LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Toàn thể các thầy cô trong trường, đặc biệt là các thầy cô trong ngành Quản
lý Đất đai và khoa kinh tế & quản trị kinh doanh đã dìu dắt, giúp đỡ và đã trang
bị, truyền tải cho chúng tôi toàn bộ kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ trong suốt
quá trình học tập.
Cô Nguyễn Thị Hải Ninh bộ môn kinh tế - Trường Đại học Lâm Nghiệp
Việt Nam đã rất tận tình chỉ bảo và hướng dẫn cho chúng tôi trong suốt quá trình
học tập và hoàn thành chuyên đề này
Lãnh đạo Phòng Tài nguyên & Môi trường, Lãnh đạo Văn phòng Đăng
ký quyền sử dụng đất của thành phố Buôn Ma Thuột đã tận tình giúp đỡ chúng tôi.
Công ty cổ phần BĐS ETC, công ty cổ phần BĐS Vinh Hưng, trung tâm
dịch vụ nhà đất Hữu Phát và một số trung tâm, cá nhân ở tại thành phố Buôn Ma
Thuột đã hợp tác giúp đỡ.
Các bạn trong lớp 51Quản lý Đất đai và bạn bè thân hữu gần xa đã giúp đỡ,
động viên tôi trong thời gian thực hiện đề tài.
Trong thời gian thực hiện chuyên đề này đôi khi chúng tôi cũng gặp phải
những khó khăn, mệt mỏi, vướng mắc. Nhờ có sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy
cô, phòng ban; các công ty, trung tâm, cá nhân và bạn bè vì vậy mà những mệt
mỏi nhanh chóng qua đi, chúng tôi như có thêm sức mạnh để hoàn thành xong
công việc. Không biết nói gì hơn chúng tôi xin gửi lời thành kính biết ơn sâu sắc
nhất tới tất cả các thầy cô trong trường, các phòng ban và tất cả bạn bè lời chào
thân thiện nhất
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn./.
Hà Nội, ngày 28 tháng 07 năm 2009
Sv. Nguyễn Thị Như
Phạm Thị Bích Phượng
1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Trang
2
hội, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh,
quốc phòng. Đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc thì đất đai luôn được coi là tư liệu
sản xuất đặc biệt, không thể thay thế, là nền tảng đối với sự sinh tồn, phồn thịnh
và phát triển.
Trong thời kỳ kinh tế phát triển mạnh, tốc độ đô thị hoá cao, dân số ngày
càng tăng thì đất đai càng trở nên hết sức quan trọng và là nhu cầu không thể
thiếu được.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên đã hình thành nên thị trường bất
động sản (BĐS). Vậy thị trường bất động sản là gì? Thị trường bất động sản được
hiểu thông thường như là nơi diễn ra các giao dịch mua bán bất động sản, cho
thuê, thế chấp bất động sản. Hay hiểu một cách khoa học thì thị trường bất động
sản chính là hệ thống các quan hệ kinh tế trong các ngành tạo lập bất động sản và
các hoạt động liên quan trực tiếp đến giao dịch bất động sản.
Từ khi bắt đầu hình thành thị trường bất động sản, nó đã có những đóng góp
quan trọng cho thu nhập quốc dân của mỗi quốc gia. Trên thế giới các hoạt động
đầu tư trực tiếp vào bất động sản đạt mức kỷ lục 290 tỷ USD trong nửa năm đầu
2006, tăng tới 30% so với cùng kỳ năm trước[9]. Đặc biệt thị trường bất động sản
nóng bỏng nhất ở tại các trung tâm, thành phố lớn của các đất nước phát triển
mạnh, nơi có giá địa ốc và toà nhà cao tầng đứng đấu thế giới như: Mỹ, Nhật bản,
Anh, Pháp... Bên cạnh đó thì thị trường bất động sản ở Việt Nam cũng nóng bỏng
không kém. Thị trường bất động sản ở Việt Nam được hình thành và phát triển từ
khi có luật đất đai năm 1993 song lại có những tăng trưởng phát triển mạnh cả về
số lượng và chất lượng. Đặc biệt là ở những nơi đô thị, giá bất động sản cao hơn
rất nhiều so với khu vực nông thôn và các giao dịch lớn hầu hết diễn ra ở đây.
Đằng sau của thị trường bất động sản là các sàn giao dịch, các công ty, trung
tâm và các văn phòng môi giới bất động sản. Từ khi bắt đầu hình thành thị trường
bất động sản thì các loại hình môi giới này cũng bắt đầu hình thành và đi vào hoạt
động. Những loại hình này có vai trò là trung gian để cho các bên mua và bán tiếp
xúc giao thiệp với nhau. Kết quả của những hoạt động này là thực hiện những yêu
2.1. Cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý về hoạt động môi giới giao dịch bất động
sản
2.1.1. Một số khái niệm
- Bất động sản: Bao gồm: “Đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với
đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản
khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định” (Theo Bộ luật
Dân sự năm 2005 của nước Cộng hoà xã hôi chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 174).
[3 ]
- Thị trường bất động sản: Được hiểu một cách thông thường như là nơi
diễn ra các giao dịch mua bán BĐS, cho thuê, thế chấp BĐS.
Nếu theo quan điểm khoa học thì thị trường bất động sản được hiểu như là
một hệ thống các quan hệ kinh tế trong các ngành tạo lập bất động sản và các hoạt
động liên quan trực tiếp đến giao dịch bất động sản. [11]
- Kinh doanh BĐS là việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng,
thuê, thuê mua BĐS để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua
nhằm mục đích sinh lợi. [16]
- Kinh doanh dịch vụ BĐS là hoạt động hỗ trợ kinh doanh BĐS và thị trường
BĐS, bao gồm các dịch vụ môi giới BĐS, định giá BĐS, sàn giao dịch BĐS, tư
vấn BĐS, đấu giá BĐS, quảng cáo BĐS, quản lý BĐS.
- Giao dịch BĐS là việc mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua BĐS giữa
tổ chức, cá nhân không kinh doanh BĐS với tổ chức, cá nhân kinh doanh BĐS.
- Sàn giao dịch BĐS là nơi diễn ra các giao dịch BĐS và cung cấp các dịch
vụ cho kinh doanh BĐS.
- Thù lao môi giới BĐS: Tổ chức, cá nhân môi giới BĐS được hưởng một
khoản tiền thù lao môi giới từ khách hàng không phụ thuộc vào kết quả giao dịch
mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua BĐS giữa khách hàng và người thứ ba.
Mức thù lao môi giới BĐS do các bên thoả thuận trong hợp đồng không phụ thuộc
vào giá của giao dịch mua bán.
5
- Hoa hồng môi giới BĐS: Tổ chức, cá nhân môi giới BĐS được hưởng một
trong vòng quay của bất động sản”. Để một BĐS được hình thành trên đất, hoạt
động, quay vòng cho đến khi phá dỡ (vòng đời của một bất động sản) thì nhà môi
giới phải là ”dầu bôi trơn” cho quá trình đó.
- Nghề môi giới BĐS là một trong các nghề kinh doanh dịch vụ bất động
sản, bao gồm các hoạt động dịch vụ hỗ trợ kinh doanh BĐS và thị trường BĐS.
2.1.2. Các thành phần tham gia thị trường bất động sản.
2.1.2.1. Nhà nước
Người đại diện sở hữu toàn dân;
Thực hiện chức năng: Cung cấp thể chế, pháp lý; Điều tiết thị trường
bất động sản bằng các công cụ: Tài chính ( thuế, giá); ngân hàng (cho vay, thế
chấp); Thực hiện hành chính công; Thực hiện dịch vụ công.
2.1.2.2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh BĐS
- Kinh doanh bất động sản là việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua, nhận, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê nhằm mục đích sinh lời.(Luật kinh doanh
BĐS 2006, khoản 2, điều 4). [5 ]
- Đối tượng, phạm vi kinh doanh bất động sản
+ Tổ chức cá nhân trong nước được kinh doanh bất động sản trong phạm vi
sau đây:
Đầu tư, tạo lập nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;
Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê; Đầu tư cải tạo đất, công trình hạ tầng
để cho thuê đất có hạ tầng; Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đầu tư công
trình hạ tầng để chuyển nhượng, cho thuê, thuê quyền sử dụng đất đã có cơ sở hạ
tầng để cho thuê lại (Luật kinh doanh BĐS 2006; Khoản 1, Điều 9). [5 ]
+ Tổ chức cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được
kinh doanh bất động sản trong phạm vi sau đây:
7
Đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựnh để bán, cho thuê, cho thuê mua;
Đầu tư cải tạo đất và đầu tư các công trình hạ tầng trên đất thuê để cho thuê đất đã
có hạ tầng (Luật kinh doanh BĐS 2006 Khoản 1, Điều 10). [5 ]
2.1.2.3. Tổ chức, cá nhân sử dụng BĐS, gồm:
mục cho đến lúc hoàn thành việc tiêu thụ, thực hiện được mục tiêu thu lợi nhuận.
- Trợ giúp người đầu tư kinh doanh nhà, tìm mua nhà có vị trí, giá cả, diện
tích, đặc điểm kiến trúc... hợp yêu cầu và giúp hoàn thành thủ tục mua bán, thu
xếp nguồn tài chính, giới thiệu với bên cho vay thích hợp cung cấp thông tin, tổ
chức gặp gỡ, làm cho cả 3 bên đều đạt được mục đích.
- Nâng cao hiệu quả vận hành của thị trường BĐS. Vì hiếm khi có thị trường
BĐS cố định và tập trung, BĐS lại là hàng hoá đặc biệt, người môi giới giúp cho
đôi bên mua bán tìm đến nhau, nhanh chóng thực hiện giao dịch thanh công, nhờ
đó mà thị trường BĐS vận hành càng thêm hiệu quả.
2.1.5. Nguyên tắc hoạt động của môi giới
- Tổ chức, cá nhân môi giới bất động sản làm trung gian cho việc đàm phán,
ký kết hợp đồng kinh doanh BĐS và được hưởng thù lao, hoa hồng theo hợp đồng
môi giới BĐS.
- Hoạt động môi giới bất động sản phải công khai, trung thực và tuân thủ
pháp luật.
- Tổ chức, cá nhân môi giới BĐS không được đồng thời vừa là nhà môi
giới vừa là một bên thực hiện hợp đồng trong một giao dịch kinh doanh BĐS.
2.1.6. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân môi giới BĐS
2.1.6.1. Quyền của tổ chức, cá nhân môi giới BĐS
- Thực hiện dịch vụ môi giới BĐS theo quy định của luật kinh doanh BĐS
năm 2006.
- Yêu cầu khách hàng cung cấp hồ sơ, thông tin, tài liệu liên quan đến BĐS.
- Hưởng hoa hồng, thù lao môi giới theo thoả thuận trong hợp đồng môi giới
BĐS đó ký với khách hàng.
- Thuê tổ chức, cá nhân môi giới khác thực hiện công việc môi giới BĐS
trong phạm vi hợp đồng môi giới với khách hàng nhưng phải chịu trách nhiệm
trước khách hàng về kết quả môi giới.
9
- Thu thập thông tin về chính sách, pháp luật về kinh doanh BĐS.
- Đơn phương chấm dứt hoặc huỷ bỏ hợp đồng môi giới BĐS khi khách
chứng chỉ môi giới BĐS và việc quản lý hành nghề môi giới BĐS
2.1.8. Hợp đồng môi giới BĐS
Nội dung gồm:
- Tên, địa chỉ của bên môi giới và bên được môi giới
- Đối tượng và nội dung môi giới
- Thời hạn và tiến độ thực hiện
- Giá dịch vụ định giá
- Phương thức, thời hạn thanh toán
- Quyền và nghĩa vụ của các bên
- Giải quyết tranh chấp
- Các nội dung khác do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định
2.1.9. Đạo đức nghề nghiệp trong môi giới bất động sản
Trên thị trường BĐS sự uỷ thác trong môi giới thực ra là sự tín thác dựa
trên tín nhiệm, để xứng đáng với sự tín nhiệm đó chuyên viên môi giới phải có các
bổn phận sau:
- Hoàn tất công việc theo đúng những tiêu chuẩn nghề nghiệp được những
người cùng nghề nghiệp chấp nhận trên cùng một thị trường
- Phải tự mình hoàn thành công việc, dù có sự trợ giúp của chuyên viên bán
hàng thì vẫn phải cá nhân mình chịu trách nhiệm.
- Phải trung thực, muốn nhận sự uỷ thác song trùng phải nói rõ cho hai bên
mua và bán biết rõ việc này.
- Phải rành mạch tài chính chuyên viên môi giới nhận được từ khách hàng
- Phải thông báo các sự kiện then chốt, có ảnh hưởng đến sự xét đoán của
khách hàng.
2.2. Tình hình môi giới giao dịch bất động sản trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1. Tình hình môi giới bất động sản trên thế giới
Trong nửa năm đầu 2006, các hoạt động đầu tư trực tiếp vào bất động sản
trên toàn thế giới đạt mức kỷ lục 290 tỷ USD, tăng tới 30% so với cùng kỳ năm
ngoái. Điều đó đã làm cho các hoạt động về môi giới cũng tăng đáng kể.
11
12
Đến 7/1978 được gọi thống nhất là sở giao dịch BĐS và yêu cầu mọi giao dịch về
BĐS phải được tiến hành tại đây. Từ đó đến nay và trong tương lai sẽ còn rất
nhiều các loại hình môi giới hình thành và đi vào hoat động. Trước sự cạnh tranh
khốc liệt của thị trường như hiện nay liệu các loại hình này có thể đứng vững và
phát triển mạnh được hay không điều đó còn phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh
của họ và tài năng lãnh đạo của người đứng đầu nữa.
2.2.2. Tình hình môi giới BĐS ở Việt Nam
Việt Nam đã phải trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, với bao thăng trầm trong các
chế độ nhà nước. Chính vì vậy mà đất đai cũng phải biến động không ngừng.
Dưới thời kì vua tôi, phong kiến đất đai thuộc sở hữu của vua chúa, quan lại và
các địa chủ, những tầng lớp dân chúng chưa được sở hữu đất đai. Chính vì vậy mà
thị trường BĐS chưa phát triển mạnh. Do vậy khi nghiên cứu tình hình môi giới
BĐS ở Việt Nam chúng ta chỉ nghiên cứu trong giai đoạn khi đất nước thống nhất,
đất đai được chia đều cho người dân.
2.2.2.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1980
Trong giai đoạn này, đất đai, BĐS ở nước ta thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu
của cộng đồng, sở hữu của tổ chức, sở hữu của nhà nước và hoạt động giao dịch
mua bán, thê mướn, cầm cố đất đai, nhà cửa diễn ra một cách bình thường. Sau cải
cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Bắc, đất đai,
BĐS được phân phối lại, các giao dịch mua bán, chuyển nhượng, thuê mướn... vẫn
diễn ra nhưng không phổ biến. Các hình thức, thủ tục... được thực hiện theo truyền
thống tập quán của cộng đồng. Các bên tham gia giao dịch tự tìm đến với nhau và
tự thoả thuận giá cả. Trong giai đoạn này, mặc dù chưa có văn bản pháp luật về
giao dịch BĐS, nhưng nhà nước đã thừa nhận và làm thủ tục cho các bên quan hệ
giao dịch mua bán, thuê mướn BĐS và thu lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sở
hữu nhà đất. Chính vì lẽ đó, trong giai đoạn này chưa có sự xuất hiện của các tổ
chức kinh doanh, môi giới, dịch vụ cung cấp thông tin thị trường BĐS.
2.2.2..2. Giai đoạn từ sau năm 1980 đến năm 2003
Từ sau khi pháp lệnh Nhà ở và nhất là sau khi luật đất đai năm 1993 ra đời,
cáo khắp nơi, nhận làm công việc cung cấp thông tin, hướng dẫn xem nhà hoặc tổ
14
chức cho hai bên mua bán gặp nhau, nếu giao dịch thành công thì nhận tiền hoa
hồng (1 - 2% giá trị mảnh đất hoặc ngôi nhà đó).
Theo giới kinh doanh nhà đất, “cò nhà đất” được chia thành nhiều đẳng cấp.
Cao nhất là các công ty có chức năng kinh doanh BĐS. Hoạt động của các công ty
này khá chuyên nghiệp với những thông tin đáng tin cậy. Tiếp đến là các văn
phòng môi giới nhà đất mọc nhan nhản khắp ngõ xóm, làng quê, khu quy hoạch.
Hạng bét là dạng “cò” đơn lẻ, nhân viên kiêm luôn giám đốc, cơ động khắp mọi
hang cùng ngõ hẻm.
Tại các đô thị, hoạt động môi giới nhà đất của tư nhân phát triển tràn lan
và rất lộn xộn, phần lớn họ không đăng ký kinh doanh và nằm ngoài sự kiểm soát
của nhà nước. Hoạt động của lực lượng này là một nhân tố góp phần tạo ra các
yếu tố tâm lý đẩy giá nhà đất lên theo các cơn sốt và góp phần không nhỏ trong
việc kích thích hoạt động đầu cơ BĐS. Trong điều kiện hiện nay, “cò nhà đất”
càng có cơ hội kiếm lời do các thông tin về quy hoạch, sử dụng đất, tình trạng
pháp lý của từng BĐS không được công bố đầy đủ và công khai.
2.2.2.3. Giai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Trong giai đoạn này thị trường BĐS có vẻ chững lại, sự sôi động cũng đến
hồi kết thúc do giá thì cao, cung đã vượt cầu và luật pháp chặt chẽ hơn, kẽ hở ít đi,
tính công khai, minh bạch tăng lên,... làm giảm bớt chỗ cho các giao dịch ngầm.
Hầu hết các công ty, trung tâm mua bán nhà đất mở ra để đấy, có quá ít khách
hàng đến giao dịch và lượng giao dịch thành công chủ yếu chỉ đếm trên đầu ngón
tay. Chính vì thế, để duy trì hoạt động của mình các tổ chức môi giới chuyển dần
sang kinh doanh lĩnh vực khác. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến
“diện mạo” thị trường BĐS èo ợt, gây nên tâm lý nghi ngại cho khách hàng.
Thực tế cho thấy hoạt động môi giới giao dịch BĐS ở Việt Nam hiện nay
đang gặp nhiều khó khăn lớn, chỉ có những nhà môi giới có tính chuyên nghiệp,
có trình độ cao, hiểu được tác dụng thực sự của chính sách lên thị trường và tạo
được sự tin cậy lớn cho khách hàng trong hoạt động của mình thì mới có khả năng
Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; Điều 714- Hợp đồng thuê lại quyền sử dụng
đất; Điều 715- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đai; Điều 722- Hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất; Điều 727- Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng
đất. Các điều luật trên được lấy từ Bộ Luật dân sự.
- Nghị định 108/2006/NĐ- CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư.
17
- Nghị định 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 sửa đổi một số điều của Nghị
định 16/2005/NĐ-CP.
- Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về đăng ký kinh doanh.
- Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 quy định chi tiết luật thương
mại, hàng hoá, dịchvụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều
kiện.
- Công văn số 70/BXD-QLN của BXD hướng dẫn cấp chứng chỉ môi giới,
định giá BĐS.
- Nghị định 153/2007/NĐ- CP ngày 15/10/2007 quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Luật kinh doanh bất động sản
- Quyết định 29/2007/QĐ- BXD ngày 31/12/2007 ban hành chương trình
khung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về môi giới bất động sản, định giá bất động
sản và quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản
- Nghị định 84/2007/ NĐ-CP 25/5/2007 quy định bổ xung về việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự,
thủ tục, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu
nại về đất đai.
18
PHẦN 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
+ Mục tiêu tổng quát: Phân tích, đánh giá một số loại hình môi giới giao
dịch bất động sản nhằm đề xuất một số giải pháp phát triển các loại hình môi giới
sách đất đai, về các vấn đề liên quan đến khu vực môi giới).
6. Phạm vi hoạt động (trong thành phố, tỉnh – liên tỉnh)
7. Đối tượng phục vụ (người trong nước, việt kiều hay người nước ngoài)
8. Hình thức giao dịch: Môi giới mua bán, cho thuê hay tư vấn ?
9. Loại hình BĐS được môi giới BĐS: Nhà ở, đất, cửa hàng, văn phòng, nhà
xưởng, kho...
10. Nguồn cung BĐS.
11. Các khoản phí, lệ phí môi giới (Trước 2003, 2003-2006, sau khi Việt
Nam gia nhập WTO: Phí môi giới mua bán BĐS; Phí môi giới thuê, cho thuê
BĐS...).
12. Các hình thức quảng cáo.
13. Tỷ lệ môi giới giao dịch thành công (Trước 2003, 2003-2006, sau khi
Việt Nam gia nhập WTO).
14 Doanh thu hàng tháng (Trước 2003, 2003-2006, sau khi Việt Nam gia
nhập WTO).
15. Thuế phải nộp.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hoạt động của các
loại hình môi giới giao dịch BĐS tại Thành phố Buôn Ma Thuột - Đắklắk một
cách chuyên nghiệp, lành mạnh, tuân thủ theo đúng pháp luật, góp phần phát triển
lành mạnh thị trường BĐS.
20
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp điều tra và thu thập tài liệu
- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Chuyên đề tiến hành thu thập các tài liệu, các văn bản, tạp chí, báo, báo cáo
khoa học,… các số liệu thống kê, các báo cáo đã công bố của địa phương về vấn
đề nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Đây là phương pháp đòi hỏi người nghiên cứu có khả năng giao tiếp tốt có
(1.608 ft). Buôn Ma Thuột cách Hà Nội 1.410 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh
350 km. Là một thành phố có vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng về an ninh
quốc phòng.
+ Phía Bắc giáp huyện Cư M’gar.
+ Phía Nam giáp huyện Krông Ana.
+ Phía Đông giáp huyện Krông Pắc.
+ Phía Tây giáp huyện Buôn Đôn và Cư Jút (tỉnh Đắk Nông).
Có diện tích tự nhiên của thành phố: 37.718 ha, trong đó:
Khu vực nội thành (13 phường): 10.150ha
Khu vực ngoại thành (8 xã) :27.568ha.
Thành phố Buôn Ma Thuột có 13 phường, 8 xã. Đặc biệt có 7 buôn (làng)
nội thành với gần chục nghìn người Êđê, họ vẫn giữ kiến trúc nhà ở và lối sản
xuất riêng ngay trong lòng thành phố.
4.1.1.2. Địa hình, địa mạo
Thành phố Buôn Ma Thuột nằm trên cao nguyên Đắk Lắk rộng lớn ở phía
Tây dãy Trường Sơn, có địa hình dốc thoải (0,5% - 10%), bị chia cắt bởi các dòng
suối thượng nguồn sông Sêrêpôk.
Nhìn chung địa hình đặc trưng bởi 3 dạng sau đây:
- Địa hình đồi núi độ dốc lớn: độ dốc đặc trưng là cấp III và IV.
- Địa hình chân đồi và ven suối: độ dốc đặc trưng là cấp II.
- Địa hình tương đối bằng phẳng: độ dốc đặc trưng là cấp I.
22
4.1.1.3. Khí hậu thời tiết
Thành phố Buôn Ma Thuột nằm trong vùng cao nguyên trung phần, thời tiết
khí hậu vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất
của khí hậu cao nguyên. Tình hình khí hậu thời tiết của thành phố Buôn Mê Thuột
được thể hiện qua bảng 4.1 sau:
Bảng 4.1. Tình hình khí hậu thời tiết của thành phố Buôn Mê Thuột
trong năm 2007
Tháng Lượng
8 298,7 22,4 91 168,2 513 3 16
9 136,1 22,6 88 178,9 574 2 13
10 24,9 21,3 88 196,8 660 3 12
11 13,9 20,9 89 184,9 666 3 14
12 4,6 18,8 88 186,4 597 3 15
(Nguồn: Trung tâm Khí Tượng - Thuỷ Văn thành phố)
- Chế độ nhiệt:
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm thấp nên biên độ
nhiệt trong năm không cao, chỉ dao động trong khoảng 4
0
- 6
0
C. Tổng nhiệt độ
trong năm khoảng 8.000
0
C - 9.000
0
C và có tương quan chặt chẽ với độ cao địa
hình.
Nhiệt độ bình quân năm là 23,5
0
C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là
36,5
0
C (tháng 3) và tháng lạnh nhất là 15,1
0
C (tháng 12).
- Chế độ mưa: Hàng năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa
bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa cả năm; mùa khô
bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa bình quân năm 1.773 mm.
22.393,7 84,52
Đất nâu vàng trên đá Bazan (Fu). 659,7 2,6
Đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs). 892,7 3,3
Đất nâu tím trên đá Bazan (Ft). 102 0,38
Đất đen trên sản phẩm đá Bazan (Rk). 1.445,4 5,5
Đất dốc tụ thung lũng (D). 1.001,5 3,7
Tổng 26495,0 100,0
nghiệp đã phân loại đất đai của thành phố Buôn Ma Thuột gồm các nhóm đất:
Bảng 4.2. Các loại đất trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Buôn Ma Thuột)
Thành phố có tài nguyên đất phong phú, đặc biệt là nhóm đất nâu đỏ phát
triển trên đá mẹ Bazan (Fk) có diện tích lớn, nhóm đất này rất giàu dinh dưỡng,
có tầng đất dày thích hợp cho các cây công nghiệp dài ngày như: cà phê, cao su,
hồ tiêu, cây ăn quả nhiệt đới và các loại cây trồng khác. Đây là một nhân tố hàng
đầu để tạo nên một lợi thế hết sức quan trọng cho thành phố phát triển kinh tế, đặc
biệt là ngành sản xuất nông nghiệp.
24
c) Tài nguyên khoáng sản
Các chương trình nghiên cứu thăm dò khoáng sản tại thành phố và các vùng
phụ cận cho thấy kết quả như sau:
- Caolin Chưtara: trữ lượng Caolin tại khu vực 135.434 tấn (thân quặng -
Sét gạch ngói: bao gồm các cụm sét như sét Châu Sơn, sét Mai Hắc Đế, sét Ea
Kao, sét Chưplom. Sét các khu vực nói trên đều đạt chỉ tiêu công nghiệp (ngoại
trừ sét Châu Sơn), tuy nhiên sét chỉ làm được gạch, không làm được ngói. Tổng
trữ lượng trong khu vực của thành phố đạt khoảng 4 triệu m
3
.
- Đá Bazan (xây dựng thông thường) có ở các khu vực sau: mỏ đá cầu 14 trữ
lượng khoảng 3 - 4 triệu m
3