơ cấu, chất lượng tạo sự phát triển ổn định cho ngành da giầy,
xi
bên cạnh đó các ngành xoay quanh cũng có được sự phát triển ổn định đi kèm như
ngành đầu vào nguyên liệu như cao su, da thuộc, vải, si đánh giầy… Sự phát triển
lành mạnh của mặt hàng giầy da sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của
khu vực miền Bắc cũng như thị trường nội địa.
- Góp phần vào giải quyết tốt thông qua thị trường các mối quan hệ liên quan đến
b. Đối với doanh nghiệp
- Tăng doanh thu, lợi nhuận, góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng quy mô của
doanh nghiệp trong quá trình phát triển.
- Gắn liền sản xuất với tiêu dùng, thúc đẩy lưu thông hàng hoá tránh sự tắc nghẽn
trong lưu thông, giải quyết vòng tuần hoàn sản xuất – lưu thông - phân phối – tiêu
dùng.
- Nâng cao thương hiệu cho doanh nghiệp, tạo lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị
trường tiêu thụ, góp phần vào quá trình phát triển bền vững của doanh nghiệp.
c. Đối với người tiêu dùng.
- Đáp ứng nhu cầu đi lại cho người tiêu dùng. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử
dụng mặt hàng giầy da ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt giầy
da lại là dụng cụ đi lại chính của các nhân viên trong quá trình đi làm ở công sở.
- Đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của người tiêu dùng.Bây giờ người dân không chỉ ăn
no mặc ấm mà là ăn ngon mặc đẹp. Phát triển thương mại mặt hàng giầy da sẽ đáp
ứng nhu cầu “mặc đẹp” của người tiêu dùng, tạo ra sự phong phú cho sự lựa chọn
trang phục của người tiêu dùng.
2.3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU CỦA NHỮNG
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NĂM TRƯỚC
Trong quá trình thực hiện luận văn em có tham khảo một số công trình
nghiên cứu khoa học của những năm trước. Những công trình nghiên cứu hoặc có
liên quan gián tiếp hoặc liên quan trực tiếp tới đề tài.
a. Những công trình có liên quan gián tiếp tới đề tài:
Theo sinh viên Trịnh Thu Hằng (2005), luận văn tốt nghiệp “ Một số giải
pháp tài chính nhằm thúc đẩy sản xuất hàng xuất khẩu ở công ty Da giầy Hà Nội” –
khoa Thương Mại Quốc Tế - ĐHTM. Luận văn đã làm rõ được thực trạng vấn đề tài
chính doanh nghiệp trong sản xuất và từ đó đề ra các giải pháp ở tầm vi mô cho
doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp thúc đẩy sản xuất trong
thời kì nghiên cứu.
Theo sinh viên Trần Thị Hà(2008) , luận văn tốt nghiệp “ Giải pháp khai thác
và sử dụng thông tin thị trường với đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm giầy da của công
Đề tài nghiên cứu đã làm sáng tỏ những lý luận liên quan đến phát triển thương mại
mặt hàng thép. Bên cạnh đó cũng đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu mới như
điều tra, phỏng vấn, phân tích thông kê… để làm rõ thực trạng của doanh nghiệp
xiv
cũng như của ngành thép. Các đề xuất và giải pháp đưa ra với nhà nước, ngành thép
cũng như các doanh nghiệp đã góp phần giải quyết những vấn đề còn tồn đọng để
phát triển thương mại mặt hàng thép.
Theo sinh viên Mai Thị Anh (2009), luận văn tốt nghiệp “Phát triển thương
mại sản phẩm sữa nhập khẩu trên thị trường miền Bắc”, Khoa Kinh Tế - ĐHTM. Đề
tài nghiên cứu lý giải những vấn đề mang tính lí luận và thực tiễn sâu sắc của ngành
sữa cũng như nhu cầu thiết yếu phải nhập khẩu sản phẩm sữa. Từ đó có kiến nghị
với nhà nước những chính sách quản lý mặt hàng sữa nhập khẩu nhằm phát triển
thương mại mặt hàng này. Luận văn cũng đưa ra các giải pháp cụ thể và mang tính
ứng dụng cao cho ngành và doanh nghiệp hướng tới phát triển thương mại bền
vững.
Các đề tài nghiên cứu trên đã chỉ ra tính các thiết của vấn đề phải có nghiên
cứu sâu sắc và rõ ràng về thị trường miền Bắc, một thị trường đầy hấp dẫn và hứa
hẹn cho các doanh nghiệp. Các tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp mới để
phù hợp với tình hình mới do đó có tính khách quan cao đi sâu vào vấn đề đặt ra.
Tuy nhiên, từ những vấn đề cấp thiết phải nghiên cứu phát triển thương mại
trên thị trường miền Bắc nhưng vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về mặt hàng giầy
da, một mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Từ đó thôi thúc tác giả thực hiện đề tài luận
văn này. Luận văn có sử dụng các phương pháp điều tra, phỏng vấn cũng như phân
tích thống kê so sánh để làm rõ thực trạng của ngành da giầy nói chung và mặt hàng
giầy da nói riêng. Trên cơ sở thời gian nghiên cứu là từ năm 2007 đến 2009 tức là 3
năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO cũng như cuộc suy thoái tài chính diễn ra gần
đây, luận văn mang đầy đủ tính thời sự và hữu ích của nó. Đồng thời, luận văn cũng
có những kiến nghị với nhà nước trên cơ sở thực trạng còn tồn tại trong quản lý nhà
nước về ngành da giầy, cũng như với hiệp hội da giầy trên lĩnh vực liên kết tạo sức
mạnh cạnh tranh. Và với các doanh nghiệp là giải pháp cụ thể nhằm phát triển
Một doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động có trình độ cao sẽ thúc đẩy hoạt động
phát triển thương mại một cách thuận lợi từ đó tạo ra sức mạnh cạnh tranh lớn.
Thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có một
thương hiệu mạnh sẽ nhận được ấn tượng tốt của khách hàng. Đặc biệt với mặt hàng
giầy da luôn có sự yêu cầu cao của người tiêu dùng thì thương hiệu chính là lời đảm
bảo về chất lượng cũng như mẫu mã của doanh nghiệp với người tiêu dùng.
- Lợi ích của nhà cung ứng.
Lợi ích của nhà cung ứng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cung ứng hàng
hoá. Sự phát triển thương mại mặt hàng giầy da và lợi ích nhà cung ứng có mối
xvi
quan hệ thuận, lợi ích của nhà cung ứng tăng, càng khích thích và thúc đẩy họ cung
ứng hàng hóa có chất lượng hơn.
- Dựa trên lợi thế so sánh, hiệu quả kinh tế xã hội.
Ngành da giầy có lợi thế là nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ đó là lợi thế không
nhỏ trong cạnh tranh cũng như nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội. Tuy nhiên mỗi
doanh nghiệp trong ngành lại có những lợi thế riêng nhất định. Phát triển thương
mại trên cơ sở tận dụng được các lợi thế của ngành hàng sẽ đảm bảo cho doanh
nghiệp phát triển và có sức mạnh cạnh tranh trên thị trường.
- Dựa trên đường lối phát triển thương mại của Đảng và Nhà nước.
Cũng như các mặt hàng khác, ngành da giầy cũng chịu sự tác động không nhỏ từ
đường lối mà cụ thế là các chính sách phát triển của nhà nước. Chính sách của nhà
nước có thể kìm hãm hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thương mại mặt
hàng giầy da. Các doanh nghiệp cũng thường đề ra các chiến lược phát triển dựa
trên đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước.
2.4.2 Các chính sách phát triển thương mại ngành hàng da giầy trên thị trường
phía Bắc.
- Lựa chọn và phát triển lợi thế của ngành hàng:
Nguồn hàng là nơi hàng hoá được cung ứng trên thị trường. Đó là nơi phát ra
luồng hàng hóa vận động cả trong nước và ngoài nước, là nơi cung ứng hàng hoá
phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sản xuất nội địa và xuất khẩu. Tuy nhiên nguồn hàng
liệu cho các doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của việc sản xuất
giầy dép trong nước.
- Về tiếp cận thị trường và xác lập hệ thống phân phối:
Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại và tiếp thị để phát triển và mở
rộng thị trường miền Bắc. Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, ứng dụng công
nghệ hiện đại trong sản xuất nguyên phụ liệu, sản phẩm, mẫu mốt thời trang chủ
động hội nhập vững chắc với nền kinh tế thế giới.
Phát huy thế mạnh của kênh phân phối truyền thống, đồng thời mở rộng hệ
thống phân phối hiện đại. Tăng cường liên kết hợp tác với các nhà phân phối trên cơ
sở đôi bên cùng có lợi nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh.
- Xác lập và cải thiện giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị cung ứng:
Trong chuỗi giá trị đảm bảo thực hiện tốt tất cả các khâu và khâu mang lại
giá trị gia tăng cao nhất cho doanh nghiệp, từ đó có thể phát huy được lợi thế doanh
nghiệp nằm ở khâu đó. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì quá
trình sản xuất hàng hoá, dịch vụ có thể chia thành các khâu: nghiên cứu, triển khai,
xviii
thiết kế; khâu sản xuất bao gồm việc chế tạo, gia công, lắp ráp…; phân phối tiếp thị.
Trong đó, khâu sản xuất thường chiếm phần giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi
giá trị gia tăng. Việt Nam hiện nay mới chỉ tham gia được vào phân khúc sản xuất,
gia công - khâu đem lại giá trị gia tăng thấp nhất của chuỗi giá trị. Do đó cần tập
trung đầu tư phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ để tăng cường khả năng cung ứng
nguyên vật liệu, bán thành phẩm, phụ liệu đầu vào trong nước cho sản xuất, thúc
đẩy mối quan hệ bổ trợ liên ngành giữa các ngành công nghiệp, tăng sự chủ động về
nguyên vật liệu đầu vào Cùng với việc xây dựng các nhà máy sản xuất nguyên phụ
liệu, cần xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu để tăng khả năng cung
ứng về nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu ngày càng gia
tăng của việc sản xuất giầy da.
2.4.3 Đặc điểm phát triển thương mại mặt hàng giầy da trên thị trường miền
Bắc.
- Đặc điểm mặt hàng giầy da:
ngày càng cao về mẫu mã cũng như chất lượng và bên cạnh đó còn phải hợp với
thời trang.
Về nguồn cung mặt hàng: nguồn cung mặt hàng trên thị trường là đa dạng.
Từ các doanh nghiệp trong nước, từ các doanh nghiệp nước ngoài, từ các nguồn tiểu
ngạch, nhập lậu. Từ đó tạo nên sự đa dạng về mặt hàng cũng như sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt.
Về phân phối: các doanh nghiệp trong nước chủ yếu phân phối theo phương
thức truyền thống, điều này đòi hỏi qua nhiều khâu dẫn đến chi phí cao và không
quản lí được nguồn hàng. Trong khi đó phương thức hiện đại lại chưa được các
doanh nghiệp trong nước chú trọng, đây được coi là thế mạnh của các doanh nghiệp
nước ngoài bởi hệ thống phân phối của họ khá phong phú và hiện đại.
xx
Chương 3:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỐ
LIỆU THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI MẶT
HÀNG GIẦY DA TRÊN THỊ TRƯỜNG MIỀN BẮC
3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Phương pháp thu thập dữ liệu là việc nghiên cứu, tìm hiểu thông tin về các vấn đề
thực tế tại doanh nghiệp. Dữ liệu thu thập được có thể là dữ liệu sơ cấp hoặc dữ liệu
thứ cấp. Có thể thu thập dữ liệu qua các cách sau:
a. Thu thập dữ liệu sơ cấp qua điều tra, phỏng vấn.
Điều tra trắc nghiệm là phương pháp được sử dụng để đánh giá chất lượng của đối
tượng khảo sát với một chương trình đòi hỏi đối tượng thực hiện, đo lường khách
quan những phản ứng của đối tượng được trắc nghiệm, biểu hiện tâm lý và mức độ
nhận thức của người được trắc nghiệm. Việc chọn đối tượng điều tra phải vừa đảm
bảo tính ngẫu nhiên, vừa mang tính đại diện. Đặt câu hỏi phải đảm bảo khai thác tối
đa ý kiến cá nhân của người được hỏi. Phương pháp này đáp ứng việc nghiên cứu
trên diện rộng đồng thời khắc phục những hạn chế về nhân lực, tài chính, thời
gian…
c. Một số phương pháp khác cũng được đồng thời áp dụng như: phương pháp quy
nạp, phương pháp tổng quan tài liệu, phương pháp thống kê tổng hợp
3.2 ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG KINH DOANH MẶT HÀNG
GIẦY DA VÀ NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
THƯƠNG MẠI MẶT HÀNG GIẦY DA TRÊN THỊ TRƯỜNG MIỀN BẮC
3.2.1 Đánh giá khái quát thực trạng kinh doanh mặt hàng giầy da trên thị
trường miền Bắc.
a. Khái quát thực trạng hoạt động kinh doanh mặt hàng giầy da trên thị trường miền
Bắc.
- Về nhu cầu thị trường
Thị trường miền Bắc với tổng dân số khoảng 32 triệu người, chiếm 36% dân số cả
nước với tốc độ đô thị hoá ngày càng cao là một thị trường đầy hấp dẫn. Nhu cầu
của thị trường miền Bắc là tương đối lớn với mức trung bình tiêu thụ là 1.5 đôi/
người/ năm. Mặc dù vậy nhưng thực tế cho thấy các doanh nghiệp trong nước vẫn
xxii
chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường này với chỉ 30% thị phần, còn lại là của
các doanh nghiệp nước ngoài cũng như giầy da Trung Quốc nhập lậu.
Về mức độ cạnh tranh
Các doanh nghiệp trong nước đang chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ cạnh
tranh là giầy da nhập khẩu và giầy da nhập lậu. Mặt hàng giầy da nhập khẩu thì có
thể mạnh là thương hiệu, chất lượng, mẫu mã và có kênh phân phối đa dạng và
phong phú. Bên cạnh đó giầy da nhập lậu lại có ưu thế mạnh về giá và mẫu mã. Giá
của giầy gia Trung Quốc bán ở thị trường miền Bắc chỉ khoảng 120000/đôi đến
240000/đôi trong khi đó giá của các sản phẩm của doanh nghiệp trong nước là
khoảng 240000/đôi đến 400000/đôi. Bên cạnh đó, từ trước đến nay các doanh
nghiệp trong nước chưa thực sự quan tâm đến thị trường nội địa cũng như thị
trương miền Bắc nên thị phần dành được tại thị trường này là không cao.
Về quy mô
Các chính sách thúc đẩy sản xuất của Chính phủ đã giúp ngành da giày có những
bước tiến nhanh và mạnh mẽ. Tính đến hết năm 2008, toàn ngành đã đầu tư 22
Doanh thu Công ty đều tăng qua các năm. Điều này chứng tỏ khả năng tiêu thụ
được của công ty năm sau đều cao hơn năm trước. Doanh thu năm 2008 tăng 0.97%
so với năm 2007 nhưng năm 2009 công ty đã phấn đấu tăng 4.13% so với năm 2008
Bảng 3.1: Kết quả tài chính của công ty cổ phần đầu tư, xuất nhập khẩu Da
giầy Hà Nội
Đơn vị: triệu đồng
Năm 2007 2008 2009
So sánh tăng
giảm
08/07 09/08
1.Doanh thu thuần 103142. 104145.5 108456.03 0.97 4.13
2. Giá vốn hàng bán 90120.2 92478.6 90126.3 2.61 -2.54
3.Lãi gộp 13022 11666.9 18329.73 -10.4 57.1
4. CFQLKD 9596.3 9315.18 15210 -2.92 13.4
5.CF bán hàng (quảng
cáo) 821.34 974.11 795.3 5.72 -18.3
6. LNT từ HĐSXKD 2604.36 1377.61 2324.43 -47.1 68.7
xxiv
7. Thuế phải nộp 1041.74 551.04 929.77 -47.1 68.7
8. LN sau thuế 1562.6 826.566 1394.65 -47.1 68.7
Nguồn: Bảng cân đối kế toán
Tình hình lợi nhuận của công ty tăng giảm thất thường, năm tăng năm giảm. Năm
2008 lợi nhuận trước thuế (LN thuần từ hoạt động KD) giảm với tỷ lệ là 47,1% so
với năm 2007 nhưng năm 2009 lại tăng 68,7% tương ứng 946,82 triệu đồng so với
năm 2008.
Lợi nhuận sau thuế năm 2008 giảm 47.1% so với năm 2007 nhưng cũng tăng
68.7% trong năm 2009 . Do chi phí tăng lên nên lợi nhuận thu được là tương đối thấp
không đảm bảo được sự ổn định cần thiết và không đảm bảo cho nhu cầu tái đầu tư để
tồn tại và phát triển. Tình hình chi phí năm 2009: tổng chi phí là 16005.3 triệu
đồng chưa kể tiền thuế.