Quản trị thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ trong hoạt động nhập khẩu tại Công ty Cổ phần đầu tư, thương mại và dịch vụ Tây Hồ - Pdf 26

GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
Chương 1:
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN TRỊ THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ.
1.1. Tính cấp thiết của quản trị thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ trong hoạt động nhập khẩu tại công ty Cổ phần đầu tư, thương
mại và dịch vụ Tây Hồ.
Theo kết quả điều tra tổng hợp trong báo cáo tổng hợp kết quả điều tra thì một
trong những khó khăn vướng mắc trong hoạt động quản trị của Công ty Cổ phần
đầu tư, thương mại và dịch vụ Tây Hồ là hoạt động quản trị thanh toán quốc tế
theo phương thức tín dụng chứng từ. Cũng theo kết quả điều tra thì hoạt động kinh
doanh thương mại- nhập khẩu là lĩnh vực kinh doanh chủ đạo và thường xuyên của
Công ty góp phần làm tăng tổng doanh thu của Công ty Cổ phần đầu tư, thương
mại và dịch vụ Tây Hồ.
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay, kinh doanh quốc
tế trở thành một hoạt động đem lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và cũng là
một xu hướng cần thiết nếu như các doanh nghiệp muốn phát triển. Trong hoạt
động XNK bao giờ cũng đi liền với thanh toán quốc tế vì vậy hoạt động XNK chỉ
có hiệu quả cao nhất khi hoạt động thanh toán quốc tế được thông suốt và ổn định.
Nhưng hoạt động thanh toán quốc tế trong đó có thanh toán theo phương thức tín
dụng chứng từ, là hình thức thanh toán quốc tế phổ biến nhất hiện này vì nó tổ ra là
có nhiều ưu điểm vượt trội so vối các hình thức thanh toán khác. Nhưng bên cạnh
đó thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ cũng là hoạt động phức tạp
chứa đựng nhiều rủi ro nhất là đối với các doanh nghiệp có ít kinh nghiệm kinh
doanh quốc tế như các doanh nghiệp Việt Nam. Những kiến thức mới và những
quy tắc quốc tế vẫn chưa được các doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt hết, dẫn đến
những sai sót trong quá trình thanh toán. Vì vậy vấn đề quản trị thanh toán quốc tế
cần được quan tâm đặc biệt và tìm hiểu một cách sâu rộng nhằm nâng cao hiệu quả
thanh toán quốc tế.
Thực tiễn ở Công ty Cổ phần đầu tư, thương mại và dịch vụ Tây Hồ có thể thấy
công tác thanh toán của Công ty luôn gặp phải những trở ngại, khó khăn trong

quản trị thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ.
- Tìm hiểu thực tế về quản trị thanh toán quốc tế theo phương thưc tín dụng
chứng từ trong hoạt động nhập khẩu tại Công ty Cổ phần đầu tư, thương mại và
dịch vụ Tây Hồ, nhằm tìm ra những thành công của Công ty cũng như những khó
khăn, tồn tại và nguyên nhân chủ quan và khách quan của những khó khăn đó.
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện hơn hoạt động quản trị thanh
toán bằng phương thức tín dụng chứng từ, tạo ra vị thế mới và sức cạnh của doanh
nghiệp trên trường quốc tế.
1.4. Phạm vi nghiên cứu.
- Về không gian.
Không gian nghiên cứu về quản trị thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ trọng hoạt động nhập khẩu của luận văn là tại Công ty Cổ phần đầu
tư, thương mại và dịch vụ Tây Hồ.
- Về thời gian.
Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6
2
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
Luận văn đi sâu khảo sát, tìm hiểu thực trạng hoạt động quản trị thanh toán
quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Công ty Cổ phần đầu tư, thương
mại và dịch vụ Tây Hồ. Đề tài thu thập số liệu trong phạm vi thời gian là từ năm
2007- 2009.
- Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề “ Quản trị thanh toán quốc tế
theo phương thức tín dụng chứng từ trong hoạt động nhập khẩu tại Công ty Cổ
phần đầu tư, thương mại và dịch vụ Tây Hồ”.
1.5. Kết cấu luận văn tốt nghiệp.
Ngoài lời cảm ơn, mục lục, các danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, từ viết
tắt, kết luận, các tài liệu tham khảo và phụ lục. Luận văn bao gồm 4 chương sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về quản trị thanh toán quốc tế theo phương thức
tín dụng chứng từ.

- Người hưởng lợi L/C ( Beneficialy): Là bên hưởng lợi L/C được phát hành,
nghĩa là được hưởng số tiền thanh toán khi sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh
toán của L/C.
- Ngân hàng phát hành thư tín dụng (Issusing Bank): Là ngân hàng thực hiện
phát hành L/C theo yêu cầu của người mở. NHPH thường được hai bên mua bán
thỏa thuận và quy định trong hợp đồng mua bán. Nếu không có sự thỏa thuận trước
thì nhà NK được phép tự chọn NHPH.
- Ngân hàng thông báo ( Advising Bank): Là ngân hàng thực hiện thông báo
L/C cho người hưởng lợi theo yêu cầu của NHPH. NHTB thường là ngân hàng đại
lý hay một chi nhánh của NHPH ở nước nhà NK.
- Ngân hàng xác nhận ( Confirming Bank): Là ngân hàng bổ sung sự xác nhận
của mình đối với L/C theo yêu cầu hoặc theo sự uỷ quyền của NHPH. Ngân hàng
xác nhận có thể là NHTB hay là một ngân hàng khác do người XK yêu cầu,
thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường tín dụng, tài chính quốc tế.
- Ngân hàng chỉ định ( Nominated Bank): Là ngân hàng mà tại đó L/C có giá
trị thanh toán hoặc chiết khấu, hoặc là bất cứ ngân hàng nào nếu L/C có giá trị tự
do.
- Ngân hàng thanh toán ( The Paying Bank): Có thể là NHPH hoặc có thể là
một ngân hàng khác được NHPH chỉ định thay mình thanh toán tiền cho nhà XK
hay chiết khấu hối phiếu.
Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6
4
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
2.1.2.2. Mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể tham gia trong phương thức tín
dụng chứng từ.
Trong phương thức tín dụng chứng từ có ba mối quan hệ hợp đồng được tạo
thành theo mô hình:
Hình 2.1:Mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động thanh toán bằng phương
thức tín dụng chứng từ.
- Thứ nhất: Quan hệ hợp đồng giữa người mua và người bán.

Hợp đồng thương mại
L/C
5
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
2.1.3. Quy trình thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
Hình 2.2 Quy trình nghiệp vụ trong giao dịch bằng L/C.
Bước 1: Trên cơ sở các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương,
nhà NK làm đơn theo mẫu gửi đến ngân hàng phục vụ mình yêu cầu phát hành một
L/C cho người Xk hưởng lợi.
Bước 2: Căn cứ vào đơn xin mở L/C, nếu đồng ý NHPH lập L/C và thông qua
đại lý của mình ở nước nhà XK để thông báo về việc phát hành L/C và chuyển L/C
đến nhà XK.
Bước 3: NHTB sẽ chuyển L/C bản gốc tới cho nhà XK.
Bước 4: Nếu nhà XK chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, nếu không thì đề
nghị nhà NK thông qua NHPH sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng
ngoại thương.
Bước 5: Sau khi giao hàng, nhà XK phải hoàn tất bộ chứng từ thanh toán theo
yêu cầu của L/C và xuất trình đúng thời hạn quy định cho NHPH để thanh toán.
Bước 6: NHPH sau khi kiểm tra bộ chứng từ thanh toán, nếu thấy phù hợp với
L/C do mình phát hành thì tiến hành thanh toán cho nhà XK, nếu thấy không phù
hợp, thì từ chối thanh toán và gửi trả bộ chứng từ cho nhà XK.
Bước 7: NHPH đòi tiền nhà NK và chuyển bộ chứng từ cho nhà NK.
Bước 8: Nhà NK kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì trả tiền
hoặc chấp nhận trả tiền cho NHPH, nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối
trả tiền cho NHPH.
2.1.4. Thư tín dụng.
2.1.4.1. Khái niệm:
Thư tín dụng là một bức thư do NH viết ra theo yêu cầu của người NK ( người
mở thư tín dụng), cam kết sẽ trả tiền cho người XK ( người hưởng lợi) một số tiền
nhất định trong một thời gian nhất định, với điều kiện người này thực hiện đúng và

- L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ: Các
NH chỉ dựa trên cơ sở chúng từ, kiểm tra việc xuất trình để xem trên bề mặt của
chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp không? Như vậy, các chứng từ trong
giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, nó là bằng chứng cho việc giao hàng của
người bán, là đại diện cho giá trị hàng hoá đã được giao, do đó chúng trở thành căn
cứ để NH trả tiền, là căn cứ để nhà NK hoàn trả tiền cho NH, là chứng từ đi nhận
hàng của nhà NK. Việc nhà NK có thu được tiền hay không phụ thuộc duy nhất
vào việc xuất trình chứng từ có phù hợp, nghĩa là NH không chịu trách nhiệm về
sự thật của hàng hoá mà bất kỳ chứng từ nào đại diện.
Khi chứng từ xuất trình là phù hợp thì NH phải thanh toán vô điều kiện cho nhà
XK , mặc dù trên thực tế hàng hoá có thể được giao hoặc không được giao hoàn
toàn đúng như trên chứng từ, nếu hàng hoá không khớp với chứng từ thì hai bên
mua bán tự giải quyết với nhau trên cơ sở hợp đồng mua bán, không liên quan đến
NH. Chỉ trong trường hợp chứng từ không phù hợp, nhưng NH vẫn thanh toán cho
nhà XK thì NH phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, bởi vì người NK có quyền từ chối
thanh toán cho NH.
- L/C tuân thủ chặt chẽ của bộ chứng từ: Vì giao dịch chỉ bằng chứng từ và
thanh toán chỉ bằng chứng từ, nên yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của chứng từ là
nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C. Để được thanh toán người XK phải lập bộ
chứng từ phù hợp, tuân thủ chặt chẽ các điều khoản, điều lệ của L/C. Bao gồm số
loại, số lượng và nội dung chứng từ phải đáp ứng được chức năng của chứng từ
yêu cầu.
2.1.4.3. Ưu, nhược điểm của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
a.Đối với người nhập khẩu.
- Lợi ích:
+ Người nhập khẩu sẽ nhận được các chứng từ về hàng hóa do mình quy định như
NHPH ghi rõ trong L/C, đồng thời NHPH giúp kiểm tra bộ chứng từ với chuyên
môn và trách nhiệm cao nhất.
+ Người nhập khẩu được bảo đảm rằng sẽ chỉ bị ghi nợ tài khoản số tiền L/C khi
tất cả các chỉ thị trong L/C được thực hiện đúng.

NHPH phải giao dịch với một ngân hàng ở rất xa và tại một quốc gia khác, hơn
nữa ngân hàng này thường đề cao mối quan hệ và trách nhiệm của mình với nhà
xuất khẩu nội địa. Thậm chí, cho dù cuối cùng thì NHPH cũng được bồi hoàn,
nhưng phải mất nhiều tháng giao dịch thư từ, tranh cãi, và chi phí có thể vượt cao
hơn cả L/C.
+ Nhà nhập khẩu chưa nhận được bộ chứng từ cho đến khi hàng đã cập cảng. Vì bộ
chứng từ bao gồm vận đơn, mà vận đơn lại là chứng từ sở hữu hàng hóa, nên thiếu
vận đơn thì hàng hóa không được giải tỏa. Nếu nhà nhập khẩu cần gấp ngay hàng
hóa, thì phải thu xếp để được NHPH phát hành cho một thư bảo lãnh gửi hàng tàu
để nhận hàng. Để được bảo lãnh nhận hàng, nhà nhập khẩu phải trả một khoản phí
cho ngân hàng. Hơn nữa nếu không nhận hàng theo quy định thì tiền bồi thường
giữ tàu quá hạn sẽ phát sinh. Tuy nhiên thông thường theo các điều khoản của L/C
thì nhà nhập khẩu sẽ nhận được bộ chứng từ trong khoảng thời gian hợp lý.
- Nếu không quy định "bộ vận đơn đầy đủ" (full set of bills of lading), thì một
người khác có thể lấy được hàng hóa khi chỉ cần xuất trình một phần của bộ vận
đơn, trong khi đó người trả tiền hàng hóa lại là nhà nhập khẩu.
b. Đối với người xuất khẩu.
- Lợi ích.
+ Là người hưởng lợi L/C, người xuất khẩu được bảo đảm rằng khi xuất trình (cho
Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6
8
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
NHPH, NHXN hoặc ngân hàng được chỉ định) bộ chứng từ phù hợp với các điều
khoản của L/C thì sẽ nhận được tiền thanh toán, mà không cần phải chờ đến khi
người nhập khẩu chấp nhận hàng hóa hay chấp nhận bộ chứng từ.
+ Tình trạng tài chính của người mua được thay thế bằng cam kết của NHPH là sẽ
trả tiền, chấp nhận hoặc chiết khấu trên cơ sở chứng từ xuất trình phù hợp với các
điều khoản của L/C.
+ Một L/C không hủy ngang có xác nhận sẽ đặt trách nhiệm thanh toán không
những cho NHPH mà còn cho NHXH, do đó, nó cung cấp sự an toàn tốt nhất cho

hành: người tiến hành các hoạt động thanh toán và cách thức tiến hành. Như vậy,
công việc đầu tiên mà nhà quản trị cần làm là lập bản kế hoạch chi tiết về việc
thanh toán bằng tín dụng chứng từ. Đó là kết quả của cấp hoạch định tác nghiệp
Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6
9
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
trong công tác quản trị hoạt động thanh toán hàng . Trong bản kế hoạch cần nêu rõ:
nội dung công việc, ai chịu trách nhiệm thực hiện, khi nào bắt đầu và khi nào kết
thúc, tiến độ thực hiện…Trước khi bắt đầu thực hiện kế hoạch thanh toán, nhà
quản trị cần tổ chức họp nhóm để phổ biến và giải thích cho các nhân viên tham
gia về nội dung và cách thức tiến hành công việc.
Trong quá trình hoạch định cần xác định rõ các nội dung như:
+ Đồng tiền thanh toán: Nên xác định trước đồng tiền thanh toán sao cho thuận lợi
nhất cho công ty. Đồng tiền thanh toán có thể là đồng tiêng của nước NK, đồng
tiền của nước XK hoặc đồng tiền của một nước thứ ba.
+ Địa điểm thanh toán: địa điểm thanh toán có thể là ở nước XK, nước NK hoặc
một nước thứ bai nào đó.
+ Thời gian thanh toán: Công ty cần xác định rõ thời gian phải tiến hành thanh
toán trị giá L/C. Khi thời gian thanh toán càng kéo dài thì càng tạo điều kiện cho
doanh nghiệp NK hơn. Tăng thời gian luân chuyển vốn của doanh nghiệp. Chính vì
thế doanh nghiệp cần có kế hoạch trước để có thể sẵn sàng thanh toán theo đúng
yêu cầu. Đàm phán với đối tác nhằm kéo dài thời gian thanh toán càng dài càng
tốt.
+ Lựa chọn ngân hàng mở L/C: Thực chất là lựa chọn ngân hàng làm thủ tục thanh
toán đã được tiến hành từ khâu ký hợp đồng. Lựa chọn ngân hàng căn cứ vào tiêu
chí: uy tín ngân hàng, hạn mức tín dụng cho phép, lãi xuất cho vay…
+ Loại L/C: Được tiến hành từ khâu ký kết hợp đồng. Chọn lựa L/C có ảnh hưởng
lớn đến quá trình thanh toán sau này. Nếu trong hợp đồng quy định thanh toán
bằng L/C trả chậm sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp NK có khả năng sử dụng tốt
hơn nguồn vốn của mình

chế tối đa các sai sót.
Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6
Phòng kinh doanh
Phòng KT-TC
N H P H
Giám đốc
(1)
(2)
(3)
(4)(1)
(2)
(3)
Kế hoạch NK
11
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
Khi lập đơn xin mở L/C cần chú ý một số điểm sau:
+ Cơ sở để viết giấy đề nghị mở L/C là hợp đồng ngoại thương đã ký kết. Tuy
nhiên nhà NK có thể đưa thêm vào đơn những nội dung có lợi cho mình mà người
bán vẫn chấp nhận.
+ Giấy đề nghị mở L/C là cơ sở để giải quyết tranh chấp ( nếu có) giữa nhà NK
và NHPH. Đồng thời đơn là cơ sở để NH phát hành L/C. Cho nên nhà NK phải cân
nhắc kỹ từng nội dung khi viết đơn sao cho thật chặt chẽ vừa tôn trọng các điều
khoản đã thoả thuận trong hợp đồng và nhà XK có thể chấp nhận được.
+ Trên đơn phải có chữ ký của giám đốc và kế toán trưởng đơn vị NK. Nếu
thực hiện NK uỷ thác thì trên giấy mở L/C phải có đầy đủ bốn chữ ký: Giám đốc
doanh nghiệp NK, kế toán trưởng đơn vị NK, chữ ký của giám đốc đơn vị được ủy
thác, kế toán trưởng đơn vị uỷ thác.
+ Để tránh L/C phải tu chỉnh nhiều lần mất thời gian và tốn kém chi phí nhà Nk
có thể gửi fax giấy đề nghị mở L/C đến nhà XK xem trước và kiểm tra tính chính
xác.

số tiền ký quỹ thì sẽ quyết định một trong hai cách:
• Vay ngoại tệ để ký quỹ.
• Mua ngoại tệ để ký quỹ.
Nhà quản trị cần phải quan tâm nên vay ngoại tệ hay mua ngoại tệ để ký quỹ.
Điều này căn cứ vào tỷ giá ngoại tệ thời điểm hiện hành, số dư trên tài khoản ngoại
tệ và nội tệ. Bởi quyết định này ảnh hưởng đến chi phí của việc huy động vốn và
quản trị rủi ro tiền tệ trước sự biến động của tỷ giá.
- Tu chỉnh L/C: Quản trị tu chỉnh L/C phải được thực hiện ngay từ khi bắt
đầu lập đơn xin mở L/C. Trước khi lập đơn xin mở L/C gửi NHPH, nhà NK có thể
lập một bản Draff và gửi fax để nhà XK kiểm tra trước. Nếu phát hiện ra sai sót gì
cần xem xét và tiến hành sửa chữa ngay. Làm như vậy sẽ tiết kiệm thời gian và chi
phí.
Tuy nhiên, giữa thời điểm ký kết hợp đồng và lúc tiến hành giao hàng có
nhiều sự biến động về giá cả, tỷ giá hối đoái…gây khó khăn cho cả nhà XK và nhà
NK. Trong trường hợp này cần sớm tiến hành thương lượng để tiến hành tu chỉnh
L/C nhằm tạo điều kiện để thực hiện tốt hợp đồng và nhà XK có điều kiện lập bộ
chứng từ phù hợp.
Việc sửa đổi L/C phải bằng văn bản và có xác nhận của NHPH. Văn bản sửa
đổi đã được xác nhận trở thành một bộ phận cấu thành của L/C và huỷ bỏ những
nội dung cũ có liên quan. Việc sửa đổi có thể xuất phát từ phía người XK hoặc
NHPH, nhưng nội dung sửa đổi chỉ có giá trị thực hiện nếu thoả mãn:
• Sửa đổi bổ sung L/C trong thời hạn hiệu lực của L/C.
• Các nội dung giao dịch có liên quan đến nội dung sửa đổi hay bổ sung L/C
phải tiến hành bằng văn bản như điện báo, thư từ, fax…
• Tất cả các giao dịch liên quan đến nội dung sửa đổi hay bổ sung L/C có thể
trực tiếp giữa nhà XK và nhà NK, song kết quả cuối cùng phải có sự xác
Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6
13
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
nhận của NHPH và NH xác nhận ( nếu có)

third party is acceptable hay third party acceptable
Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6
14
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
Mô tả trên hoá đơn có đúng quy định của L/C hay không?
Kiểm tra số lượng, trọng lượng, đơn giá, tổng trị giá, điều kiện cơ sở giao
hàng, điều kiện đóng gói và ký mã hiệu hàng hoá có mâu thuẫn với các chứng từ
khác như phiếu đóng gói, vận đơn đường biển hoặc vận đơn hàng không
Kiểm tra hoá đơn về các dữ kiện mà ngân hàng đã đề cập trong L/C, hợp
đồng, quota, giấy phép xuất nhập khẩu và các thông tin khác ghi trên hoá đơn: số
L/C, loại và ngày mở L/C, tên phương tiện vận tải, cảng xếp, cảng dỡ hàng, số và
ngày lập hoá đơn có phù hợp với L/C và các chứng từ khác hay không?
+ Kiểm tra vận tải đơn:
Kiểm tra số bản chính được xuất trình
Kiểm tra loại vận đơn: Vận đơn có nhiều loại như vận đơn đường biển, vận
đơn đường thuỷ, vận đơn đa phương thức Căn cứ vào quy định của L/C, cần kiểm
tra xem loại vận đơn có phù hợp không?
Kiểm tra tính xác thực của vận đơn: Nhà nhập khẩu phải kiểm tra vận đơn có
chữ ký của người chuyên chở ( hãng tàu) hoặc đại lý của người chuyên chở hoặc
thuyền trưởng của con tàu hoặc người giao nhận và tư cách pháp lý. Nếu chỉ có
chữ ký của người vận chuyển, không nêu tư cách pháp lý hoặc không nêu đầy đủ
các chi tiết liên quan tư cách pháp lý của người đó thì chứng từ sẽ không được
ngân hàng thanh toán.
Kiểm tra mục người gửi hàng. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn chấp nhận một
chứng từ vận tải mà trên đó bên thứ ba được đề cập cho dù trong L/C không quy
định như vậy.
Kiểm tra mục người nhận hàng: đây là mục quan trọng trên B/L và luôn được
quy định rõ trong L/C nên người lập vận đơn phải tuân thủ quy định này một cách
nghiêm ngặt.
Kiểm tra mục thông báo ( Notify): Mục Notify trên B/L sẽ ghi tên và địa chỉ

chứng thư bảo hiểm ( Insurance Policy) hay chứng nhận bảo hiểm (Insurance
Certificate).
Kiểm tra số lượng bản chính được xuất trình theo quy định của L/C
Kiểm tra tính xác thực của chứng từ bảo hiểm: Chứng từ bảo hiểm có được ký
xác nhận của người có trách nhiệm hay không?
Kiểm tra loại tiền và số tiền trên chứng từ bảo hiểm: Trong thực tế các L/C
đều quy định giá trị bảo hiểm bằng 110% trị giá hoá đơn. Do vậy thanh toán viên
sẽ đối chiếu số tiền trên chứng từ bảo hiểm và hoá đơn theo quy định của L/C
Kiểm tra tên và địa chỉ của người được bảo hiểm có đúng theo quy định của
L/C hay không? đồng thời kiểm tra việc chuyển nhượng quyền bảo hiểm hàng hóa
có hợp lệ hay không? Ngoại trừ có quy định khác, tên và địa chỉ của người được
bảo hiểm phải là nhà xuất khẩu ( người thụ hưởng) và việc chuyển nhượng quyền
bảo hiểm hàng hoá cho nhà nhập khẩu phải được thể hiện bằng hình thức ký hậu
để trắng ( blank endorsed) tương tự như trường hợp chuyển quyền sở hữu đối với
Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6
16
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
chứng từ vận tải
Kiểm tra ngày lập chứng từ bảo hiểm: Căn cứ theo UCP 600 chứng từ bảo
hiểm phải được lập trước hoặc trùng với ngày B/L. Nếu ngày lập chứng từ bảo
hiểm sau ngày lập vận đơn, nhà NK sẽ từ chối thanh toán.
Kiểm tra nội dung hàng hoá trên chứng từ bảo hiểm: các mô tả về hàng hoá và
số liệu khác phải phù hợp với L/C và các chứng từ khác. Theo UCP-600, việc mô
tả hàng hoá có thể chung chung nhưng không được mâu thuẫn với L/C.
Kiểm tra các dữ kiện về vận chuyển hàng hoá trên chứng từ bảo hiểm: tên tàu,
cảng xếp hàng, cảng dỡ hàng có phù hợp với L/C hay không?
Kiểm tra các cơ quan giám định tổn thất và nơi khiếu nại, bồi thườn phải phù
hợp với quy định của L/C.
Kiểm tra phí bảo hiểm đã được thanh toán hay chưa? ( đối với trường hợp L/C
quy định phải ghi rõ)

Quản trị thanh toán quốc tế bao gồm quản trị cả những rủi ro tiềm ẩn trong
hoạt động thanh toán bằng L/C. Do đó nhà quản trị cần sớm nhận diện các rủi ro có
thể xảy ra trong các hoạt động thanh toán quốc tế để sớm có biện pháp phòng ngừa
thích hợp.
Một trong những vấn đề có thể xảy ra trong thanh toán bằng L/C đó là không
đủ lượng ngoại tệ để tiến hành ký quỹ. Trên thực tế hầu hết các doanh nghiệp NK
đều phải tiến hành ký quỹ, tỷ lệ ký quỹ có thể từ 10%- 100% trị giá L/C tuỳ theo
mối quan hệ giữa NH và doanh nghiệp và uy tín của doanh nghiệp. Do đó ký quỹ
là yêu cầu bắt buộc khi mở L/C. Tuy nhiên tại nhiều doanh nghiệp sự phối hợp
giữa phòng kinh doanh và phòng kế toán không đồng nhất dẫn đến khi tiến hành
mở L/C phòng kế toán tài chính không huy động đủ lượng ngoại tệ cần thiết để tiến
hành ký quỹ. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do chưa thu hồi được tiền
bán hàng, các khoản phải thu chưa đến thời hạn thanh toán hoặc phòng kế toán tài
chính cùng lúc giải quyết nhiều đơn đặt hàng, làm cho lượng ngoại tệ của doanh
nghiệp không đủ đáp ứng nhu cầu. Trong trường hợp này, phòng kế toán tài chính
phải vay ngoại tệ từ NH để ký quỹ với lãi suất rất cao.
Bên cạnh đó do sự biến động của tỷ giá hối đoái cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro
trong hoạt động thanh toán quốc tế. Sự biến động tỷ giá ngoại tệ ảnh hưởng tới tình
hình kinh doanh chung của doanh nghiệp. Với sự tăng giảm giá của đồng tiền phải
trả sẽ làm tăng chi phí kinh doanh của công ty do phải mất một lượng nội tệ nhiều
hơn để mua ngoại tệ khi tiến hành ký quỹ hoặc thanh toán. Hệ quả của sự tăng tỷ
giá đồng tiền thanh toán sẽ buộc doanh nghiệp phải tăng giá của hàng hóa khi bán
trong thị trường trong nước, làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong các rủi ro có cả rủi ro về pháp luật: Pháp luật cũng như các chính sách
về thanh toán quốc tế giữa các quốc gia có sự khác biệt. Dẫn đến những hiểu lầm
và tranh chấp có thể xảy ra. Gây thiệt hại cho cả hai bên và hiệu quả của quá trình
Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6
18
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
thanh toán. Nguyên nhân của nó là do sự khác biệt về kinh tế văn hoá, chính trị

nhiều hơn. Nghĩa vụ của người NK trong phương thức thanh toán bằng tín dụng
chứng từ là mở L/C theo đúng quy định của hợp đồng ngoại thương. Tuy nhiên nếu
hoạt động quản trị thanh toán không tốt người NK có thể mắc một số lỗi sau:
Không mở L/C, mở L/C chậm hoặc mở L/C với các điều khoản, điều kiện không
tuân thủ hợp đồng. Trong quá trình kiểm soát hoạt động thanh toán bằng phương
thức tín dụng chứng từ, nhà quản trị cần có hoạt động giám sát chặt chẽ trong quá
trình thực hiện. Cần có phiếu giám sát công việc xem hoạt động tác nghiệp có thực
hiện đúng như đã được hoạch định trước hay không. Tiến trình thực hiện có đảm
bảo đúng tiến độ đã đề ra.
Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6
19
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
Trường hợp doanh nghiệp không mở L/C, đây được coi là hành động vi phạm
nghĩa vụ chủ yếu của hợp đồng. Khi người NK không mở L/C thì người XK không
có nghĩa vụ giao hàng. Khi đó người bán có thể áp dụng các biện pháp phạt như đã
quy định trong hợp đồng. Do đó, nhà quản trị cần chú ý tới các điều khoản trong
hợp đồng dần đến nhứng khó khăn khi mở L/C.
Trường hợp nhà NK mở L/C chậm, đây cũng được coi là hành vi vi phạm
nghĩa vụ thanh toán mà cụ thể là vi phạm thời hạn mở hợp đồng. Do đó, nhà quản
trị cần có một kế hoạch NK chi tiết, khoa học để tránh những tranh chấp phát sinh
làm tăng chi phí và giảm uy tín của doanh nghiệp.
Trường hợp nhà NK mở L/C không đúng với các nội dung trong hợp đồng:
Khi viết đơn xin mở L/C người NK phải dựa vào các nội dung trong hợp đồng mua
bán. Một mặt do năng lực đàm phán còn hạn chế nên vội vàng trong khi ký hợp
đồng, dẫn đến những sai sót, nội dung hợp đồng chưa chặt chẽ. Khi nhà NK phát
hiện ra, nếu tiếp tục mở L/C đồng nghĩa với việc chấp nhận hợp đồng không hiệu
quả, đôi khi dẫn tới những tổn thất cho doanh nghiệp. Để đối phó với tình trạng
trên, nhà NK thoái thác trách nhiệm- không mở L/C như hợp đồng đã ký. Chính vì
thế cần xem xét kỹ lưỡng các điều khoản trước khi ký hợp đồng. Trong trường hợp
đã có sai sót trong khâu ký kết hợp đồng cần có các điều khoản thêm vào mà

- Phần thực trạng hoạt động thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
tại doanh nghiệp: Trong phần này tác giả thường tập trung vào các kết quả kinh
doanh của công ty. Thông qua các số liệu thứ cấp thu thập được thì tác giả tập
trung phân tích thành tựu, hạn chế của công ty trong tình hình kinh doanh của
doanh nghiệp. Trong các luận văn tác giả phân tích thực tế vấn đề nghiên cứu chủ
yếu thông qua nguồn dữ liệu thứ cấp chưa có như tài liệu sơ cấp cho tác giả phân
tích. Trong luận văn cũng chưa đề cập tới các phương pháp phân tích sử dụng
trong luận văn giúp tác giả có cái nhìn sâu rộng hơn về đề tài nghiên cứu.
- Phần đề xuất các giải pháp và kiến nghị với các tổ chức về vấn đề quản trị
thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ.
2.4. Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu của luận văn.
Luận văn được chia làm 4 phần:
- Phần tổng quan đề tài nghiên cứu: Trong phần này em căn cứ vào thực tế
yêu cầu của doanh nghiệp qua báo cáo tổng hợp kết quả điều tra để đưa ra tính cấp
thiết phải nghiên cứu đề tài. Đồng thời, em trình bày mục tiêu nghiên cứu cùng
phạm vi nghiên cứu cùng phạm vi nghiên cứu của luận văn.
- Phần tóm lược một số vấn đề lý luận về quản trị thanh toán quốc tế: Trong
phần này ngoài việc hệ thống các vấn đề lý luận về quản trị thanh toán quốc tế thì
em còn trình bày tình hình khách thể nghiên cứu của luận văn năm trước.
- Phần phân tích thực trạng quản trị thanh toán quốc tế bằng phương thức tín
dụng chứng từ tại doanh nghiệp: Trong phần này em trình bày phương pháp hệ
nghiên cứu được sử dụng trong qua trình nghiên cứu luận văn của mình. Em đưa
vào trong luận văn kết quả điều tra trắc nghiệm về vấn đề nghiên cứu mà em tiến
hành điều tra tại doanh nghiệp. Điều tra trắc nghiệm nhằm thu thập nguồn dữ liệu
sơ cấp phục vụ cho quá trình nghiên cứu. Ngoài việc sử dụng các nguồn dữ liệu
thứ cấp như các luận văn khác thì việc tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp làm cho
vấn đề nghiên cứu sát với thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đáp
ứng với nhu cầu thức tế.
Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6
21

+ Quan sát trực tiếp nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng
chứng từ của công ty.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ nguồn dữ liệu nội bộ của công ty
Cổ phần đầu tư, thương mại và dịch vụ Tây Hồ.
+ Tiến hành thu thập dữ liệu từ các báo cáo hoạt động kinh doanh, bảng cân đối
kế toán của công ty từ năm 2007 đến năm 2009 từ phòng kế toán.
+ Các dữ liệu liên quan đến thực trạng quản trị thanh toán theo phương thức tín
dụng chứng từ từ phòng kinh doanh và phòng kế toán của công ty.
+ Số liệu về tình hình nhân sự của công ty trong những năm gần đây từ phòng
tổ chức hành chính.
+ Các dữ liệu thứ cấp còn được thu thập từ website chính của công ty, từ các
bài báo và các thông tin thương mại về công ty Cổ phần đầu tư, thương mại và
dịch vụ Tây Hồ.
- Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích số liệu: Thống kê, phân tích,
tổng hợp, so sánh, phương pháp tính chỉ số, tỷ lệ. Sử dụng các biểu đồ, sơ đồ hình
vẽ để phân tích thực trạng hoạt động quản trị thanh toán theo phương thức tín dụng
chứng từ và từ đó rút ra kết luận.
- Phương pháp định lượng là phương pháp chủ đạo cùng với phương pháp
định tính nhằm đưa ra những mục tiêu và phương hướng hoạt động trong những
năm tới của công ty.
Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6
23
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
3.2. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường tới
hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ trong hoạt
động NK tại công ty Cổ phần đầu tư, thương mại và dịch vụ Tây Hồ
3.2.1. Giới thiệu chung về công ty Cổ phần đầu tư, thương mại và dịch vụ Tây
Hồ
3.2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần đầu tư,
thương mại và dịch vụ Tây Hồ

bộ hệ thống khí nén phục vụ cho các nhà máy sản xuất.
* Nhiệm vụ của công ty
- Sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển nguồn vốn và khai thác có hiệu
quả tài sản và các nguồn lực khác của công ty để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ
kinh doanh.
Đại Học Thương Mại SV: Ngọc Phương Nhung - Lớp42E6
24
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên Luận văn tốt nghiệp
- Thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh trên cơ sở công ty đề ra và phát
triển kinh doanh, phân chia, bảo vệ và phát triển thị trường.
- Kinh doanh đúng ngành nghề đã được cấp giấy phép, không kinh doanh
ngững mặt hàng mà pháp luật cấm và chấp hành đầy đủ các chế độ do pháp luật
quy định về hoạt động kinh doanh quản lý doanh nghiệp, thuế, tài chính…
- Thực hiện các quy định của nhà nước về bảo vệ môi trường, tài nguyên,
quốc phòng và an ninh quốc gia. Làm báo cáo thống kê, báo cáo định ký theo quy
định của nhà nước và chịu trách nhiệm về tính chính xác của báo cáo. Có nghĩa vụ
đóng thuế, nộp ngân sách cho nhà nước, đóng đủ và đúng thời hạn.
- Tuân thủ tất cả các quy định pháp luật khác nhau của nước CHXH chủ nghĩa
Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nhà nước Việt Nam chính thức tham gia.
- Thường xuyên chăm lo cho đời sống cán bộ công nhân viên, tạo điều kiện để
họ phát huy hết năng lực của mình.
Sơ đồ 3.1. Bộ máy tổ chức của công ty
( Nguồn: Tài liệu phòng tổ chức nhân sự )
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan đại diện cao nhất của doanh nghiệp,HĐQT
của công ty có quyền bổ nhiệm các chức danh TGĐ, PTGĐ và các chức danh quan
trọng khác.
- Ban kiểm soát: Có chức năng kiểm tra tính hợp pháp, sát thực trong các hoạt
động của công ty như quản lý điền hành kinh doanh, báo cáo quyết toán tài chính,
sửu đổi bổ sung điều lệ tổ chức lại doanh nghiệp.
- Tổng giám đốc: Là người chịu trách nhiệm trước công ty và nhà nước về đồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status