MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích 2
2.1. Mục đích tổng quát 2
2.2. Mục đích cụ thể 2
3. Yêu cầu 2
4. Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 4
1.1.3. Cơ sở pháp lý của đề tài 5
1.2. Khái quát các quy định liên quan đến thị trường bất động sản 6
1.2.1. Khái niệm thị trường bất động sản 6
1.2.2. Quy luật cung - cấu bất động sản 8
1.2.3. Phân loại thị trường bất động sản 11
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất 13
1.3. Các nghiên cứu về bất động sản trên thế giới và ở Việt Nam 15
1.3.1. Các nghiên cứu về bất động sản trên thế giới 15
1.3.2. Khái quát hiện trạng quản lý thị trường bất động sản ở Việt Nam 17
1.3.3. Thực trạng thị trường bất động sản tại khu vực đô thị ở Việt Nam 26
1.3.4. Vai trò quản lý nhà nước đối với thị trường bất động sản 31
1.3.5. Quản lý nhà nước đối với thị trường bất động sản 37
1.3.6. Các thành phần tham gia thị trường bất động sản Việt Nam 37
1.3.7. Thực trạng thị trường bất động sản Thành phố Thái Nguyên 39
Chương 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 42
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 42
3.5.2. Quan điểm phát triển thị trường bất động sản 75
3.5.3. Giải pháp phát triển thị trường bất động sản 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
1. Kết luận 80
2. Kiến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. UBND : Ủy ban nhân dân
2. GCN : Giấy chứng nhận
3. BĐS : Bất động sản
4. QSD : Quyền sử dụng
5. QLĐĐ : Quản lý đất đai
6. TƯ : Trung ương
7. XHCN : Xã hội chủ nghĩa
8. THCS : Trung học cơ sở
10
.
PTTH : Trung học phổ thông
11. CN&XD : Công nghiệp và xây dựng
12. KH : Kế hoạch
13. TN&MT : Tài nguyên và Môi trường
14. VT : Vị trí
15. KT – XH : Kinh tế xã hội
16 TP : Thành phố
17 CMT8 : Cách Mạng Tháng 8
18 GTT : Giá thị trường
19 GQĐ : Giá quy định
20 QL3 : Quốc lộ 3
iii
Đồ thị 3.4: Tỷ lệ gia tăng dân số, số hộ và GDP/đầu người qua 3 năm 66
Đồ thị 3.5: Quy mô gia đình và nhu cầu bất động sản 67
Đồ thị 3.6: Mức chênh lệch giá đất thị trường trước và sau quy hoạch 72
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không
có gì thay thế, là thành phần quan trọng hàng đầu của sự sống, là địa bàn
phân bố các khu dân cư, các cơ sở kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng.
Đảng và Nhà nước ta có chủ trương đổi mới nền kinh tế đất nước phát
triển theo hướng "phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước". Các ngành kinh tế
và các nhu cầu trong xã hội về đất đai ngày một tăng, biến động về đất đai
ngày càng nhiều. Vì vậy, công tác quản lý và sử dụng đất đai đã và đang
được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán
bộ quản lý đất đai ngày càng được nâng cao, nhằm mục đích quản lý chặt
chẽ quỹ đất quốc gia và sử dụng đất đai có hiệu quả.
Hiện nay, thị trường bất động sản ở Việt Nam đã được hình thành và
bước đầu có những hoạt động tích cực. Nhưng thị trường này ở nước ta còn
mang nặng tính tự phát, đơn giản và sơ khai, vấn đề quản lý nhà nước về bất
động sản còn nhiều mặt bất cập. Cơ quan quản lý nhà nước chưa có sự phối
hợp chặt chẽ giữa các ngành có chức năng quản lý về các lĩnh vực như đất
đai, tài chính, vật giá, xây dựng, các cơ quan quy hoạch, kế hoạch có liên
quan đến bất động sản.
Điều 17 và Điều 18 Hiến pháp 1992 khẳng định lại nguyên tắc “đất đai
thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý” Nhà nước phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ
sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Nhà nước giao đất cho các
- Đề xuất những giải pháp hợp lý và có tính khả thi cao.
2
4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
+ Sử dụng kiến thức đã học áp dụng vào thực tế nâng cao tính thực tiễn,
chiều sâu kiến thức của ngành học.
+ Nghiên cứu vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn để tìm ra cái mới cho lý
thuyết từ đó quay trở lại áp dụng cho thực tiễn.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Giúp địa phương nắm được giá đất thực tế, nêu bật yếu tố vị trí trong công
tác xác định giá đất để từ đó có những định hướng quản lí đất đai cũng như ban
hành bảng giá đất hợp lý mang tính hiệu quả trong thực tế.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
Việc phân loại tài sản thành “bất động sản” và “động sản” có nguồn
gốc từ Luật cổ La Mã, theo đó BĐS không chỉ là đất đai, của cải trong lòng
đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên
mảnh đất. Bất động sản bao gồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây
trồng … và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai,
những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ.
Pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều thống nhất ở chỗ coi BĐS
gồm đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai. Tuy nhiên, hệ thống pháp
luật của mỗi nước cũng có những nét đặc thù riêng thể hiện ở quan điểm
phân loại và tiêu chí phân loại, tạo ra cái gọi là “khu vực giáp ranh giữa hai
khái niệm bất động sản và động sản”.
Theo điều 174 Bộ luật Dân sự nước CHXHCN Việt Nam năm 2005 thì:
“Bất động sản là tài sản không thể di dời được, bao gồm:
- Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12 ngày 3 tháng 6 năm 2008 của Quốc
hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại
Việt Nam.
- Nghị định số 17/2003/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2003 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giá.
- Nghị định số 153/2007/NĐ- CP ngày 15 tháng10 năm 2007 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh bất động sản.
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính
phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ
5
sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành luật đất đai.
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng
11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Nghị định số 90/2009/NĐ-CP ngày 6 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật nhà ở.
- Thông tư số 05/2006/TT-BXD ngày 1 tháng 11 năm 2006 của Bộ Xây
dựng hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 90/2009/NĐ-CP
ngày 6 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật nhà ở.
- Quyết định số 278/2005/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2005 của Thủ
tướng Chính Phủ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng
thành phố Thái Nguyên đến năm 2020.
- Chỉ thị số 01/2008/CT-TTg ngày 08 tháng 01 năm 2008 của Thủ tướng
Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển và quản lý thị trường bất
động sản.
- Thông báo số 138/TB-VPCP ngày 27 tháng 4 năm 2009 của Văn phòng
chính phủ về Kết luận của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải - Trưởng ban chỉ đạo
TW về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản tại cuộc họp của ban chỉ đạo.
1.2. Khái quát các quy định liên quan đến thị trường bất động sản
kích thước BĐS, những tiện ích khi sử dụng BĐS hay giá bán BĐS, hình
thức và phương thức thanh toán. Tuy nhiên nhu cầu tìm hiểu về thông tin chi
tiết có liên quan đến BĐS và thị trường BĐS vẫn là yêu cầu thiết yếu đối với
bất kỳ đối tượng nào có tham gia vào thị trường BĐS.
Theo các phân tích lý luận của các chuyên gia kinh tế cũng như các nhà
nghiên cứu về BĐS trong nước cũng như quốc tế đã đưa ra một số khái niệm
sau đây về thị trường bất động sản:
7
- Khái niệm 1: Thị trường BĐS là nơi hình thành các quyết định về việc
ai tiếp cận được bất động sản và bất động sản đó được sử dụng như thế nào
và vì mục đích gì.
- Khái niệm 2: Thị trường BĐS là đầu mối thực hiện và chuyển dịch giá
trị của hàng hoá bất động sản.
- Khái niệm 3: Thị trường BĐS là nơi diễn ra các hoạt động mua bán,
chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và các dịch vụ có liên quan như môi giới,
tư vấn… giữa các chủ thể trên thị trường mà ở đó vai trò quản lý nhà nước
đối với thị trường bất động sản có tác động quyết định đến sự thúc đẩy phát
triển hay kìm hãm hoạt động kinh doanh đối với thị trường BĐS.
- Khái niệm 4: Thị trường BĐS là nơi tiến hành các giao dịch bất động
sản gồm chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và các dịch vụ hỗ trợ như môi
giới, tư vấn
Như vậy, hiện có rất nhiều quan niệm khác nhau về thị trường BĐS, sau
khi tổng hợp các kết quả, một số khái niệm về thị trường BĐS thì khái niệm
về thị trường BĐS như sau:
Thị trường BĐS là quá trình giao dịch hàng hoá bất động sản giữa các
bên có liên quan. Là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, cho
thuê, thế chấp và các dịch vụ có liên quan đến BĐS như trung gian, môi
giới, tư vấn giữa các chủ thể trên thị trường mà ở đó vai trò quản lý Nhà
nước có tác động quyết định đến sự thúc đẩy phát triển hay kìm hãm hoạt
động kinh doanh trên thị trường BĐS.
0
P
1
O
Q
1
Q
0
Q
D
1
D
0
E
E
Đường cầu
Đường cung
Để phù hợp với những quy luật của kinh tế thị trường, chúng ta cần phải
sử dụng công cụ tài chính nhất là giá cả để điều tiết quan hệ cung cầu cũng
như việc có thế điều tiết giá đất thông qua việc điều tiết quan hệ cung cầu vì
cung cầu được xem như hàm số của giá. Theo Luật Đất đai năm 2003, hiện ở
nước ta có hai loại giá đất được xác định căn cứ vào cơ chế hình thành là: giá
do Nhà nước qui định và giá thị trường do các bên thoả thuận. Về nguyên tắc,
giá đất do Nhà nước qui định phải bám sát giá thị trường. Trong mối quan hệ
giữa Nhà nước với người sử dụng đất, cũng có những trường hợp áp dụng giá
thị trường để tính giá của thửa đất (công tác đấu giá QSDĐ).
Giá S
D
1
G
tiêu dùng như: đường sá, cầu cống v.v
1.2.3.2. Căn cứ vào khu vực có bất động sản
- Khu vực đô thị: Thị trường đất ở đô thị, thị trường nhà ở đô thị, thị
trường BĐS nhà xưởng công nghiệp, thị trường BĐS thương mại, thị trường
BĐS công cộng v.v
- Khu vực nông thôn: Thị trường đất ở nông thôn, thị trường đất nông
nghiệp, thị trường đất lâm nghiệp, thị trường nhà ở nông thôn, thị trường đất
phi nông nghiệp (đất xây dựng trụ sở, văn phòng làm việc, cửa hàng kinh
doanh v.v ), thị trường BĐS nhà xưởng sản xuất nông nghiệp, thị trường
BĐS công cộng v.v
11
- Khu vực giáp ranh: Thị trường đất ở, nhà ở, thị trường đất nông nghiệp,
thị trường BĐS nhà xưởng công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, thị trường
BĐS công cộng v.v
1.2.3.3. Căn cứ theo công dụng của bất động sản
- Thị trường đất đai (nông nghiệp và phi nông nghiệp)
- Thị trường công trình thương nghiệp (trụ sở, văn phòng, khách sạn,
trung tâm thương mại, cửa hàng ) và công trình công cộng (giao thông, thuỷ
lợi, y tế, văn hoá )
- Thị trường công trình công nghiệp (nhà xưởng, mặt bằng sản xuất, khu
công nghiệp, khu chế xuất )
- Thị trường nhà ở (đô thị và nông thôn)
- Thị trường công trình đặc biệt có hàng hoá bất động sản là các bất động
sản phi vật thể được coi như tài nguyên khai thác được (kinh doanh du lịch,
v.v ) như di sản văn hoá, di tích lịch sử, v.v
1.2.3.4. Căn cứ theo hoạt động trên thị trường bất động sản (tính chất kinh doanh)
- Thị trường mua bán chuyển nhượng bất động sản
- Thị trường đấu giá quyền sử dụng đất
- Thị trường cho thuê bất động sản
- Thị trường thế chấp và bảo hiểm bất động sản
+ Đầu cơ vào nhà đất: Là hành vi người đầu cơ hy vọng và lợi dụng sự
biến động của giá cả nhà đất để thu được siêu lợi nhận. Khi đất cung không
đủ cầu, do người đầu cơ tranh mua mà đội giá lên cao, khi cung nhiều hơn
cầu người đầu cơ bán tháo làm đất rớt giá.
+ Tiến trình đô thị hoá: Ảnh hưởng của tiến trình đô thị hoá đối với giá
đất biểu hiện ở hai mặt sau đây: một là ở khu vực thành phố có mật độ nhân
13
khẩu đông đúc thì giá đất tăng cao, hai là tỷ lệ nhân khẩu nhập cư cao và tiến
trình đô thị hoá có tốc độ nhanh, mức độ tăng giá đất đều cao hơn đất khu
vực khác.
- Yếu tố quốc tế: Sự phát triển và hoàn thiện của thị trường nhà đất là
không thể tách rời ảnh hưởng của hoàn cảnh quốc tế.
+ Tình hình kinh tế thế giới: Sự thịnh suy kinh tế của mỗi quốc gia đều
liên quan đến sự phát triển hay suy thoái của kinh tế thế giới, tình trạng thị
trường, đất đai cũng không ngoại lệ.
+ Yếu tố chính trị quốc tế: Mối quan hệ tốt đẹp của quốc gia này với
quốc gia khác, giao lưu đối ngoại nhộn nhịp, môi trường ngoại giao cởi mở
thì có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, khiến cho nhu cầu đất tăng.
- Yếu tố kinh tế: Sự diễn biến của tình hình kinh tế có tác dụng quan
trọng đối với quốc tế dân sinh và ảnh hưởng đến địa vị quốc tế của mối quốc
gia. Trong quá trình Chính phủ tích cực theo đuổi sự tăng trưởng kinh tế và ổn
định kinh tế đều thông qua ảnh hưởng của chính sách kinh tế mà đi đến ổn
định. Ảnh hưởng của yếu tố kinh tế đến giá đất biểu hiện qua các yếu tố sau:
+ Tình trạng phát triển kinh tế
+ Mức độ dự trữ và đầu tư: Hai yếu tố này có mối tương quan thuận với
nhau.
+ Tình trạng thu chi tài chính và tiền tệ
+ Trình độ thu nhập và tiêu dùng của dân cư
+ Biến động vật giá
+ Mức lãi suất
Nhà nước Malaysia là Nhà nước Liên bang, hệ thống cơ quan định giá
của Nhà nước về bất động sản được tổ chức tại cả ba cấp: Liên bang; bang
và quận (huyện).
15
- Tại trung ương (Liên bang): Cơ quan định giá có tên gọi là: "Cục Dịch
vụ định giá bất động sản "gọi tắt theo tiếng Malaysia là JPPH. JPPH trực thuộc
Bộ Tài chính, Giám đốc JPPH do bộ trưởng bộ Tài chính bổ nhiệm và chịu
trách nhiệm trước bộ trưởng về toàn bộ các hoạt động của cơ quan mình.
- Tại cấp Bang (Malaysia có 13 Bang): Mỗi Bang có một chi nhánh của
JPPH. Giám đốc chi nhánh do Tổng giám đốc của JPPH bổ nhiệm và chịu trách
nhiệm trước Tổng giám đốc về toàn bộ hoạt động của cơ quan mình.
- Tại cấp Quận (huyện): Có một số ít Quận (huyện) được JPPH đặt văn
phòng định giá, còn hầu hết là thành lập các văn phòng định giá vùng, mỗi
văn phòng chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước và làm dịch vụ định giá BĐS
một vùng, bao gồm một số quận (huyện) nhất định, giám đốc văn phòng định
giá do giám đốc chi nhánh JPPH Bang bổ nhiệm.
* Ở Singapore
Hệ thống cơ quan định giá của Nhà nước về BĐS được tổ chức tại một cấp
Trung ương gồm 2 cơ quan: Văn phòng Đất đai trực thuộc bộ Tư pháp và văn
phòng Định giá bất động sản trực thuộc cơ quan Thuế - Bộ Tài Chính.
* Ở Trung Quốc
Vấn đề định giá bất động sản được Nhà nước Trung Quốc quan tâm từ
đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Tháng 8/1992 "Trung tâm tư vấn và định giá
bất động sản" gọi tắt tiếng Anh là CRECAC được thành lập. CRECAC có 8
phòng, 1 văn phòng và 3 viện với 44 cán bộ chuyên môn, ngoài ra CERCAC
còn có 30 chi nhánh ở trong nước và nước ngoài với khoảng 300 cán bộ
chuyên môn.
* Ở Thái Lan
Hệ thống cơ quan định giá của Nhà nước về bất động sản được tổ chức
tại một cấp Trung ương gọi là: "Cơ quan định giá Trung ương" viết tắt là
hướng XHCN, Luật Đất đai 1988 quy định người sử dụng đất được nhà nước
giao cho một số quyền sử dụng đất nhất định phù hợp với cơ chế quản lý Nhà
17
nước về đất đai thời kỳ đó, có một số chế định quan trọng như: Quy định về
những đối tượng được nhà nước giao đất để sử dụng ổn định lâu dài, sử dụng
có thời hạn và sử dụng tạm thời (Điều 1). Đất đai nước ta chỉ tồn tại hình thức
sở hữu toàn dân. Về phương diện pháp lý, việc mua bán đất lúc này hầu như
bị ngăn cấm (Điều 5) của Luật đất đai 1988 đã nghiêm cấm việc mua bán đất
đai dưới mọi hình thức. Tuy nhiên trên thực tế việc này vẫn diễn ra và thường
gọi là việc “mua chui” – “bán chui” vì pháp luật không thừa nhận).
* Giai đoạn sau Hiến pháp 1992
Trước tình hình đó, việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là chủ trương đúng
đắn, sáng tạo của Đảng và Nhà nước, trên cơ sở đó, Luật Đất đai mới năm
1993 được Quốc hội thông qua ngày 17/7/1993 thay thế Luật Đất đai 1988.
Hoạt động của thị trường đất đai trong đó có quyền sử dụng đất chuyển
sang một giai đoạn mới đánh dấu sự đổi mới của chính sách pháp luật đất đai,
Luật Đất đai 1993 đã cụ thể hoá Điều 18 - Hiến pháp 1992 về quyền của
người sử dụng đất (khoản 3- điều 3), theo đó các quyền năng của người sử
dụng đất được xác định, hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất có
quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng
đất, xuất phát từ 5 quyền này, đất đai được xác định là loại tài sản có giá
thông qua giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trên cơ sở quy định
của Luật Đất đai 1993, Bộ luật Dân sự năm 1995 đã cụ thể hoá việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ Điều
690 - 744 (phần thứ năm - những quy định về quyền sử dụng đất) và các hình
thức hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế
quyền sử dụng đất. Giai đoạn này, thị trường nhà ở gắn liền với quyền sử
dụng đất khu vực đô thị phát triển mạnh thông qua các hình thức chuyển
nhượng theo các "kênh ngầm". Trước tình hình đó, Chính phủ ban hành các
Nghị định 61/1994/NĐ-CP về mua bán và kinh doanh nhà ở, Nghị định
cấp, Luật bổ sung thêm quyền bảo lãnh cho các chủ thể sử dụng đất tại các tổ
chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam, quy định các điều kiện mua nhà kèm
theo quyền sử dụng đất, một số Nghị định mới liên quan đến lĩnh vực đất đai
được ban hành như Nghị định 79/2001/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều
19
của Nghị định số 17, Nghị định 81/2001/NĐ-CP về việc người Việt Nam định
cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam. Tiếp tục hoàn thiện Luật Đất đai
1998, Luật Đất đai 2003 tại điều 5 quy định về sở hữu đất đai: “đất đai thuộc
sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu… Nhà nước thực hiện
quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về
đất đai như sau: Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thu thuế sử dụng đất, thuế
thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất
mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại.
Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình
thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang
sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất."
Hiện nay, ở nước ta, mặc dù chưa có những văn bản quy định về thị
trường quyền sử dụng đất nói riêng và thị trường BĐS nói chung, nhưng tổng
hợp hệ thống các văn bản pháp luật, chính sách pháp luật Đất đai hiện hành đã
tạo ra được một khung thể chế nhất định, tạo điều kiện cho các thị trường này
hoạt động đó là :
- Thị trường quyền sử dụng đất được công nhận.
- Nhà nước quản lý, quyết định hàng hoá quyền sử dụng đất cho thị
trường hoạt động thông qua việc giao đất, cho thuê đất và Nhà nước tham gia
các hình thức giao dịch có yếu tố thị trường như giao đất, cho thuê đất có thu
tiền sử dụng đất.
- Giao đất cho các tổ chức kinh tế đầu tư, xây dựng nhà ở để bán, cho
thuê; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo dự án do Chính Phủ phê duyệt để
đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất.
1.3.2.2. Đặc điểm của thị trường bất động sản Việt Nam những năm qua