Những biện pháp tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THCS Đào Xỏ -Thanh Thuỷ - Phỳ Thọ trong giai đoạn mới - Pdf 26

Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Con ngời từ khi xuất hiện và tiến hoá trở thành xã hội loài ngời trải qua biết bao thay
đổi. Từ cuộc sống bầy đàn đến các thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt cho đến khi con ngời
phát hiện ra năng lợng gió và nớc diễn ra với bao kỳ tích. Nhng đến thế kỷ XV - XVI và
đầu thế kỷ XVII nhân loại đã ghi nhận những thành tựu to lớn của những con ngời tài
năng và thiên tài. Đó là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật - giai đoạn rạng rỡ thời Phục
Hng sau những đêm dài trung cổ. Tên tuổi của các nhà bác học lừng danh sáng mãi
trong lịch sử loài ngời nh: Lêônađvinxi, Pecma, Côpecnic, Galilê, Niutơn... đến cuối thế
kỷ XVIII nhiều tài năng mới lại xuất hiện và đợc ghi nhận nh: Anhxtanh, PeriQuiri,
Eđixơn, Menđen,.... cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật này có sự đóng góp rất tích cực
và hiệu quả với tốc độ rất lớn của những ngời có tài. Họ đã trở thành động lực tiên
phong thúc đẩy tốc độ phát triển của xã hội. Chính vì vậy, bất kỳ quốc gia nào muốn có
nền công nghiệp tiến bộ, muốn đất nớc phồn vinh thì phải xác định cho mình chiến lợc
"Nhân tài".
Lịch sử nớc ta, ở mọi thời kỳ phát triển đất nớc đều xuất hiện ngời tài giỏi mà không
riêng chỉ ở dân tộc hay địa điểm nào. Trang sử vẻ vang của dân tộc còn ghi dấu ấn của
ngời tài đất Việt nh: Bà Trng, Bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Trãi, Hồ Chí
Minh,... Đặc biệt ở những thập niên gần đây, cũng nh nhiều Quốc gia trên thế giới, Việt
Nam đã nhìn nhận và đánh giá đúng vai trò của "Nhân tài". Đó chính là nguồn nhân lực
quý báu của đất nớc, động lực phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Điều này đã đợc
ghi trong Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII: Dân trí, nhân lực,
nhân tài là ba mục tiêu phát triển chiến lợc giáo dục hay: Con ngời là mục tiêu và
động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Từ những năm 90 vấn đề ngời tài (phát hiện
và bồi dỡng) đã đợc đa vào chơng trình nghiên cứu khoa học giáo dục tầm cỡ quốc gia
và đã đợc ghi trong Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là bớc chuyển
mạnh trong chính sách "Nhân tài" của Đảng ta. Đến Nghị quyết TW2 khoá VIII chiến
lợc phát triển con ngời đã đợc cụ thể hơn, giáo dục đợc coi là "Quốc sách hàng đầu".
Công tác giáo dục không chỉ nhằm cung cấp tri thức phát triển nhân cách cho học sinh
mà còn có nhiệm vụ phát triển và bồi dỡng nhân tài cho đất nớc. Qua nhiều thời kỳ phát
triển công tác bồi dỡng nhân tài ở các bậc học cũng có sự xoay vần, thay đổi. Trong tình

3.2. Phân tích và đánh giá thực trạng về tổ chức bồi dỡng học sinh giỏi trờng THCS
Đào Xá - Thanh Thuỷ - Phú Thọ
3.3. Đề xuất một số biện pháp có tính khả thi nhằm tổ chức bồi dỡng học sinh giỏi ở
trờng THCS Đào Xá - Thanh Thuỷ - Phú Thọ .
4. Khách thể và đối tợng nghiên cứu
4.1. Khách thể
Công tác chỉ đạo bồi dỡng học sinh giỏi của Hiệu trởng trờng THCS Đào Xá-
Thanh Thuỷ - Phú Thọ
4.2. Đối tợng
2
Các biện pháp tổ chức bồi dỡng học sinh giỏi ở trờng THCS Đào Xá -Thanh Thuỷ
- Phú Thọ
5. Phơng pháp nghiên cứu
5.1. Nhóm phơng pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu tài liệu.
- Các Văn kiện của Đảng.
- Phơng pháp phân tích tổng hợp.
5.2. Nhóm phơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phơng pháp điều tra.
- Phơng pháp nghiên cứu kinh nghiệm quản lý giáo dục.
- Phơng pháp quan sát.
5.3. Nhóm phơng pháp hỗ trợ
- Phơng pháp thống kê.
- Phơng pháp toán học.
6. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu Các biện pháp tổ chức bồi d ỡng học sinh giỏi ở tr-
ờng THCS Đào Xá -Thanh Thuỷ - Phú Thọ
7. Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm 3 phần:
* Phần mở đầu.

- Thiên tài (Genius) là trình độ tột đỉnh của năng lực.
* Năng khiếu: Thờng đợc hiểu là mầm mống của tài năng. Nó là hệ thống tiền đề bên
trong dựa trên những t chất bẩm sinh di truyền và những yếu tố đợc hình thành trong đời
sống cá thể của con ngời, cho con ngời khả năng giải quyết đợc một yêu cầu nhất định
nào đó. Năng khiếu đợc phát hiện sớm và bồi dỡng có hệ thống sẽ phát triển và có thể
đạt tới đỉnh cao của nó là tài năng. Hay nói cách khác năng khiếu là tín hiệu của tài
năng.
Nh vậy năng lực đợc hình thành và phát triển trong hoạt động. Tham gia hoạt
động là phơng thức cơ bản để phát triển năng lực. Không tổ chức hoạt động thì năng lực,
năng khiếu không phát triển đợc thậm chí còn mai một, thui chột đi. hoạt động dạy học,
giáo dục là hoạt động tổ chức cho trẻ em hoạt động nên nó có tác dụng hết sức lớn lao
trong sự phát triển năng lực, năng khiếu.
4
* Học sinh giỏi, học sinh năng khiếu:
Chất lợng học tập của học sinh giỏi không chỉ thể hiện và đánh giá bằng điểm số
qua các bài kiểm tra, bài thi mà quan trọng hơn cả là các em trởng thành phát triển nh
thế nào? Các em có đợc phẩm chất gì của nhân cách đang hình thành, các em có đợc
năng lực gì để tiếp tục học tập và phát triển. Vì thế không nên so sánh học sinh này với
học sinh khác, học sinh trờng này với học sinh trờng khác mà chỉ nên đối chiếu với mục
tiêu giáo dục để tạo điều kiện để động viên các em học tập theo hớng học sinh nào cũng
chăm ngoan tiến bộ.
Học sinh năng khiếu là học sinh có khả năng cao ở một số môn nào đó mà không
cần giàng buộc bởi sự phát triển cao ở các mặt khác. Vì vậy Học sinh giỏi nói trong
đề tài trớc hết là học sinh có xếp loại học lực giỏi và có năng khiếu về môn văn hoá hay
nghệ thuật nào đó.
1.2. Công tác đào tạo tinh hoa trí tuệ ở Quốc tế.
Đào tạo tinh hoa trí tuệ và sử dụng hữu hiệu tinh hoa đó là một trong những yếu tố
quan trọng nhất để tạo lập và duy trì ở mức độ cao nhất tiềm năng khoa học, kinh tế, văn
hoá và xã hội của mỗi quốc gia.
Trên thế giới đang tồn tại hai con đờng cơ bản để đào tạo "Ngời tài". Con đờng thứ

vào hệ thống ấy đồng thời họ đề ra những nguyên tắc phù hợp và thực thi sáng tạo. Hệ
thống đào tạo ngời tài ở Mỹ không những chỉ định hớng phát hiện tài năng và đào tạo
mọi điều kiện thích hợp cho tài năng phát triển. Chính vì vậy họ không bỏ sót tài năng,
đảm bảo cho các mầm mống tài năng đều đợc phát hiện và phát triển. Đảm bảo tăng tr-
ởng thờng xuyên về số lợng và đa dạng hoá "Ngời tài". Nhng điểm nổi trội hơn ở việc
đào tạo "Ngời tài" ở Israel là khắc phục khoảng cách giữa học sinh có năng khiếu và
học sinh bình thờng, giữa học sinh năng khiếu với thực tế cuộc sống nhằm song song
đạt hai mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách học sinh có năng khiếu và xây dựng một
xã hội tơng lai.
Nhìn vào hệ thống giáo dục ở Việt Nam thì thấy chúng ta chú trọng giáo dục đại
trà, phổ cập hoá. Trên cơ sở đó phát hiện, bồi dỡng học sinh có năng khiếu trong suốt hệ
thống phổ thông và đào tạo chuyên sâu các tài năng ở hệ thống đại học và sau đại học.
Chính sách và mức độ đầu t cho giáo dục ở nớc ta là cha nhiều so với các cờng quốc
trên thế giới song cũng là một cố gắng rất cao so với thu nhập quốc dân. Điều này đã
phần nào thể hiện rõ tính u việt trong chính sách "Ngời tài" của nớc ta. "Ngời tài" trong
nớc không bị bỏ sót, đợc phát triển trong điều kiện tốt nhất của đất nớc. Cho nên nhiệm
vụ phát hiện và bồi dỡng học sinh giỏi của các trờng, đặc biệt là trờng THCS là cần thiết
và đợc coi là nhiệm vụ song song với nhiệm vụ dạy học và giáo dục đại trà.
1.3. Cơ sở khoa học của việc phát hiện, tuyển chọn và bồi dỡng học sinh giỏi
1.3.1. Tiêu chuẩn chung của một học sinh năng khiếu:
Tuyển chọn học sinh năng khiếu là bớc đầu tiên của quá trình bồi dỡng tài năng.
Khi nắm vững đợc tiêu chuẩn của một tài năng, những biểu hiện của năng khiếu ta mới
làm đợc công việc tuyển chọn có hiệu quả. Qua nghiên cứu, phân tích nhiều tài năng
6
khác nhau trên nhiều lĩnh vực ngời ta thấy: ngoài năng lực đặc thù trên từng lĩnh vực
những ngời tài năng đều có một số nét chung giống nhau, đợc quy vào ba tiêu chuẩn
sau:
+ Thông tuệ: những ngời tài năng thờng thông minh trí tuệ phát triển, có năng lực
t duy tốt. Họ tiếp thu vấn đề nhanh, nhớ lâu. Họ có khả năng suy diễn, quy nạp, khái
quát hoá, trừu tợng hoá, ... tốt.

cực kỳ quan trọng. Nhng ảnh hởng của bố mẹ, bạn bè và nhất là thầy cô giáo có tính
chất quyết định.
* Giai đoạn 3: từ 30 tuổi đến hết đời
Đây là giai đoạn tài năng đợc thể hiện, đợc sử dụng trong thực tế mang lại kết
quả các cống hiến cụ thể. Trong giai đoạn này vài trò của môi trờng vĩ mô nh: đờng lối,
chính sách, cơ chế, chế độ, cách thức quản lý chỉ đạo... của nhà nớc, xu thế dân tộc và
thời đại đặc biệt có tác động và ảnh hởng tới việc phát triển sức sáng tạo và cống hiến
tài năng của mỗi ngời.
Ba giai đoạn trên đây kế tiếp, đan xen, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Vì vậy
mỗi giai đoạn cần có chủ trơng, phơng pháp, biện pháp tốt và tác động đúng lúc, kịp
thời để năng lực của từng cá nhân phát triển, nảy nở. Ngợc lại, nếu thực hiện không tốt
các mầm mống của năng khiếu và tài năng sẽ có nguy cơ bị thui chột hoặc mai một đi.
2. Cơ sở pháp lý:
Trong Văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã đề cập đến "Dân trí,
nhân lực, nhân tài". ở các Đại hội Đảng khoá VIII và khoá IX vấn đề "Ngời tài" càng
đợc quan tâm và cụ thể hoá hơn.
Trong Luật giáo dục có nêu rõ Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự
nghiệp của nhà nớc và của toàn dân. Để phát triển sự nghiệp giáo dục tăng cờng hiệu
lực quản lý nhà nớc về giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dỡng
nhân tài phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, đáp ứng yêu cầu xây dựng và
bảo vệ tổ quốc vì mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh .
Nh vậy việc tổ chức bồi dỡng học sinh giỏi ở các nhà trờng là thực hiện đúng chủ
trơng, đờng lối, chính sách của Đảng và nhà nớc góp phần vào việc đào tạo nhân tài cho
đất nớc.
3. Cơ sở thực tiễn:
Trải qua các thời kỳ lịch sử của nhân loại cho ta thấy vai trò của "Ngời tài" đặc biệt
quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Những ngời tài giỏi bằng năng lực và sáng
tạo của mình đã để lại biết bao công trình nghiên cứu, những phát minh, những giá trị về
vật chất và tinh thần. Nớc Việt Nam ta ngay từ thời phong kiến đã chú trọng ngời hiền
tài và ngày nay trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc nhất là trong nền

nào? ...
Từ những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nớc bậc THCS ( lúc đó gọi là cấp 2) đã
tổ chức cuộc thi chọn học sinh giỏi toàn miền Bắc. Nhiều học sinh đạt giải cao ở các
môn thi Toán hoặc Văn. Sau này dần dần việc tổ chức thi học sinh giỏi quốc gia từng
môn riêng rẽ đã biến cuộc thi từ phơng tiện để động viên học tập thành mục đích của
các lớp chuyên, trờng chuyên. Điều tai hại là học sinh ở những lớp chuyên đó chỉ đi sâu
vào một môn nên các em bị học lệch, mất tính giáo dục toàn diện.
Từ năm học 1998 - 1999 bậc THCS không có cuộc thi câp quốc gia nữa, chỉ còn
các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh (thành phố), huyện (quận). Công tác bồi dỡng học
sinh giỏi ở các địa phơng ra sao để vẫn đáp ứng đợc chính sách ngời tài của Đảng và nhà
nớc nhng vẫn đảm bảo giáo dục toàn diện của một bậc học là cái mới trong giai đoạn
hiện nay.
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status