Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh
nghiệp
Chương 1 : Tổng Quan Nghiên Cứu Đề Tài
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Đất nước ta sau hàng chục năm đổi mới chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền
kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đã có được những thành
công to lớn. Nền kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay diễn ra rất sôi động,cạnh
tranh gay gắt của cơ chế thị trường đang thúc đẩy một nền kinh tế đất nước phát
triển, thương trường đã trở thành chiến trường, một quộc chiến không tiếng súng
nhưng quyết liệt, nó không giới hạn ở một phạm vi nào đó mà mang tính toàn cầu
khiến tất cả các chủ thể tham gia đều phải nỗ lực một mất một còn trên cả ba mặt
trận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh,quản trị kinh doanh hữu hiệu,giảm tối đa chi phí
kinh doanh tạo ra khả năng cạnh tranh nhất.Để giành được phần thắng doanh nghiệp
không thể không quan tâm đến hoạt động tiêu thụ hàng hoá.Hoạt động tiêu thụ hàng
hoá chính là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp.Có tiêu thụ được hàng hoá
doanh nghiệp mới có chỗ đứng trên thị trường, có tiêu thụ hàng hoá thì doanh
nghiệp mới có vốn quay vòng tiếp tục hoạt động kinh doanh thì mới có lợi nhuận tái
sản xuất và mở rộng phát triển.
Đặc biệt với các doanh nghiệp sản xuất, có tồn tại được hay không còn phải phụ
thuộc vào khâu tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm của mình, đưa sản phẩm đến tay
người tiêu dùng. Tuy nhiên, công tác thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, đưa sản phẩm tới
từng khu vực của thị trường chưa được coi trọng đúng mức trong các doanh nghiệp.
Việt Nam đang từng bước mở cửa thị trường và hội nhập với các nước trong khu
vực và thế giới. Điều này sẽ làm cho môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt
hơn. Đặc biệt là ngành may mặc hiện nay. Thị trường may mặc là ngành rất hấp
dẫn, không những ở nước ngoài mà ngay cả ở thị trường nội địa. Chính vì vậy,
nhiều công ty nước ngoài đang cố gắng bằng mọi cách để thâm nhập thị trường may
mặc nước ta. Trong khi đó rất nhiều doanh nghiệp trong nước lại đứng ngoài cuộc,
để mặc cho sản phẩm nước ngoài thao túng thị trường. Gần đây thị trường may mặc
có dấy lên nạn quần áo Trung Quốc nhiễm độc, gây ung thư da, ảnh hưởng tới sức
khoẻ của người dân. Vì vậy nên vấn đề tiêu thụ trong ngành may mặc đang được
với những đặc điểm và điều kiện hết sức thuận lợi lại chưa được công ty quan tâm
đúng mức. Với thị trường trong nước công ty có thể giảm thiểu được chi phí bán
hàng đồng thời lại có thể tận dụng được nguyên liệu thừa trong quá trình may sản
phẩm xuất khẩu. Chính vì vậy mà việc làm sao để nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản
phẩm may mặc là vấn đề cấp thiết đặt ra cho công ty hiện nay. Do đó, em quyết
định lựa chọn đề tài của luận văn là: “ Nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm may
mặc tại công ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái” với mong muốn học hỏi thêm về
nghiệp vụ chuyên môn và đóng góp một số ý kiến nhằm hoàn thiện thêm hệ thống
quản trị của công ty.
1.3. Các mục tiêu nghiên cứu
Vận dụng lý luận về hiệu quả tiêu thụ hàng hoá kết hợp với phân tích điều
kiện thực tại của công ty, trên cơ sở đánh giá những ưu điểm, nhược điểm, những
SV: Lê Thị Tâm GV: TS. Chu Thị Thủy
2
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh
nghiệp
tồn tại cơ bản và nguyên nhân gây ra thực trạng hiện nay của công ty kết hợp với
nghiên cứu thực tế trong thời gian thực tập em sẽ đưa ra một số đề xuất về những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm may mặc của Công ty, góp
phần hoàn thiện chiến lược phát triển thị trường của công ty.
Công tác tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nước ngoài của công ty là khá bền vững,
chỉ còn tồn tại một số khó khăn nhất định cần tìm ra những biện pháp hiệu quả để
giảm thiểu chi phí.
Thị trường nội địa là khá mới mẻ và đầy khó khăn với công ty, do đó mà trong thời
gian nghiên cứu, em muốn tìm hiểu và đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao và đẩy
mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm may mặc trong nước
1.4. Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của bài viết là hiệu quả tiêu thụ hàng hoá của công ty
cổ phần may xuất khẩu Việt Thái, thông qua các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí, lợi
nhuận, năng suất lao động, trình độ sử dụng vốn…
Hiệu quả xã hội: Là mức độ đóng góp của doanh nghiệp vào các lợi ích của
xã hội hoặc là mức độ ảnh hưởng tích cực của các kết quả đạt được của doanh
nghiệp đến môi trường xã hội của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh tế: Là hiệu quả chỉ xét trên phương diện kinh tế của hoạt động
kinh doanh.Nó mô tả mối tương quan giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được
với chi phí đã bỏ ra để đạt được lợi ích đó. Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh
trình độ và năng lực quản lý, đảm bảo thực hiện có kết quả cao nhất những nhiệm
vụ kinh tế xã hội đặt ra với chi phí nhỏ nhất.
Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế có mối quan hệ hữu cơ với nhau, là hai
mặt của một vấn đế. Bởi vậy, khi tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng
như khi đánh giá hiệu quả của các hoạt động này cần xem xét cả hai mặt này một
cách đồng bộ.
2.1.1.2. Khái niệm hiệu quả tiêu thụ sản phẩm
Hội nhập kinh tế hiện nay diễn ra như một xu thế vì vậy nâng cao hiệu quả
kinh tế là biện pháp tốt nhất để các doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển
mạnh mẽ, cạnh tranh với các thành phần kinh tế, các đơn vị kinh tế trong nước cũng
như nước ngoài.
Hiệu quả kinh tế trong tiêu thụ sản phẩm là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, nhân lực được thực hiện thông qua mối quan
hệ so sánh giữa kết quả đạt được (đầu ra) với chi phí bỏ ra (đầu vào) trong quá trình
tiêu thụ hàng hoá. Các khoản chi phí ở đây bao gồm các yếu tố của quá trình sản
xuất kinh doanh: lao động, tư liệu lao động, vốn, hàng hoá…kết qủa hoạt động kinh
SV: Lê Thị Tâm GV: TS. Chu Thị Thủy
4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh
nghiệp
doanh là một đại lượng cụ thể, là các khoản thu được sau một thời kỳ hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Hiệu quả là mối tương quan giữa kết quả và chi phí bỏ ra được biểu hiện:
H = K – F (1)
SV: Lê Thị Tâm GV: TS. Chu Thị Thủy
5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh
nghiệp
- Theo quan điểm hiện đại, thì tiêu thụ sản phẩm là một quá trình thực hiện
tổng thể các hoạt động có mối quan hệ logic và chặt chẽ bởi một tập hợp các cá
nhân, doanh nghiệp phụ thuộc lẫn nhau nhằm thực hiện quá trình chuyển hàng hóa
từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.
- Theo quan điểm cổ điển thì tiêu thụ hàng hóa được hiểu là quá trình hàng
hóa được di chuyển từ người bán sang người mua và đồng thời là quá trình chuyển
quyền sở hữu.
- Theo Luật Thương mại Việt Nam thì tiêu thụ hàng hóa thực chất là việc
thực hiện giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua và người bán
nhận tiền từ người mua theo sự thỏa thuận giữa người mua và người bán.
- Trong doanh nghiệp thương mại, tiêu thụ hàng hóa được hiểu là bán hàng.
Hoạt động bán hàng trong doanh nghiệp là một quá trình thực hiện chuyển quyền sở
hữu về hàng hóa cho khách hàng và thu tiền về hay được quyền thu tiền về do bán
hàng.
2.3. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của nhừng công trình về hiệu
quả tiêu thụ các năm trước
Tính đến thời điểm hiện tại thì chưa có công trình nào nghiên cứu về nâng
cao hiệu quả tiêu thụ hàng hoá tại Công ty Cổ phần May Xuất khẩu Việt Thái.
Những năm trước đây đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề vấn
đề hiệu quả kinh doanh đó là :
• Luận văn của sinh viên Nguyễn Song Bảo Ngọc, sinh viên trường Đại Học
Thương Mại, tên đề tài “ Một Số giải pháp nâng cao hiệu quả tiêu thụ hàng hoá tại
công ty vật tư và thiết bị toàn bộ - Matexim”.Công trình đã hệ thống hoá được
những vế đề cơ bản của vấn đề nâng cao hiệu quả tiêu thụ hàng hoá tại Công ty.
Tuy nhiên phần lý thuyết viết dài và lan man, các ý trùng lặp nhau. Phần phân tích
thực trạng công ty là khá kỹ, tuy nhiên giải pháp đưa ra cho công ty là chung chung,
cụ thể mà doanh nghiệp phải phấn đấu đạt được. Các mục tiêu thường được ấn định
theo các lĩnh vực cụ thể sau đây:
- Mức lợi nhuận
- Năng suất, chi phí
- Vị thế cạnh tranh, tăng thị phần
- Nâng cao chất lượng phục vụ
- Duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp
- Đạt sự ổn định nội bộ
Tại một thời điểm nhất định doanh nghiệp có thể có nhiều mục tiêu khác
nhau. Các mục tiêu này thay đổi theo thời gian và mỗi khi thay đổi mục tỉêu thay
đổi luôn cả cách nhìn nhận và quan điểm đánh giá hiệu quả.
Song về mặt kinh tế, các mục tiêu trên đều quy tụ về một đích, một mục tiêu cơ bản,
đó là mức tăng lợi nhuận để đảm bảo tính ổn định và phát triển doanh nghiệp .Mục
tiêu tăng thị phần, chiếm lĩnh thị trường cũng nhằm mục đích tăng doanh thu, tăng
lợi nhuận. Bởi vậy lợi nhuận được xem là tiêu chuẩn để thiết lập các chỉ tiêu đo
lường và đánh giá hiệu quả kinh tế
SV: Lê Thị Tâm GV: TS. Chu Thị Thủy
7
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh
nghiệp
Do đó, khi phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp, cho dù
nó được hoạt động dưới hình thức nào, đều phải đặt nó trong mối quan hệ giữa hiệu
quả kinh tế của doanh nghiệp với hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Một mặt phải quan tâm đến các lợi ích kinh tế mang lại cho chủ doanh nghiệp, cho
doanh nghiệp và cho người lao động trong doanh nghiệp. Mặt khác phải hết sức
quan tâm đến những lợi ích toàn cục của nền kinh tế quốc dân, của xã hội.
2.4.2. Hệ thống chỉ tiêu đo lường đánh giá hiệu quả tiêu thụ sản phẩm
Xuất phát từ khái niệm của hiệu quả tiêu thụ hàng hoá và yêu cầu của hệ thống chỉ
tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả tiêu thụ hàng hoá,chúng ta thống nhất đưa ra
phân tích và lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả tiêu thụ hàng
Chỉ tiêu này phản ánh năng lực sản xuất kinh doanh của một lao động nó được biểu
hiện bằng doanh thu bình quân của một lao động đạt được trong kỳ.
Hiệu quả sử dụng lao động còn được đo lường và đánh giá bằng chỉ tiêu sử dụng chi
phí tiền lương : =
Chỉ tiêu này phản ánh mức doanh thu đạt được trên một đồng chi phí tiền lương.
Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng lao động càng cao.
Hoặc bằng: Tỷ suất tiền lương =
Trong đó QL : Tổng quỹ lương trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh để thực hiện một trăm đồng doanh thu bán hàng thì cần chi
bao nhiêu đồng tiền lương.
Hiệu quả sử dụng vốn: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là số
tiền ứng trước về các tài sản cần thiết nhằm thực hiện các nhiệm vụ cơ bán của kinh
doanh trong kỳ, bao gồm tiền ứng cho tài sản lưu động và tài sản cố định. Thông
thường hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá qua hai bước:
Bước 1: Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung:
Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn của doanh nghiệp được đánh giá bằng hai chỉ tiêu
Sức sản xuất của vốn: =
Sức sinh lợi của vốn : =
Trong đó : là vốn bình quân sử dụng trong năm và được tính bằng công thức
bình quân điều hoà.
SV: Lê Thị Tâm GV: TS. Chu Thị Thủy
9
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh
nghiệp
=
Bước 2: Đánh giá hiệu quả sử dụng các loại vốn
+ Hiệu quả sử dụng vốn lưu động: Được đánh giá bằng chỉ tiêu tốc độ chu chuyển
vốn lưu động
L = ; N =
Trong đó: : Mức tiêu thụ tính theo giá vốn trong kỳ
doanh của doanh nghiệp nói chung cũng như hoạt động tiêu thụ hàng hoá nói riêng.
Vì vậy để thành công trong kinh doanh thì các doanh nghiệp cần phải phân tích, dự
đoán về chính trị,pháp luật cùng xu hướng vận động của nó như: Sự cân bằng các
chính sách của Nhà nước, vai trò và chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Nhà
nước, sự điều tiết và khuynh hướng can thiệp của Nhà nước vào đời sống kinh tế, sự
phát triển các quyết định bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Qua đó giúp doanh
nghiệp đưa ra những quyết định kinh doanh phù hợp với các chính sách tiêu dùng,
chính sách thuế của Nhà nước.
* Yếu tố văn hoá, xã hội: Con người lớn lên trong một xã hội cụ thể và
chính xã hội đó đã trau dồi quan điểm cơ bản của họ tạo nên những giá trị và chuẩn
mực đạo đức. Truyền thống văn hoá ảnh hưởng tới thị hiếu người tiêu dùng do đó
nó là nhân tố mà người sản xuất phải quan tâm không chỉ khi định giá tung ra thị
trường mà ngay từ khi xây dựng chiến lược kinh doanh, quyết định phương án sản
phẩm để đảm bảo tiêu thụ nhanh, nhiều sản phẩm và có lãi. Do đó, thị hiếu là nhân
tố kích thích tiêu thụ rất mạnh mẽ. Vấn đề quan trọng là xác định dân số và mật độ
dân số, từ đó tính được dung lượng của thị trường. Bên cạnh đó cơ cấu dân số cũng
ảnh hưởng đến sản phẩm tiêu thụ bởi vì lứa tuổi và giới tính khác nhau thì nhu cầu
cũng khác nhau.
* Thị trường sản phẩm của doanh nghiệp: Nó là nơi diễn ra các hoạt động
mua bán những sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế
hàng hoá các tỷ lệ giữa cung và cầu trên thị trường. Thị trường đóng vai trò lớn
trong việc điều tiết sản xuất gắn sản xuất với tiêu dùng,liên kết nền kinh tế lại thành
một khối thống nhất,gắn các quá trình kinh tế trong nước với quá trình kinh tế thế
giới.Vì vậy, công tác nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp là khâu mở đầu quan
trọng của hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường.Thị trường là đối tượng chủ
yếu của tiêu thụ, đồng thời là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt
động tiêu thụ sản phẩm.Mục đích người sản xuất hàng hoá là để bán, để thoã mãn
nhu cầu của người khác. Bởi lẽ còn thị trường thì còn hoạt động sản xuất kinh
doanh,các nhà sản xuất căn cứ vào cung cầu, giá cả trên thị trường để quyết định
sản xuất cái gi? Cho ai? Bao nhiêu? Còn nếu mất thị trường thì sản xuất bị đình
của khách hàng và dạng tiêu dùng hàng hoá, quy định cách thức doanh nghiệp sử
dụng các nguồn lực của minh. Tình hình kinh tế ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm ở
các hình thái khác nhau cụ thể là:
- Sự tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng đến tiêu thụ
- Tiềm năng kinh tế và sự gia tăng đầu tư
- Lạm phát, thất nghiệp, sự phát triển ngoại thương
- Các chính sách tiền tệ tín dụng
b, Nhân tố chủ quan
* Chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm là công cụ cạnh tranh, là
nguyên tắc bất di bất dịch để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Khi chất
lượng của sản phẩm tốt không chỉ tăng sự thu hút khách hàng,làm tăng khối lượng
sản phẩm tiêu thụ mà còn tạo điều kiện tăng giá bán một cách hợp lý mà vẫn bán
SV: Lê Thị Tâm GV: TS. Chu Thị Thủy
12
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh
nghiệp
được hàng. Doanh nghiệp đạt được doanh thu và lợi nhuận khi sản phẩm có chất
lượng cao, nó làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, khả năng sinh lời cao, tạo ấn
tượng tốt, sự tin tưởng của khách hàng làm tăng uy tín của doanh nghiệp. Mặt
khác,nó giúp cho nhiều doanh nghiệp thu hút thêm nhiều bạn hàng, giúp cho doanh
nghiệp thắng trong cạnh tranh, nó như sợi dây vô hình thắt chặt khách hàng với
doanh nghiệp duy trì vị trí vững chắc của doanh nghiệp trên thị trường.
* Hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường: Một hình ảnh
“tốt” về doanh nghiệp liên quan đến hàng hoá, dịch vụ, chất lượng sản phẩm, thái
độ đối với khách hàng, giá cả…là cơ sở tạo ra sự quan tâm của khách hàng đến sản
phẩm của doanh nghiệp. Sự “tin tưởng”, “cảm tình”, “hiểu biết đầy đủ” về doanh
nghiệp của khách hàng làm cho doanh nghiệp dễ bán được sản phẩm hơn.
* Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hoá: Mức độ nổi tiếng của nhãn
hiệu hàng hoá liên quan đến một loại sản phẩm với nhãn hiệu cụ thể của doanh
nghiệp. Nhãn hiệu ở thứ bậc càng cao thì khả năng bán hàng càng tốt.
lợi ích toàn cục nền kinh tế của toàn xã hội. Mặt khác tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
giúp cho Doanh Nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước như:Thuế, phí
và lệ phí, tạo điều kiện cho nhà nước có thể thực hiện chính sách kinh tế của nhà
nước góp phần tăng trưởng kinh tế, giảm lạm phát và tăng nguồn thu cho ngân sách
b) Đối với DN
Việc nâng cao hiệu quả tiêu thụ hàng hoá là rất cần thiết và nó có ý nghĩa rất
quan trọng vì: Nó là điều kiện cơ bản để Doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển,
thực hiện tái sản xuất mở rộngvà nâng cao tinh thần cho người lao động. Trong
phạm vi nền kinh tế quốc dân, nâng cao hiệu quả thương mại sẽ góp phần thúc đẩy
sản xuất kinh doanh phát triển, tăng nhanh quá trình tái sản xuất xã hội, mở rộng
hợp tác quốc tế.
Đối với mỗi doanh nghiệp,vấn đề hiệu quả tiêu thụ không những là thước đo
chất lượng hoạt động kinh doanh mà còn là vấn dề sống còn của Doanh nghiệp.
Hquả tiêu thụ hàng hoá càng cao thì doanh nghiệp có điều kiện mở mang hoạt động
kinh doanh, đầu tư mua sắm thiết bị, phương tiện kinh doanh, áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuậtvà quy trình công nghệ mới tạo đựơc năng suất cao, do đó tạo được lợi
nhuận cao.
Với mục tiêu chủ yếu xuyên suốt là tiêu thụ sản phẩm nhằm thực hiện mục
tiêu lợi nhuận, thì nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm là điều kiện giúp doanh
nghiệp tồn tại và phát triển bền vững, nâng cao uy tín, vị thế của Doanh nghiệp trên
thương trường. Đối với người lao động trong Doanh nghiệpthì hiệu quả tiêu thụ
hàng hoá cao sẽ đảm bảo công ăn việc làm cho cán bộ, công nhân viên, tạo điêù
kiện cải thiện đời sống, điều kiện làm việc tốt cho họ, từ đó họ lại tiếp tục nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh hơn. Hơn nữa, nó giúp cho Doanh nghiệpthực hiện
đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với nhà nước như nộp thuế, phí và lệ phí, các hoạt
động từ thiện…đồng thời nó giúp cho xã hội giải quyết việc làm cho người lao động
.
SV: Lê Thị Tâm GV: TS. Chu Thị Thủy
14
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh
Sử dụng các bảng câu hỏi điều tra trắc nghiệm tiến hành điều tra nhóm trong
công ty. Những nhóm tiến hành điều tra là các bộ phận kinh doanh của công ty, các
SV: Lê Thị Tâm GV: TS. Chu Thị Thủy
15
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh
nghiệp
phòng ban xuất nhập khẩu, nhóm trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý lực lượng bán
hàng của công ty.
Tổng số người điều tra là 15 người gồm có:
- 10 nhân viên kinh doanh
- 1 trưởng phòng xuất nhập khẩu
- 2 giám sát bán hàng
- 2 quản lý chi nhánh.
Các bước tiến hành điều tra phỏng vấn như sau:
- Bước 1: Xây dựng bảng câu hỏi điều tra phỏng vấn. Bảng câu hỏi được xây
dựng riêng cho hai đối tượng là nhân viên kinh doanh và nhà quản trị kinh doanh.
- Bước 2: Tiến hành phát phiếu điều tra phỏng vấn cho các đối tượng được
chọn. Thời gian phát phiếu là từ ngày 20/4, ngày thu lại phiếu là ngày 29/4.
- Bước 3: Tổng hợp, phân tích kết quả điều tra khảo sát tại doanh nghiệp
3.1.1.3.Phương pháp quan sát:
Tiến hành quan sát các bộ phận bán hàng, phòng ban của công ty, đồng thời
tiến hành khảo sát thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty. Tiến hành quan sát trực
tiếp các hoạt động giao dịch, hoạt động bán hàng của lực lượng bán hàng tại công
ty, xem xét quá trình bán hàng của họ. Qua đó đánh giá tình hình và hiệu quả tiêu
thụ hàng hóa của công ty xem đạt đến mức độ nào? Điểm mạnh, điểm yếu của bộ
phận kinh doanh tại công ty để từ đó đưa ra được các giải pháp nâng cao hiệu quả
tiêu thụ sản phẩm của công ty.
Quan sát trực tiếp và gián tiếp giúp ta thu thập được thông tin một cách
nhanh nhất và chính xác nhất về thực trạng hiệu quả tiêu thụ hàng hóa của công ty
cổ phần may xuất khẩu Việt Thái.
Ngày 9/12/1997, Xí nghiệp May XK Việt Thái chính thức được thành lập
theo quyết định số 508/QĐ-UB của uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình, là doanh
nghiệp Nhà nước, hạch toán kinh tế toàn phần, có tư cách pháp nhân, có tài khoản
tại Ngân hàng Công thương tỉnh Thái Bình, có con dấu theo quy định của Nhà nước
và trực thuộc Công ty Xuất nhập khẩu (XNK) Thái Bình (UNIMEX).
Tháng 10/2005, theo xu hướng chung, Xí nghiệp May Xuất Khẩu Việt Thái
chính thức trở thành công ty cổ phần, có 56% vốn Nhà nước và 44% là vốn do các
cổ đông góp, trực thuộc công ty mẹ là Công ty XNK tỉnh Thái Bình.
Khi mới thành lập, số vốn của công ty là 8.5356.128.000 đồng.
Trong đó : Vốn cố định là : 7.216.534.000 đồng.
Vốn lưu động là : 1.139.594.000 đồng
Tháng 9/2008, Công ty bán bớt 10% vốn cổ phần của Nhà nước, vốn Nhà nước tại
Công ty là 46%, vốn cổ đông là 54%. Công ty XNK tỉnh Thái Bình và Công ty cổ
phần May xuất khẩu Việt Thái trở thành công ty liên kết, giao dịch bằng hợp đồng
kinh tế.
Tên giao dịch : CÔNG TY CỔ PHẦN MAY XUẤT KHẨU VIỆT THÁI.
Tên tiếng Anh: VIET THAI EXPORT GARMENT JOINT STOCK COMPANY.
Tên viết tắt : VITEXCO
SV: Lê Thị Tâm GV: TS. Chu Thị Thủy
17
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh
nghiệp
Trụ sở giao dịch : Số 100- đường Quang Trung- phường Quang Trung- thành phố
Thái Bình- tỉnh Thái Bình.
MST : 1000360205
Email :
Từ khi thành lập đến nay, Công ty luôn luôn chú trọng đến việc đầu tư đổi
mới các trang thiết bị sản xuất, mở rộng sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề cho
cán bộ công nhân viên, đa dạng hoá các sản phẩm trong công ty. Hàng năm, công
ty mở các cuộc thi tay nghề cho công nhân sản xuất nhằm lựa chọn những công
Công ty CP May XK Việt Thái từ khi thành lập đến nay nhiệm vụ chính là chuyên
sản xuất, nhận gia công các mặt hàng nghành may mặc: Jacket, quần áo đua môtô,
quần áo trượt tuyết, quần áo leo núi, quần áo săn cho khách hàng nước ngoài. Thị
trường chính: EU, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Canada, Newzelan…
nhưng chủ yếu là Hàn Quốc.
Công ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái sản xuất phục vụ cho xuất khẩu và
tiêu dùng trong nước theo 3 phương thức:
- Nhận gia công toàn bộ: Theo hình thức này Công ty nhận nguyên vật liệu
của khách hàng theo hợp đồng để gia công thành phẩm hoàn chỉnh và giao trả cho
khách hàng.
- Sản xuất hàng xuất khẩu dưới hình thức FOB: ở hình thức này phải căn cứ
vào hợp đồng tiêu thụ sản phẩm đã đăng ký với khách hàng, Công ty tự tổ chức sản
xuất và xuất sản phẩm cho khách hàng theo hợp đồng ( mua nguyên liệu bán thành
phẩm ).
- Sản xuất hàng nội địa: công ty thực hiện toàn bộ quá trình sản xuất kinh
doanh từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm phục vụ cho nhu cầu trong nước.
Các phân xưởng sản xuất ở công ty Cp MayXK Việt Thái
Hiện nay Công ty CP May XK Việt Thái có 3 xưởng sản xuất chính:
-Xưởng 1: Gồm có 4 tổ may (Tổ 1, Tổ 2, Tổ 7, Tổ 8)
Số lao động bình quân mỗi tổ khoảng từ 90-100 người.
- Xưởng 2: Gồm có 4 tổ may (Tổ 3, Tổ 4, Tổ 5, Tổ 6)
Số lao động bình quân mỗi tổ khoảng từ 85-90 người.
- Xưởng 3: Gồm có 2 tổ may (Tổ 9, Tổ 10)
Số lao động bình quân mỗi tổ khoảng từ 80-85 người.
Với dây chuyền công nghệ hiện đại, máy móc, thiết bị hầu hết thuộc thế hệ mới
hiện đại, được nhập khẩu từ Nhật Bản, EU, Đài Loan… và đội ngũ công nhân viên
lành nghề đủ để sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
Các xưởng may trên có chức năng tổ chức sản xuất, đảm bảo số lượng cũng như
chất lượng, chịu trách nhiệm quản lý, bảo quản và sử dụng có hiệu quả tài sản cố
định máy móc thiết bị, công cụ lao động, thành phẩm chưa nhập kho.
mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc
quyền của Đại hội đồng cổ đông.
Giúp việc cho Hội đồng quản trị có một giám đốc.
Ban giám đốc chịu trách nhiệm trực tiếp trước các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền về vấn đề tài chính giao và có lãi, có quyền đề bạt, bãi nhiễm các cá
nhân trong công ty.
*Giám đốc: Giám đốc điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trên
cơ sở bảo toàn vốn Nhà nước.
Giúp việc cho giám đốc là phó giám đốc.
*Phó Giám đốc: Giúp việc cho giám đốc, kiêm trưởng phòng kỹ thuật, chủ
tịch công đoàn theo dõi chỉ đạo kế hoạch nhận nguyên phụ liệu, kiểm tra đôn đốc
quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm theo kế hoạch.
Các phòng ban chức năng:
Phòng Kế toán: Giúp Ban giám đốc kiểm tra việc thực hiện các chế độ quản
lý kinh tế tài chính của các phòng ban.
Hướng dẫn, chỉ đạo các phòng ban và các bộ phận trực thuộc thực hiện việc
ghi chép ban đầu đúng chế độ, phương pháp. Giúp giám đốc tổ chức công tác thông
tin kinh tế, hạch toán kinh tế, phân tích hoạt động kinh tế và quyết toán với cấp trên,
phổ biến, hướng dẫn thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các chế độ, thể lệ quản
lý kinh tế tài chính trong phạm vi Công ty. Tổ chức tổng hợp, xác minh, cung cấp
các số liệu thực hiện trong Công ty theo quy định để phục vụ công tác kế hoạch hoá,
công tác quản lý các phòng ban. Tham gia ý kiến với các phòng ban liên quan trong
việc lập các kế hoạch về từng mặt và kế hoạch tổng hợp của Công ty.
Phòng Lao động, tiền lương: Ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu về số
lượng lao động thời gian lao động và kết quả lao động: Tính lương, bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế và các khoản phụ cấp, trợ cấp; phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã
hội vào các đối tượng sử dụng lao động, lập báo cáo về lao động, tiền lương, phân
tích tình hình quản lý, sử dụng thời gian lao động, quỹ tiền lương, năng suất lao
động.
SV: Lê Thị Tâm GV: TS. Chu Thị Thủy
Chỉ tiêu Mã số Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
So sánh 2008/2007 So sánh 2009/2008
Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ %
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1 24,066,554,911 27,383,997,245 30,525,228,738 3,317,442,334 13.7 3,141,231,493 11.4
Các khoản giảm trừ doanh thu 2 - - - - - - -
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ 10 24,066,554,911 27,383,997,245 30,525,228,738 3,317,442,334 13.7 3,141,231,493 11.4
Giá vốn hàng bán 11 19,655,029,082 23,029,330,303 26,488,657,731 3,374,301,221 17.1 3,459,327,428 15
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 20 4,411,525,829 4,354,666,942 4,036,571,007 -56,858,887 -1.3 -318,095,935 -7.3
Doanh thu hoạt động tài chính 21 119,572,561 56,175,584 174,319,919 -63,396,977 -53 118,144,335 210.3
Chi phí tài chính 22 84,785,597 183,606,561 122,193,210 98,820,964 116.5 -61,413,351 -33.4
Trong đó chi phí lãi vay 23
Chi phí bán hàng 24 1,585,842,105 722,078,931 521,881,434 -863,763,174 -54.4 -200,197,497 -27.7
Chi phí quản lý doanh nghiệp 25 712,334,384 657,665,178 636,823,401 -54,669,206 -7.6 -20,841,777 -3.1
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 30 2,148,136,304 2,847,491,856 2,929,992,881 699,355,552 32.5 82,501,025 2.9
Thu nhập khác 31 1,247,710 75,917,743 216,092,100 74,670,033 5984.5 140,174,357 184.6
Chi phí khác 32 - 42,061,484 9,500,000 42,061,484 -32,561,484 -77.4
Lợi nhuận khác 40 1,247,710 33,856,259 206,592,100 32,608,549 2613.4 172,735,841 510.2
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 50 2,149,384,014 2,881,348,115 3,136,584,981 731,964,101 34 255,236,866 8.8
Chi phí thuế TNDN hiện hành 51 - - 250,162,724 - - -
Chi phí thuế TNDN hoãn lại 52 - - - - - - -
Lợi nhuận sau thuế TNDN 60 2,149,384,014 2,881,348,115 2,886,422,257 731,964,101 34 5,074,142 0.17
Lãi cơ bản trên cổ phiếu 70
( Nguồn: Phòng kế toán Công ty CP may XK Việt Thái)
SV: Lê Thị Tâm GV: TS. Chu Thị Thủy
23
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh
nghiệp
- Lợi nhuận gộp: Được tính bằng chênh lệch giữa doanh thu thuần và giá vốn
hàng bán, tỷ suât lợi tức gộp bằng tỷ số % giữa lợi tức gộp với doanh thu thuần, do
đó tỷ suất gộp càng lớn càng tốt. Năm 2007 lợi tức gộp đạt 4,411,525,829 tr.đ và tỷ
tổng doanh thu của doanh nghiệp có xu hướng tăng lên rõ rệt. Doanh thu năm 2008
SV: Lê Thị Tâm GV: TS. Chu Thị Thủy
24
Luận văn tốt nghiệp Khoa Quản trị doanh
nghiệp
so với năm 2007 tăng với tỷ lệ 13,7% tương ứng với số tiền là 3,317,442,334
tr.đ.Doanh thu năm 2009 so với năm 2008 tăng 11,4% tương ứng với số tiền tăng
thêm là 3,141,231,493 tr.đ. Sự thay đổi này cho thấy công ty đã và đang phát triển
trên thị trường trong cũng như ngoài nước, do đó mà có thể nhận thấy tình hình tiêu
thụ của công ty có những chuyển biến rất tốt.
Đối với thị trường xuất khẩu: là một điểm mạnh của công ty, xuất khẩu
chiếm tỷ trọng khá lớn đối với công ty.Doanh thu từ xuất khẩu chiếm từ 80-
90%tổng doanh thu của công ty,hiệu quả kinh tế cao từ xuất khẩu, đặc biệt là việc
quyết định ngừng gia công và tự sản xuất, tìm thị trường tiêu thụ đã mang lại nguồn
lợi lớn cho công ty. Năng lực sản xuất của công ty/năm đạt: 650,000 sản phẩm, 3
năm công ty luôn đạt vượt mức kế hoạch xuất khẩu đề ra.
Đối với thị trường trong nước: Công ty đặc biệt chú trọng tới thị trường tiêu
thụ nôi địa trong những năm gần đây, tỷ lệ đóng góp từ hàng tiêu thụ nội địa ngày
càng tăng.
Có thể đánh giá một cách khái quát rằng công ty đã và đang phát triển trong
vài năm gần đây. Công ty đã và sẽ có những tiềm lực nội địa của chính bản than để
tiếp tục vươn lên trong tình hình cạnh tranh ngày càng khốc liệt, tạo một chỗ đững
vững chắc trên thị trường dệt may trong nước cũng như thế giới.
3.2.2. Ảnh hưởng nhân tố môi trường đến hiệu quả tiêu thụ sản phẩm may mặc
tại công ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái.
a) Các nhân tố thuận lợi
* Yếu tố thuận lợi từ nền kinh tế
Ngành dệt may Việt Nam là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng
nhanh và ổn định trong nhiều năm qua, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế- xã hội. Trong cạnh tranh quốc tế đây cũng là ngành có thế mạnh -Việt