TRÌNH BÀY NỘI DUNG CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ CHỦ YẾU VỀ ĐẦU TƯ. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA CÁC LÝ THUYẾT NÀY - Pdf 26

Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA ĐẦU TƯ

BÀI TẬP NHÓM
MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ I
Đề tài:
TRÌNH BÀY NỘI DUNG CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ CHỦ YẾU VỀ ĐẦU
TƯ. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA CÁC LÝ THUYẾT NÀY
Giảng viên: PGS.TS TỪ QUANG PHƯƠNG
Sinh viên thực hiện :ĐỖ QUANG CẢNH
LÊ BÁ MẠNH
NGÔ XUÂN KHÁNH
NGUYỄN THỊ THÚY
NGUYỄN THỊ THU LOAN
Hà Nội, 2011
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 1
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
Đề tài: “Những lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư và ý nghĩa thực tiễn của
các lý thuyết này”
LỜI NÓI ĐẦU
Đối với mỗi quốc gia, vấn đề về tăng trưởng kinh tế luôn là một trong những
mục tiêu quan trọng. Tăng trưởng kinh tế nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyết
định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lên khắc phục sự lạc hậu,
hướng tới giàu có, thịnh vượng. Có tăng trưởng kinh tế, của cải vật chất dồi dào
mới có điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống, giải phóng con người và thực
hiện sự bình đẳng xã hội. Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng cho
việc ổn định chính trị và có điều kiện củng cố an ninh quốc phòng.
Để thực hiện và duy trì được mục tiêu đó, mỗi nước sẽ có những chính sách
và những bước đi phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước mình. Tuy nhiên
để đạt được mục tiêu đó không phải là đơn giản vì tăng trưởng kinh tế chịu

việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội.Lợi ích trực
tiếp do sự hoạt động của nhà máy này đem lại cho nhà đầu tư là lợi nhuận, còn
cho nền kinh tế là thoả mãn nhu cầu tiêu dùng (cho sản xuất và cho sinh hoạt )
tăng thêm của nền kinh tế, đóng góp cho ngân sách, giải quyết việc làm cho người
lao động…
1.2 Phân loại đầu tư:
Có nhiều cách để phân loại đầu tư theo các tiêu chí khác nhau:
-Căn cứ vào đặc điểm chung nhất của hoạt động đầu tư thì chia thành đầu tư tài
chính- đầu tư phát triển- đầu tư thương mại.
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 3
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
-Căn cứ vào bản chất đầu tư thì đầu tư phát triển chia thành: đầu tư cơ sở hạ tầng-
đầu tư sản xuất kinh doanh.
-Căn cứ vào tài sản tạo thành: đầu tư tài sản hữu hình- đầu tư tài sản vô hình
-Căn cứ theo ngành chia thành: đầu tư các ngành sản xuất kinh doanh- đầu tư vào
các ngành phi sản xuất.
-Căn cứ theo quá trình đầu tư: đầu tư theo chiều rộng- đầu tư theo chiều sâu.
Trong phạm vi nghiên cứu của để tài, chúng ta có thể chia đầu tư ra làm 3 loại :
đầu tư tài chính, đầu tư thương mại và đầu tư phát triển
1.2.1 Đầu tư tài chính( Đầu tư tài sản tài chính)
- Khái niệm: Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay
hoặc mua các giấy tờ có giá để hưởng lãi suất định trước( gửi tiết kiệm, mua trái
phiếu chính phủ), hay lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty phát hành( mua cổ phiếu, trái phiếu công ty).
- Đặc điểm: Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (Nếu không
xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài
chính của các tổ chức, cá nhân đầu tư. Nó tác động gián tiếp đến làm tăng tài sản
của nền kinh tế thông qua sự đóng góp tài chính tích luỹ của các hoạt động đầu tư
này cho đầu tư phát triển và cung cấp vốm cho hoạt động đầu tư phát triển.
- Đâù tư tài chính thường được thực hiện gián tiếp thông qua các trung gian tài

có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ.
Trên góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tượng đầu tư chia thành hai nhóm
chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận. Trên góc độ
xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư chia thành: loại được khuyến khích
đầu tư, loại không được khuyến khích đầu tư và loại cấm đầu tư. Từ góc độ tài
sản, đối tượng đầu tư chia thành: tài sản hữu hình( những tài sản cố định được sử
dụng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế và tài sản lưu
động) và tài sản vô hình( phát minh sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu hàng hoá, uy
tín, thương hiệu…).
Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã
hội. Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 5
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
xã hội thu được với chi phí chi ra để đạt được kết quả đó. Kết quả và hiệu quả đầu
tư phát triển cần được xem xét cả trên phương diện chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo
kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích phát huy vai trò chủ động sáng tạo của chủ
đầu tư, vai trò quản lí, kiểm tra giám sát của cơ quan quản lí nhà nước các cấp.
Thực tế, có những khoản đầu tư tuy không trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài
sản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu tư cho y tế, giáo dục,
xoá đói giảm nghèo… Nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống
và vì mục tiêu phát triển, do đó cũng được xem là đầu tư phát triển.
Trong các hình thức đầu tư trên thì đầu tư phát triển là tiền đề, là cơ sở cho các
hoạt động đầu tư khác.
- Mục đích:
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia,
cộng đồng và nhà đầu tư. Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời
sống của các thành viên trong xã hội. Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi
phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân
lực…

+ Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao, do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kì đầu tư kéo
dài, thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài… nên mức độ rủi ro của
hoạt động đầu tư phát triển thường cao. Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong
đó có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như quản lý kém, chất lượng
sản phẩm không đạt yêu cầu…có nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu
tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế…
- Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển:
Hoạt động đầu tư phát triển bao gồm nhiều nội dung, tuỳ theo cách tiếp cận.
Căn cứ vào lĩnh vực phát huy tác dụng, đầu tư phát triển bao gồm các nội dung
sau: đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật chung của
nền kinh tế, đầu tư phát triển văn hoá giáo dục y tế và dịch vụ XH khác, đầu tư
phát triển khoa học kĩ thuật và những nội dung phát triển khác. Cách tiếp cận này
là căn cứ để xác định quy mô vốn đầu tư, đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động
cho từng ngành lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân.
Theo khái niệm, nội dung đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư những tài sản vật chất
(tài sản thực) và đầu tư những tài sản vô hình. Đầu tư các tài sản vật chất gồm:
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 7
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
đầu tư tài sản cố định (đầu tư xây dựng cơ bản) và đầu tư vào hàng tồn trữ. Đầu tư
tài sản vô hình gồm các nội dung sau: đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học, kĩ thuật, đầu tư xây dựng
thương hiệu, quảng cáo.
Xuất phát từ quá trình hình thành và thực hiện đầu tư, nội dung đầu tư phát triển
bao gồm: đầu tư cho các hoạt động chuẩn bị đầu tư, đầu tư trong quá trình thực
hiện đầu tư và đầu tư trong giai đoạn vận hành. Nội dung đầu tư phát triển trong
mỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều nội dung chi tiết khác nhau.
2. Tăng trưởng và phát triển kinh tế
2.1. Khái niệm
2.1.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời

hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Theo cách hiểu như vậy, nội dung của
phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:
- Một là, sự tăng lên tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập
bình quân trên một đầu người. Có nghĩa là tốc độ tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn
tốc độ tăng dân số.
- Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế.
- Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội.
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm
nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Phát triển bền
vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hoà giữa ba mặt của
sự phát triển, gồm : tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi
trưòng.
2.2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các quốc
gia đang phát triển. Hai vấn đề này không đồng nhất với nhau nhưng có mối quan
hệ với nhau. Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm được hiểu theo nghĩa là sự thay
đổi về lượng các chỉ tiêu kinh tế. Chẳng hạn như các chỉ tiêu về GDP, GNP, cán
cân thương mại, sản lượng sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu,...Còn về vấn đề phát
triển kinh tế, ngoài các chỉ tiêu về số lượng người ta còn quan tâm đến các chỉ tiêu
về chất lượng như: chỉ tiêu nghèo đói và bất bình đẳng, chỉ tiêu phản ánh mức
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 9
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
sống, chỉ tiêu phản ánh giáo dục và trình đọ dân trí, chỉ tiêu về tuổi thọ bình quân,
dân số việc làm...
Tăng trưởng kinh tế chưa chắc đã là phát triển kinh tế, nó chỉ là điều kiện cần của
phát triển. Có tăng trưởng kinh tế, của cải vật chất dồi dào mới có điều kiện nâng cao
chất lượng cuộc sống, giải phóng con người và thực hiện sự bình đẳng XH. Ngoài ra,
tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng cho việc ổn định chính trị và có điều kiện
củng cố an ninh quốc phòng. Và đến lượt mình, chính trị ổn định, an ninh quốc
phòng được giữ vững là nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế.

là tổng giá trị sản xuất, IC
i
là chi phí trung gian của ngành i.
Tiếp cận từ chi tiêu : GDP = C + G + I + (X – M)
Nếu tiếp cận từ thu nhập,
GDP = W + R + In + Pr + Dp + Ti
2.3.1.3. Tổng thu nhập quốc dân ( GNI- Gross national income)..
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 10
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
GNI = GDP + Chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài
Chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài = Thu nhập lợi tức nhân tố với
nước ngoài - Chi trả lợi tức nhân tố ra nước ngoài.
2.3.1.4. Thu nhập bình quân đầu người (GDP/người; GNI/người)
Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số. Quy
mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là những tiêu chí để nâng cao
mức sống dân cư nói chung. Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày càng cao của
chỉ tiêu này là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững và nó còn được sử
dụng trong việc so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia với nhau.
 Thu nhập quốc dân( NI )
Thu nhập quốc dân (NI): Là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ mới
sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định.NI chính là tổng thu nhập
quốc dân (GNI) sau khi đã trừ đi khấu hao vốn cố định của nền kinh tế (Dp).
NI = GNI - Dp
 Thu nhập quốc dân sử dụng ( NDI )NDI = NI + Chênh lệch về chuyển
nhượng hiện hành với nước ngoài
Chênh lệch chuyển nhượng với nước ngoài = Thu chuyển nhượng hiện hành
với nước ngoài - Chi chuyển hiện hành ra nước ngoài
II- Những lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư và ý nghĩa thực tiễn
của các lý thuyết này.
1. Số nhân đầu tư


=
∆Υ


=
∆−∆Υ
∆Υ
=

∆Υ
=
∆Ι
∆Υ
Trong đó:
MPC =
∆Υ

C
Khuynh hướng tiêu dùng biên
MPS =
∆Υ

S
Khuynh hướng tiết kiệm biên
( Vì MPS < 1 nên k >1)
-Nhận xét: Nếu MPC càng lớn thì k càng lớn, do đó, độ khếch đại của sản lượng
càng lớn. Sản lượng càng tăng, công ăn việc làm gia tăng.
Thực tế, gia tăng đầu tư, dẫn đến gia tăng cầu về các yếu tố tư liệu sản xuất (máy
móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu…) và qui mô lao động. Sự kết hợp hai yếu tố

lại phụ thuộc vào quy mô sản phẩm cần sản xuất.
2.3. Nhận xét
Sản lượng phải tăng liên tục mới làm cho đầu tư tăng cùng tốc độ, hay không đổi
so với thời kì trước.
Lý thuyết gia tốc đầu tư cho thấy: đầu tư tăng tỷ lệ với sản lượng ít ra là trong
trung và dài hạn
2.3.1. Ưu điểm của lý thuyết
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 13
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
- Lí thuyết gia tốc đầu tư phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư. Nếu x
không đổi trong kì kế hoạch thì có thể sử dụng công thức để lập kế hoạch khá
chính xác.
- Lí thuyết phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư. Khi
kinh tế tăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh lớn, dẫn
đến tiết kiệm tăng cao và đầu tư nhiều
2.3.2. Nhược điểm của lý thuyết
- Lí thuyết giả định quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng và đầu tư là cố định trong khi
thực tế đại lượng này (x) luôn luôn biến động do sự tác động của nhiều nhân tố
khác nhau.
- Thực chất lí thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI) chứ không
phải sự biến động của tổng đầu tư do sự tác động của thay đổi sản lượng. Vì, từ
công thức (5) có thể viết:
+ Tại thời điểm t:
tt
YxK
⋅=
(6)
+ Tại thời điểm (t-1):
11
−−

−−
)(
11
(9)
Và đầu tư ròng:
YxI
∆⋅=∆
(10)
Như vậy, theo lí thuyết này, đầu tư ròng là hàm của sự gia tăng sản lượng đầu ra.
Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng tăng (lớn hơn x lần). Nếu sản lượng giảm, đầu tư
thuần sẽ âm. Nếu tổng cầu về sản lượng trong thời gian dài không đổi, đầu tư ròng
sẽ bằng 0. (Khi
0
=∆
y
thì

I =0)
- Theo lí thuyết này toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được thực hiện ngay
trong cùng một thời kì. Điều này không đúng bởi nhiều lí do, chẳng hạn do việc
cung cấp các yếu tố có liên quan đến thực hiện vốn đầu tư không đáp ứng, do cầu
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 14
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
vượt quá cung… Do đó, lí thuyết gia tốc đầu tư tiếp tuc được hoàn thiện qua thời
gian. Theo lí thuyết gia tốc đầu tư sau này thì vốn đầu tư mong muốn được xác
định như là một hàm của mức sản lượng hiện tại và quá khứ, nghĩa là, qui mô đầu
tư mong muốn được xác định trong dài hạn.
Nếu gọi:
t
K

KK
=
Và lí thuyết gia tốc đầu tư hoàn thiện sau này cũng đã đề cập đến tổng đầu tư.
Theo lí thuyết gia tốc đầu tư ban đầu thì đầu tư thuần:

1

−=−=∆
tttt
KKDII
Theo lí thuyết gia tốc đầu tư sau này thì:
=−

1tt
KK
)(
1*

−⋅
tt
KK
λ
Và do đó:
)(
1*

−⋅=∆
tt
KKI
λ

hoặc
=
t
I
11*
)(
−−
⋅+−⋅
ttt
KKK
δλ
(11)
t
I
chính là tổng đầu tư trong kì và là hàm của vốn mong muốn và vốn thực hiện.
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 15
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
Lí thuyết gia tốc đầu tư và số nhân đầu tư giải thích mối quan hệ qua lại giữa đầu
tư và sản lượng. Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo việc gia tăng bổ sung lao
động, nguyên vật liệu sản xuất… dẫn đến gia tăng sản phẩm (giải thích qua số
nhân đầu tư). Sản lượng gia tăng, dẫn đến gia tăng tiêu dùng (do thu nhập người
tiêu dùng tăng), tăng cầu hàng hóa và dịch vụ nên lại đòi hỏi gia tăng đầu tư mới
(giải thích qua mô hình gia tốc đầu tư). Gia tăng đầu tư mới dẫn đến gia tăng sản
lượng, gia tăng sản lượng lại là nhân tố thúc đẩy gia tăng đầu tư. Quá trình này
diễn ra liên tuc, dây chuyền.
3. Lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư:
3.1. Vai trò của quỹ nội bộ:
Vốn đầu tư là một nguồn lực quan trọng và không thể thiếu được để thành lập một
doanh nghiệp hay khi tiến hành hoạt động đầu tư. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp
và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức tạo vốn và

tăng sản lượng, mà tăng lợi nhuận có nghĩa là tăng quỹ nội bộ. Quỹ nội bộ là một
yếu tố quan trọng để xác định lượng vốn đầu tư mong muốn, còn chính sách tài
khóa mở rộng không có tác dụng trực tiếp làm tăng đầu tư theo lí thuyết này.
4. Lý thuyết tân cổ điển:
Theo lí thuyết này thì đầu tư bằng tiết kiệm (ở mức sản lượng tiềm năng). Còn:
tiết kiệm S = s*y trong đó 0
1
<<
s
.
s: Mức tiết kiệm từ 1 đơn vị sản lượng(thu nhập) và tỷ lệ tăng trưởng của lao động
bằng với tỷ lệ tăng dân số và kí hiệu là n.
Theo hàm sản xuất, các yếu tố của sản xuất là vốn và lao động có thể thay thế cho
nhau trong tương quan sau đây:
Y= A.
Π
e
.
α
K
.
( )
α

1
N

Trong đó:
y : Sản lượng


biểu
thị phần thu nhập quốc dân từ vốn và lao động.
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 17
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
Từ hàm sản xuất Cobb Douglas trên đây ta có thể tính được tỷ lệ tăng trưởng của
sản lượng như sau:
=
g

r
+

nh
⋅−+⋅
)1(
αα

Trong đó:
g: Tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng
h: Tỷ lệ tăng trưởng của vốn
n: Tỷ lệ tăng trưởng lao động
Biểu thức trên cho thấy:tăng trưởng của sản lượng có mối quan hệ thuận với tiến
bộ của công nghệ và tỷ lệ tăng trưởng của vốn và lao động.
Trong một nền kinh tế ở “thời đại hoàng kim”có sự cân bằng trong tăng trưởng
của các yếu tố sản lượng,vốn và lao động.
Gọi đầu tư ròng là
I


KI

nrg *)1(*
αα
−+=
(1-
−+=
1(*) rg
α
α
)*n
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 18
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
Hay g =
n
r
+

α
1

Như vậy, trong “thời đại hoàng kim”, tỷ lệ tăng trưởng g phụ thuộc vào tỷ
lệ tăng trưởng của công nghệ và lao động. Điều này cho thấy,không thể có thu
nhập trên đầu người tăng nếu không có sự tiến bộ của công nghệ.
5. Mô hình Harrod - Domar:
Mô hình Harrod - Domar giải thích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng
kinh tế với yếu tố tiết kiệm và đầu tư.
Để xây dựng mô hình, các tác giả đưa ra 2 giả định:
- Lao động đầy đủ việc làm, không có hạn chế với cung lao động.
- Sản xuất tỷ lệ với khối lượng máy móc.
Nếu gọi: Y : Là sản lượng năm t
g =

Y
K

=


*
Từ đây suy ra:
R
*
ICO
Ys
Y
=∆
Phương trình phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Y
ICO
Ys
Y
Y
g :
R
*
=

=
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 19
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
Cuối cùng ta có:
RICO

công nghiệp hóa hướng nội (công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu) rất ưa chuộng.
tuy nhiên, khi được áp dụng thực tế đã bộc lộ những yếu điểm như sau:
- Việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối và hoàn chỉnh đã đẩy các nền kinh tế
đến chỗ khép kín và tách biệt với thế giới bên ngoài: điều này đi ngược lại với xu
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 20
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
thế quốc tế hóa và toàn cần hóa kinh tế đang diễn ra trên thế giới và không tận
dụng được những lợi ích tích cực từ môi trường bên ngoài đem lại.
- Các nền kinh tế đang phát triển không đủ nguồn lực về nhân tài, vật lực. để có
thể thuc hiện được những mục tiêu cơ cấu đặt ra.
7. Lý thuyết phát triển không cân đối (unbalanced growth) hay các "cực tăng
trưởng":
Những đại diện tiêu biểu của lý thuyết này (A. Hirschman, F. Perrons.) cho rằng
không thể và không nhất thiết đảm bảo tăng trưởng bền vững bằng cách duy trì cơ
cấu cân đối liên ngành đối với mọi quốc gia. Họ lập luận như sau:
- Việc phát triển không cân đối sẽ tạo ra kích thích đầu tư. Nếu cung bằng câu
trong tất cả các ngành thì sẽ triệt tiêu động lực đầu tư nâng cao năng lực sản xuất.
Ðể phát triển được, cần phải tập trung đầu tư vào một số ngành nhất định, tạo ra
một "cú hích" thúc đẩy và có tác dụng lôi kéo đầu tư trong các ngành khác theo
kiểu lý thuyết số nhân, từ đó kéo theo sự phát triển của nền kinh tế.
- Trong mỗi giai đoạn phát triển, vai trò "cực tăng trưởng" của các ngành trong
nền kinh tế là không giống nhau. Vì vậy, cần tập trung những nguồn lực (vốn
khan hiếm) cho một số lĩnh vực cụ thể trong một thời điểm nhất định.
- Do trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, các nước đang phát triển rất
thiếu các nguồn lực sản xuất và không có khả năng phát triển cùng một lúc đồng
bộ tất cả các ngành hiện đại. Vì thế, phát triển không cân đối gần như là một sự
lựa chọn bắt buộc.
Cách đặt vấn đề phát triển một cơ cấu không cân đối và mở cửa ra bên ngoài của
lý thuyết này là chấp nhận sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, mà thường
thì các quốc gia chậm phát triển chịu nhiều thiệt thòi hơn cho nên lúc đầu lý

vốn và lao động có thể thay thế cho nhau, và trong quá trình sản xuất có thể có
nhiều cách kết hợp giữa các yếu tố đầu vào. Đồng thời họ cho rằng tiến bộ khoa
học kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
1.4. Mô hình Harrod-Domar:
1.4.1. Giới thiệu chung về mô hình:
Mô hình này coi đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù là một công
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 22
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
ty, một ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng số vốn đầu
tư cho nó.
1.4.2 Kết luận của Harrod – Domar:
Tốc độ tăng trưởng luôn phụ thuộc vào tiết kiệm và hệ số ICOR, tồn tại 3 trạng
thái tốc độ tăng trưởng khác nhau:
- Tốc độ tăng trưởng bảo đảm :
k
s
g
w
=
(dự kiến)
- Tốc độ tăng trưởng thực tế:
k
s
g
r
=
(thực tế)
- Tốc độ tăng trưởng tự nhiện (
f
g

tài trợ từ nguồn vốn tích lũy của ngân sách nhà nước, của doanh nghiệp và tiết
kiệm trong dân cư.
Dựa vào bảng sau ta có thể thấy được tổng vốn đầu tư toàn xã hội của khu vực
trong nước luôn tăng cao và chiếm tỉ trọng lớn trong đầu tư toàn xã hội:
Kinh tế Nhà nước Kinh tế ngoài nhà
nước
Khu vực có
vốn đầu tư
nước ngoài
Giá thực tế Tỷ đồng
1995 72447 30447 20000 22000
1996 87394 42894 21800 22700
1997 108370 53570 24500 30300
1998 117134 65034 27800 24300
1999 131171 76958 31542 22671
2000 151183 89417 34594 27172
2001 170496 101973 38512 30011
2002 200145 114738 50612 34795
2003 239246 126558 74388 38300
2004 290927 139831 109754 41342
2005 343135 161635 130398 51102
2006 404712 185102 154006 65604
2007 532093 197989 204705 129399
2008 616735 209031 217034 190670
Nhóm 2_Đầu tư 50D Page 24
Lý thuyết kinh tế chủ yếu về đầu tư_Ý nghĩa thực tiễn.
2009 708826 287534 240109 181183
Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước: vốn từ ngân sách Nhà nước năm
2008 đạt 129203 tỷ đồng, chiếm 61.8% tổng vốn đầu tư khu vực kinh tế Nhà nước
và năm 2009 vốn từ ngân sách đạt 184941 tỷ đồng chiếm 64,3 % tổng vốn đầu tư

Trích đoạn Cơ cấu lại và nâng cao hiệu qủa sử dụng vốn trong nước.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status