TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài: GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CÀ
PHÊ XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN
THÁI HÒA
Sinh viên thực hiện : Bùi Phương Loan
Lớp : K42 E4
Giảng viên hướng dẫn : TS Lục Thị Thu Hường
Hà Nội, năm 2010
TÓM LƯỢC
Luận văn là kết quả của quá trình nghiên cứu, tìm hiểu phân tích đánh giá về quản
trị chuỗi cung ứng cà phê xuất khẩu của công ty cổ phần Tập đoàn Thái Hòa. Quá trình
nghiên cứu được tiếp cận bằng phương pháp phỏng vấn chuyên sâu, phương pháp thu
thập dữ liệu thứ cấp. Thông qua các phương pháp đó, bằng cách nhìn nhận đánh giá
những thành công, tồn tại, nguyên nhân phát sinh; bằng các kết quả phân tích rút ra được
kết luận về quản trị chuỗi cung ứng cà phê xuất khẩu của công ty cổ phần Tập đoàn Thái
Hòa. Đây là căn cứ để đưa ra các giải pháp quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả nhằm đóng
góp vào sự tăng trưởng của hoạt động kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Thông qua bài luận văn này, cùng với các kết quả tích lũy trong đó em hy vọng sẽ
đóng góp phần nào vào việc nghiên cứu về quản trị chuỗi cung ứng nói chung và các yếu
tố xác lập hiệu quả và hiệu năng của chuỗi cung ứng nói riêng.
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại trường đại học Thương Mại, khoa Thương mại quốc tế
em đã được các thầy, cô truyền đạt rất nhiều kiến thức. Nhưng để đánh giá kết quả học
tập, đồng thời để so sánh những kiến thức được trang bị ở trường với thực tế đang diễn ra
ở doanh nghiệp và bước đầu làm quen với công việc, em đã thực tập tại phòng kinh doanh
1.3 CÁC MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4
1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
4
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG 6
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
6
2.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng 6
2.1.2 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng 6
2.2 MỘT SỐ NỘI DUNG LÍ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG
6
2.2.1 Phạm vi của chuỗi cung ứng 6
2.2.2 Các thành viên trong chuỗi cung ứng 7
2.2.3 Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng đối với hoạt động kinh doanh 8
a. Mục tiêu của chuỗi cung ứng 8
b. Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng đối với hoạt động kinh doanh 9
2.2.4 Các yếu tố xác lập hiệu quả và hiệu năng của chuỗi cung ứng 10
a. Mạng lưới cơ sở sản xuất – kinh doanh 10
b. Dự trữ 11
c. Vận chuyển 12
d. Thuê ngoài 12
e. Thông tin 13
2.2.5 Hệ thống đánh giá kết quả chuỗi cung ứng 14
28
3.3.1 Mạng lưới cơ sở sản xuất- kinh doanh 28
3.3.2 Dự trữ 29
3.3.3 Vận chuyển 30
3.3.4 Thuê ngoài 31
a. Trồng nguyên liệu 31
b. Dự trữ 32
c. Vận chuyển 32
d. Thiết kế hệ thống thông tin 33
3.3.5 Thông tin 33
3.4 HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHUỖI CUNG ỨNG
35
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TẠI CÔNG TY CPTĐTHÁI
HÒA 36
4.1 KẾT LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TẠI CÔNG TY CPTĐ THÁI HÒA
36
4.1.1 Thành công 36
4.1.2 Các hạn chế 38
4.2 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÀ PHÊ VIỆT NAM VÀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA CÔNG
TY
39
4.2.1 Xu hướng phát triển ngành cà phê Việt Nam 39
4.2.2 Chiến lược kinh doanh của Thái Hoà tới 2012 41
4.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG
42
tỷ USD, tăng 22,3% về lượng và 50% về kim ngạch so với năm 2006. Năm 2009, xuất
khẩu đạt 1,15 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1,75 tỷ USD. So với năm 2008,
xuất khẩu cà phê năm 2009 tăng 14,9% về lượng nhưng giảm 19,2% về giá do tác động
của khủng hoảng kinh tế thế giới.
Với mức tăng này cà phê đang là mặt hàng dẫn đầu về
kim ngạch xuất khẩu trong nhóm hàng nông, lâm sản và là một trong 10 mặt hàng có kim
ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD. Năm 2007 cũng là năm đầu tiên kim ngạch xuất khẩu
cà phê vượt kim ngạch xuất khẩu gạo với mức 13%. Theo đường lối của Đảng và nhà
nước, trong những năm tới ngành cà phê Việt Nam sẽ chú trọng mở rộng chủng loại mặt
hàng; sản xuất cà phê chất lượng cao; đổi mới công nghệ, thiết bị chế biến, khuyến khích
áp dụng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm nhà nước phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế nhằm
đẩy mạnh xuất khẩu. Cà phê hiện vẫn được coi là một trong những cây trồng chiến lược
trong quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam, xoá đói giảm nghèo và
làm giàu cho người nông dân.
Việt Nam đang trên đà đổi mới theo hướng kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà
nước, và đang trong bối cảnh Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới mang nhiều tính
cạnh tranh và năng động. Các thuật ngữ và kiến thức về Quản trị chuỗi cung ứng chỉ mới
thực sự biết đến ở Việt Nam trong những năm gần đây, tuy nhiên nó lại nhận được sự
quan tâm đặc biệt vì tầm quan trọng của nó. Đối với các công ty, quản trị chuỗi cung ứng
(SMC) có vai trò rất to lớn, bởi SMC giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp
một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các nguồn nguyên liệu đầu vào hoặc tối ưu hóa
1
quá trình luân chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ và SCM có thể giúp tiết kiệm
chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
. Theo AMR Research yếu tố cơ bản
để cạnh tranh ngày nay trong các công ty hàng đầu là sở hữu một chuỗi cung ứng trội hơn
hẳn đối thủ. Nói cách khác, SCM không còn là một chức năng mang tính hoạt động của
các công ty hàng đầu mà trở thành một bộ phận chiến lược của công ty.
Công ty TNHH Thái Hòa thành lập tháng 3 năm 1996, vốn điều lệ khởi điểm 10 tỷ
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Xuất phát từ thực tiễn của công ty, qua quá trình khảo sát thực tế và nghiên cứu tại
doanh nghiệp, cùng với định hướng của các thầy cô hướng dẫn thực tập và hướng dẫn làm
luận văn, em đã quyết định chọn đề tài “Giải pháp quản trị chuỗi cung ứng cà phê xuất
khẩu của công ty Thái Hòa” nhằm giúp công ty có được giải pháp hợp lí để phát triển
theo xu hướng và yêu cầu của thị trường.
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận của quản trị chuỗi cung ứng và các vấn đề liên quan đến
quản trị chuỗi cung ứng như: các yếu tố tạo nên hiệu quả và hiệu năng của chuỗi cung
ứng, mục tiêu của chuỗi cung ứng, vai trò của quản trị chuỗi cung ứng, các thành viên
trong chuỗi cung ứng…
- Thông qua việc nghiên cứu tài liệu về công ty, phỏng vấn những nhân viên của
công ty để có thể đánh giá thực trạng các hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của công ty
cũng như những ưu, nhược điểm.
3
- Dựa trên cơ sở lí luận và đánh giá thực trạng hoạt động chuỗi cung ứng của công
ty để đưa ra các giải pháp liên quan đến các yếu tố tạo nên hiệu quả và hiệu năng của
chuỗi cung ứng.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn của một luận văn tốt nghiệp, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề
sau:
- Chủ thể nghiên cứu: Công ty cổ phần tập đoàn Thái Hòa.
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu một số các vấn đề liên quan đến
quản trị chuỗi cung ứng cà phê xuất khẩu của công ty cổ phần tập đoàn Thái Hòa như :
các yếu tố tạo nên hiệu quả của chuỗi cung ứng (mạng lưới cơ sở sản xuất kinh doanh, dự
trữ, vận chuyển, thuê ngoài, thông tin), các thành viên tham gia chuỗi cung ứng, các yếu
tố ảnh hưởng tới sự phát triển của hoạt động chuỗi cung ứng của doanh nghiệp.
- Về mặt không gian: Việc nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi chuỗi cung ứng
trực tiếp.
- Về mặt thời gian: Dựa trên kết quả kinh doanh của công ty Thái Hòa trong 3 năm
- Dòng tài chính: thể hiện sự thanh toán của khách hàng đối với nhà cung cấp, bao
gồm các giao dịch tín dụng, các quá trình thanh toán và ủy thác, các dàn xếp về sở hữu.
- Dòng thông tin: dòng giao và nhận các đơn đặt hàng, theo dõi quá trình dich
chuyển của hàng hóa và chứng từ giữa người gửi và người nhận, thể hiện sự trao đổi
thông tin hai chiều và đa chiều giữa các thành viên, kết nối các nguồn lực tham gia chuỗi
ung ứng, giúp chuỗi cung ứng vận hành hiệu quả.
2.1.2 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng
Diễn đàn chuỗi cung ứng toàn cầu (GSCF, 1998): SCM là sự tích hợp các quy trình
kinh doanh cơ bản từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu dùng cuối cùng để cung cấp hàng hóa,
dịch vụ và thông tin làm gia tăng giá trị cho khách hàng và các thành viên khác trong
chuỗi cung ứng.
2.2 Một số nội dung lí thuyết về Quản trị chuỗi cung ứng
2.2.1 Phạm vi của chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào số lượng và loại
hình các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng. Phạm vi của chuỗi cung ứng có thể
chia ra làm 3 nhóm, được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp.
- Chuỗi cung ứng trực tiếp: Bao gồm 1 doanh nghiệp trung tâm với các nhà cung cấp
và các nhóm khách hàng trực tiếp của doanh nghiệp đó. Đây là nhóm thành viên cơ bản
tạo nên một chuỗi cung ứng.
6
- Chuỗi cung ứng mở rộng: Gồm có chuỗi cung ứng trực tiếp với sự tham gia mở
rộng của nhà cung cấp đầu tiên trong chuỗi và khách hàng tiêu dùng cuối cùng.
- Chuỗi cung ứng hoàn chỉnh: Là chuỗi cung ứng mở rộng cùng với toàn bộ các
công ty cung cấp dịch vụ cho các thành viên chính trong chuỗi. Đó là các công ty làm
thầu phụ, công ty dịch vụ vân tải, kinh doanh kho bãi, công ty cung cấp hệ thống thông
tin…Đây là các doanh nghiệp liên quan 1 cách gián tiếp đến chuỗi cung ứng nhưng đóng
một vai trò quan trọng để hoạt động của chuỗi cung ứng diễn ra liên tục, nhịp nhàng và
hiệu quả.
2.2.2 Các thành viên trong chuỗi cung ứng
Trong bất kì chuỗi cung ứng nào luôn có sự kết hợp các công ty thực hiện các chức
nhau cho các thành viên chính trong chuỗi. Các doanh nghiệp dịch vụ đóng góp những lợi
ích thiết thực cho chuỗi cung ứng ở chỗ giúp các thành viên chính trong chuỗi có thể mua
sắm sản phẩm ở nơi họ cần, cho phép người mua và người bán giao tiếp một cách hiệu
quả, cho phép doanh nghiệp phục vụ các thị trường xa xôi, giúp doanh nghiệp tiết kiệm
chi phí vận tải nội địa và quốc tế, và nói chung là giúp doanh nghiệp phục vụ tốt khách
hàng với tổng chi phí thấp nhất có thể. Nhờ năng lực chuyên môn hóa cao với các tài sản,
thiết bị đặc thù mà họ có thể thực hiện các dịch vụ hiệu quả hơn ở một mức giá hợp lí hơn
so với việc các doanh nghiệp sản xuất, phân phối, bán lẻ, hay khách hàng tự làm.
Các thành viên trong chuỗi cung ứng cố gắng tối ưu hóa hoạt động của mình khi
cùng hướng tới mục tiêu chung của chuỗi. Thông thường, có một doanh nghiệp mạnh
đóng vai trò “lãnh đạo” trong chuỗi. Doanh nghiệp này thường có quy mô và năng lực
quản lí để chi phối các thành viên khác trong chuỗi. Mỗi thành viên sẽ tập trung vào năng
lực cốt lõi của mình và tham gia vào hoạt động của chuỗi một cách tự nguyện, cùng chia
sẻ và phối hợp vì lợi ích tổng thể của chuỗi.
2.2.3 Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng đối với hoạt động kinh doanh
a. Mục tiêu của chuỗi cung ứng
Mục tiêu của mọi chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn hệ thống. Giá
trị tạo ra của chuỗi cung ứng là sự khác biệt giữa giá trị sản phẩm cuối cùng đối với khách
hàng và nỗ lực mà chuỗi cần dùng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đối với hầu
hết các chuỗi cung ứng, giá trị có mối liên quan mật thiết với lợi nhuận của chuỗi, đó là
8
sự khác biệt giữa doanh thu mà khách hàng phải trả cho công ty đối với việc sử dụng sản
phẩm/dịch vụ và tổng chi phí của toàn chuỗi.
Mục tiêu tối đa hóa giá trị của toàn hệ thống chỉ có thể đạt được thông qua việc cân
đối giữa tính hiệu quả và tính hiệu năng trong toàn chuỗi. Trong đó cấu trúc của chuỗi
cung ứng phải được thiết kế phù hợp với chiến lược chuỗi cung ứng nói riêng và thích
nghi với chiến lược cạnh tranh nói chung của doanh nghiệp và của chuỗi cung ứng. Trong
đó tính hiệu quả và hiệu năng của chuỗi cung ứng có thể hiểu được là:
- Hiệu quả: đáp ứng đúng những yêu cầu của khách hàng
- Hiệu năng: đáp ứng nhu cầu khách hàng với nguồn lực thấp nhất
thể mà tại đó sản phẩm được chế tạo, lắp ráp, gia công lưu trữ, bảo quan trưng bày hoặc
thực hiện dịch vụ khách hàng. Đó là các nhà máy, xưởng sản xuất, kho bãi, trung tâm
dịch vụ khách hàng và các cửa hàng bán lẻ.
Mạng lưới cơ sở sản xuất- kinh doanh là tổng thể các cơ sở vật chất- kĩ thuật trực
tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và phát
triển theo quá trình sản xuất, phân phối và vận động hàng hóa.
Vị trí quy mô và chức năng của các cơ sở này tác động quan trọng đến hiệu quả và
hiệu năng hoạt động trong chuỗi. Mạng lưới cơ sỏ sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến chi phí và đặc tính của chuỗi cung ứng. Mục tiêu là phải thiết kế được một
mạng lưới sao cho tối thiểu hóa được chi phí tổng thể đồng thời đáp ứng tốt nhu cầu
khách hàng.
Trong hệ thống chuỗi cung ứng tổng thể, mạng lưới các cơ sở sản xuất- kinh doanh bao
gồm 2 nhóm cơ bản:
- Mạng lưới các cơ sở sản xuất.
- Mạng lưới phân phối.
Các quyết định liên quan đến thiết kế và xây dựng cấu hình mạng lưới:
- Vai trò và chức năng của từng cơ sở sản xuất- kinh doanh
- Số lượng và vị trí của các nhà xưởng, nhà kho, điểm bán lẻ
- Quy mô của mỗi cơ sở sản xuất- kinh doanh
- Quyết định sản phẩm nào sẽ được giao cho khách hàng từ mỗi cơ sở xác định
Khi đưa ra các quyết định liên quan đến mạng lưới cơ sở sản xuất- kinh doanh,
doanh nghiệp cần cân nhắc khả năng đáp ứng và hiệu năng của mạng lưới. Nếu quyết
10
định đầu tư vào một số ít kho bãi có quy mô lớn thì sẽ có được lợi thế nhờ quy mô và
giảm được chi phí. Còn nếu có được nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh ở nhiều vị trí gần
với khách hàng và nhà cung cấp thì sẽ có được khả năng đáp ứng nhanh chóng hơn linh
hoạt hơn nhưng chi phí đầu tư sẽ lớn.
Về cơ bản,doanh nghiệp phải cân đối giữa chi phí đầu tư cho việc xây thêm một cơ
sở mới (ví dụ: một trung tâm phân phối) với sự thuận lợi có được từ khả năng tiếp cận với
khách hàng. Khi gia tăng số lượng trung tâm phân phối gần với thị trường tiêu thụ. Khi
trong chuỗi cung ứng. Sự cân nhắc giữa hiệu quả và hiệu năng trong hoạt động vận
chuyển thể hiện trong việc thiết kế mạng lưới vận chuyển cũng như lựa chọn phương tiện
vận tải phù hợp. Vận chuyển bằng mấy bay thì rất nhanh chóng nhưng cũng rất tốn kém.
Sử dụng tàu thủy, tàu hỏa thì chi phí thấp nhưng không đáp ứng được nhanh chóng khi có
sự biến động của thị trường. Vì chi phí vận chuyển có thể chiếm đến một phần ba chi phí
kinh doanh của chuỗi cung ứng nên các quyết định về vận chuyển là rất quan trọng.
Các quyết định liên quan đến quản trị vận chuyển
- Thiết kế mạng lưới vận chuyển
- Lựa chọn phương tiện vận chuyển
- Lựa chọn phương thức vận chuyển
- Lựa chọn đơn vị vận tải
d. Thuê ngoài
Tư duy theo chuỗi cung ứng không chỉ liên quan đến việc phối hợp các hoạt động
khác nhau trong chuỗi, mà còn quyết định việc gì được thực hiện trong nội bộ và việc gì
nên thuê/ mua ngoài. Công ty cần xác định được các năng lực cốt lõi của mình và những
công việc đó nên hoàn tất nội bộ, còn những sản phẩm khác và các công việc khác thì có
thể thuê mua từ các nguồn cung cấp bên ngoài .
Thuê ngoài có thể giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô một cách nhanh chóng và dễ
dàng thâm nhập thị trường mới hơn …tất cả từ sự hỗ trợ của công ty thứ ba với sự tinh
thông và năng lực của họ. Điều này góp vào khả năng đáp ứng nhanh và linh hoạt, từ đó
tạo ra sự khách biệt vô cùng to lớn trong bối cảnh thị trường toàn cầu ngày nay. Quan
trọng hơn cả, thuê ngoài giúp công ty tập trung vào năng lực cốt lõi của mình và tăng
cường vị thế canh tranh.
12
Các quyết định thuê ngoài thường bắt đầu với việc phân tích năng lực và kinh
nghiệm hiện tại của chuỗi cung ứng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thực sự tốt nhất ở
lĩnh vực nào? Lĩnh vực chuyên sâu nào mà công ty đã hoặc có tiềm năng trở thành một
điểm khác biệt về mặt chiến lược ? Đó là những hoạt động mà doanh nghiệp cần giữ lại
trong công ty và phát triển nó tốt hơn.
Trước khi thuê ngoài doanh nghiệp cần phải cân nhắc kỹ lưỡng các rủi ro liên quan
Thông tin chính xác, dồi dào có thể giúp đưa ra các quyết định kinh doanh hiệu
quả và có được các dự báo tốt hơn, nhưng chi phí lắp đặt và xây dựng các hệ thống thu
thập, xử lí và truyền tải thông tin cũng có thể rất cao. Thông tin về cung sản phẩm, dự báo
thị trường, đặc điểm khách hàng và kế hoạch sản xuất…mà các doanh nghiệp chia sẻ với
nhau càng nhiều thì khả năng đáp ứng thị trường ngày càng cao. Tuy nhiên, công khai và
chia sẻ thông tin ở mức độ nào là hợp lí thì vẫn luôn là mối bận tâm lớn của từng doanh
nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, bởi sự lo ngại về sự rò rỉ thông tin dẫn tới tổn thất cho
doanh nghiệp.
Công nghệ thông tin là một công cụ then chốt trong SCM hiệu quả. Rất nhiều
sáng kiến và ý tưởng về chuỗi cung ứng có thể trở thành hiện thực nhờ hệ thống thông tin
có khả năng xử lí và truyền tải dữ liệu ở quy mô lớn, chính xác và nhanh chóng.
Các quyết định liên quan đến quản trị hệ thống thông tin:
- Mức độ đầu tư cho hạ tầng CNTT trong từng doanh nghiệp và trong toàn chuỗi
cung ứng
- Thống nhất loại hình công nghệ ứng dụng trong hệ thống thông tin của chuỗi
- Mức độ hợp tác và chia sẻ thông tin
2.2.5 Hệ thống đánh giá kết quả chuỗi cung ứng
Để kiểm soát chuỗi cung ứng, cần phải đo lường các kết quả của quá trình và
nghiệp vụ chuỗi cung ứng. Các chỉ tiêu đo lường chuỗi cung ứng bao gồm bốn nhóm:
chất lượng dịch vụ khách hàng, quản lí chi phí, quản lí tài sản, năng suất lao động và thiết
bị.
a. Đo lường dịch vụ khách hàng
Các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ logistics cần được cụ thể hóa bằng các thước đo chi tiết
mới có thể đánh giá và so sánh được.
14
- Tổng thời gian đáp ứng một đơn đặt hàng: tình huống thông thương,lúc cao
điểm…
- Tỉ lệ các đơn hàng hoàn hảo (đúng về số lượng, cơ cấu, thời gian địa điểm)
- Tỉ lệ các đơn hàng đúng về hàng hóa (số lượng/cơ cấu)
- Tỉ lệ các đơn hàng đúng về dịch vụ (thời gian, địa điểm)
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị chuỗi cung ứng của những năm
trước
Trong những năm trước chưa có các đề tài nghiên cứu và đánh giá về quản trị
chuỗi cung ứng cũng như các vấn đề liên quan đến hoạt động của chuỗi cung ứng.
Một đề tài năm 2009 có nhắc tới chuỗi cung ứng là đề tài “Giải pháp Logistics
cho chuỗi cung ứng tại công ty Cổ phần đầu tư và phát triển công nghệ Thời Đại Mới” –
Sinh viên Nguyễn Ngọc Thắng, Đại học Thương Mại, năm 2009. Tuy nhiên, đề tài này
chỉ tập trung nghiên cứu về các giải pháp Logistics cho công ty Thời Đại Mới mà không
đề cập đến các vấn đề của chuỗi cung ứng.
Vấn đề quản trị chuỗi cung ứng là một vấn đề khá mới mẻ, chưa có nhiều công
trình nghiên cứu về nó và việc áp dụng lí thuyết của SCM vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp cũng khá ít ỏi. Đây là một thách thức cũng là cơ hội lớn đối
với tôi khi thực hiện đề tài này. Tôi hi vọng qua luận văn tốt nghiệp này, mọi người sẽ có
cái nhìn tổng quan hơn về SCM và vai trò của nó đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp, cụ thể là Công ty CP tập đoàn Thái Hòa.
16
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG
QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CÀ PHÊ XUẤT KHẨU CỦA
CÔNG TY CPTĐ THÁI HÒA
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo tính khoa học và tính chính xác, đề tài của tôi được xây dựng trên cơ sở thu
thập các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp:
- Thông tin sơ cấp: đây là những thông tin được thu thập lần đầu tiên qua việc phỏng
vấn chuyên sâu những nhân viên trong công ty cũng như một số chuyên gia trong lĩnh vực
logicstic. Thông qua đó có thể thu thập được các thông tin liên quan đến tình hình hoạt
động chuỗi cung ứng tại Việt Nam và trong công ty
- Thông qua dữ liệu thứ cấp: là những thông tin được thu thập từ trước với các mục
đích khác nhau bao gồm: các nguồn thông tin trên internet, sách báo, báo cáo kết quả kinh
doanh của công ty….
3.1.1 Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu thứ cấp bao gồm 2 loại: dữ liệu bên trong và dữ liệu bên ngoài
- Dự liệu bên trong: có thể là những dữ liệu định tính và định lượng phản ánh tình
hình hoạt động kinh doanh của công ty thể hiện dưới dạng báo cáo. Qua nghiên cứu bài
luận văn đã sử dụng một số dữ liệu thứ cấp trong công ty: bảng báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh, chỉ tiêu doanh thu…
- Dữ liệu bên ngoài: qua nghiên cứu và tìm hiểu các nguồn thông tin trên Internet,
sách báo và giáo trình (Chi tiết nguồn dữ liệu này được ghi tại Danh sách tài liệu tham
khảo) giúp tôi thu thập được các thông tin về các đối thủ cạnh tranh của công ty, tình hình
các hoạt động SCM trên thế giới và Việt Nam qua đó có thể đưa ra giải pháp phát triển
cho công ty.
18