SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“ MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 8 HỌC TỐT TIẾT
ĐỌC HIỂU TIẾNG ANH ”
1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, việc học ngoại ngữ ở các trường phổ thông được phổ
biến khá rộng rải và được xem là môn học chính khố với số tiết khá cao 3 tiết /tuần. Vậy
làm thế nào để nâng dần phương pháp dạy và học là một nhu cầu thiết yếu không chỉ đối
với người học mà đặc biệt là đối với những người đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Anh
văn.
Nghe, nói, đọc, viết được tiếng Anh một cách thành thạo sẽ giúp chúng ta dễ dàng
tiếp cận với tin học, khoa học công nghệ và sẽ rất thuận lợi trong việc giao tiếp. Đặc biệt
phân môn đọc hiểu là một trong những kỹ năng cơ bản được chú trọng trong quá trình
dạy và học ngoại ngữ. Vì vậy nếu học sinh có khả năng đọc hiểu tiếng Anh tốt thì các em
có thể đọc hiểu được sách, báo, tài liệu bằng tiếng Anh với những nội dung phù hợp với
trình độ và lứa tuổi của học sinh, giúp học sinh có điều kiện thu nhận thông tin, nâng cao
trình độ tiếng Anh, và có thể hiểu biết thêm về xã hội. Trong một tiết đọc hiểu giáo viên
không chỉ đơn thuần giúp học sinh hiểu được ngữ liệu trong mỗi đoạn văn mà còn phải
biết vận dụng một cách linh hoạt các thủ thuật, sao cho phù hợp với nội dung cụ thể của
2
từng bài để gây hứng thú cho học sinh và tạo ra những hoạt động luyện tập giúp học sinh
thực hành tốt hơn. Tuy nhiên phần lớn học sinh rất ngại luyện tập. Nguyên nhân là do
tiếng Anh hồn tồn khác với tiếng mẹ đẻ, khó học, khó nhớ. Đọc bằng tiếng mẹ đẻ dễ hơn
đọc bằng tiếng nước ngồi vì học sinh không gặp khó khăn trong việc hiểu nội dung bài.
Còn khi đọc bằng tiếng nước ngồi nhất định học sinh sẽ gặp phải những từ và cấu trúc
ngữ pháp mới. Đọc bằng tiếng Anh còn khó hơn nhiều do sự khác nhau giữa chữ viết và
cách phát âm. Hơn nữa cuộc sống người dân còn khó khăn, họ thiếu quan tâm đến việc
học tập của các em ở trường cũng như ở nhà, vốn từ vựng của các em quá ít vì các em
lười học từ vựng, chuẩn bị bài ở nhà quá sơ sài, các em lạm dụng sách hướng dẫn học tốt
dẫn đến việc lười tư duy, học đối phó nhất là những học sinh yếu kém vì sợ nói sai nên
S
ỉ
Giỏi K
há
Trung
bình
Yế
u
Ké
m
s
ố
S
L
T
L%
S
L
T
L%
S
L
T
L%
S
L
T
L%
S
L
Vấn đề được đặt ra là làm thế nào để tạo không khí học tập sôi nổi, tránh những tiết
học buồn chán, tạo thế chủ động và tự tin cho học sinh bằng các hoạt động vui tươi, gần
gủi và cụ thể, khuyến khích và khơi dậy ở học sinh khả năng tham gia vào bài học trên
lớp một cách tích cực nhất.
PHẦN II : GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN :
5
Trước khi tiến hành một bài đọc hiểu điều trướctiên tôi muốn nói là sự chuẩn bị ờ
nhà của giáo viên và học sinh.
*Bước chuẩn bị của giáo viên :
- Xác định mục tiêu tiết dạy, điều học sinh đạt được sau tiết dạy.
- Lựa chọn phương pháp thủ thuật thích hợp nhất là áp dụng vào tiết dạy.
- Giáo án, đồ dùng dạy học cần thiết.
Ngồi ra giáo viên cần phải quan tâm những điều sau :
- Đối tượng học sinh, điểm mạnh, điểm yếu, vốn kiến thức và kỹ năng đã có.
- Sữ dụng thành thạo các thủ thuật dạy học cũng như các phương tiện trực quan và
các phương tiện dạy học sẽ dùng vào bài.
- Các dạng bài tập theo trình tự từ dễ đến khó, những bài tập, câu hỏi nào dành cho
học sinh yếu, bài nào dành cho học sinh trung bình, khá, giỏi
- Phân bố thời gian hợp lý cho tiết dạy.
*Bước chuẩn bị của học sinh :
- Học thuộc bài cũ
- Học sinh soạn trước từ vựng và chép vào tập bài soạn mỗi từ 5 lần để cho các em
quen trước mặt chữ, tập đọc và dịch bài ở nhà. Ngồi việc trả lời các câu hỏi trong sách
giáo khoa học sinh còn phải tự soạn một số câu hỏi và trả lời theo nội dung của bài.
Trong tiết đọc hiểu, vai trò của người giáo viên chỉ là hỗ trợ, gợi ý hướng ra yêu
cầu và kiểm tra, còn học sinh phải tự học, chủ động nắm bắt nội dung. Tiết học có thể
tiến hành theo ba giai đoạn sau :
+ Trước khi đọc ( Pre- reading )
6
+ Trong khi đọc ( While - reading )
7. The village held its harvest festival.
2/ Các hoạt động trong khi đọc :
- Mục đích chính của hoạt động này là để:
+ Giúp cho học sinh hiểu được nội dung bài đọc.
- Để thực hiện hoạt động trong khi đọc:
+ Giáo viên cho học sinh mở sách ra đọc lại từng câu theo giáo viên, chú ý sữa lỗi
phát âm.
+ Giáo viên đọc từng câu, giải thích câu trúc ngữ pháp để học sinh hiểu rõ nội dung
bài hơn.
+ Cho học sinh đọc thầm bài.
+ Giáo viên gọi học sinh đọc cá nhân
8
+ Giáo viên cho học sinh luyện tập. Các hoạt động luyện tập ở giai
đoạn này là để tìm hiểu và khai thác nội dung bài. Tùy theo mục đích, nội dung từng bài
có thể có những dạng câu hỏi và yêu cầu khai thác khác nhau. Các bài tập ở giai đoạn này
có thể dùng các dạng sau :
2.1 : True/ False :
- Kỹ thuật này được sử dụng cho giai đoạn while -reading.
- Giáo viên viết một số câu lên bảng trong đó có một nữa số câu đúng, một nữa số
câu sai.
- Học sinh đọc bài khố hoặc nghe băng để xem câu nào đúng ta đánh ( T ), câu nào
sai ta đánh ( F ).
* Ví dụ: Unit 3 – Read. P31.
a/ It is safe to leave medicine around the house. …F…
b/ Drugs can look like candy. ……….
c/ A kitchen is a suitable place to play. ……….
d/ Playing with one match can not start a fire. ……….
2.2/ Gap fill :
- Giáo viên viết lên bảng phụ một đoạn văn ngắn hay một số câu còn để vài khoảng
trống. Khoảng trống có thể từ vựng hay ngữ pháp hay cũng có thể là phối hợp. Đoạn văn
a/ three b/ all c/ four d/ none
2/ Khai and Song ………
a/ like quiet places. b/ don’t talk much in puplic.
c/ dislike school. d/ enjoy sport.
2.5: Answer the questions on the text:
Các loại câu hỏi đọc hiểu rất đa dạng và khác nhau có thể trả lời bằng các thông tin
lựa chọn trong bài, hoặc câu hỏi đòi hỏi sự suy luận đánh giá để trả lời.
Trong lúc dạy đọc giáo viên có thể đọc từng câu hỏi xoay quanh nội dung câu đó,
hoặc giáo viên có thể cho học sinh đọc hết đoạn văn rồi đặt một loạt câu hỏi. Căn cứ vào
nội dung câu hoặc đoạn văn đó giáo viên có thể biến đổi nhiều dạng câu hỏi khác nhau.
- Yes/ No question.
- Or question.
- “Wh” question.
Giáo viên có thể chọn lựa áp dụng các dạng bài tập này tùy nội dung từng bài và
thay đổi hình thức để học sinh không thấy nhàm chán. Giáo viên có thể khuyến khích học
sinh tham gia phát biểu thành nhiều hình thức: Chọn câu thích hợp cho từng đối tượng,
khen hoặc cho điểm khi học sinh nói đúng, động viên các em cố gắng suy nghĩ thêm nếu
làm sai.
* Ví dụ : Unit 4 – Read. P42.
1. Who was Little Pea ?
11
2. How did Little Pea get her new clothes ?
3. Who did the prince decide to marry ?
4. Is this a true story ? How do you know ?
3/ Các hoạt động luyện tập sau khi đọc :
Sau khi học sinh đọc và làm các bài tập đọc hiểu giáo viên có thể cho tiến hành các
bài tập đòi hỏi phải có sự thông hiểu. Tổng quát của tồn bài, liên hệ thực tế, chuyển hố
vốn kiến thức, nhận thức hoặc thông tin, dữ liệu vừa nhận được qua bài học. Có thể áp
dụng các hình thức bài tập sau :
3.1/ Arrange the events in order :
sữa lỗi các câu trên bảng.
3.4: Retell the content of the text :
Giáo viên có thể khuyến khích học sinh nói hoặc viết tóm tắt đoạn văn hoặc cả bài
đọc. Lúc đầu giáo viên có thể hướng dẫn học sinh làm tóm tắt bằng cách cho học sinh trả
lời một loạt các câu hỏi nối tiếp nhau về nội dung để các câu trả lời có thể làm thành dàn
13
bài gồm những ý chính của đoạn văn. Hoặc giáo viên có thể viết những từ cốt lõi của
đoạn văn lên bảng để học sinh theo đó nói hoặc viết bản tóm tắt.
Với các hoạt động luyện tập trên tôi nhận thấy học sinh thích học tiết đọc hiểu hơn,
tích cực tham gia xây dựng bài hơn, hiểi bài rõ hơn. Kết quả học sinh có thể tái tạo hhoặc
kể lại được nội dung bài. Trong các bài kiểm tra sau này phần đọc hiểu của các em làm
tốt hơn.
PHẦN III. KẾT QUẢ CHUYỂN BIẾN ĐỐI TƯỢNG:
Thông qua kết quả đã đạt được ở cuối học kỳ I năm học 2006-2007 hiệu quả công
việc đã thể hiện khá rõ, phần lớn các em cảm thấy thích thú hơn khi học bộ môn này và
kết quả học tập ở môn này của các lớp đựơc thống kê như sau :
L
ớp
S
ỉ
Giỏi K
há
Trung
bình
Yế
u
Ké
m
s
ố
3
3
3
2 8 1
1
9 3
Như vậy số học sinh khá, giỏi tăng thêm, số học sinh trung bình , yếu, kém giảm.
Tuy kết quả còn nhiều hạn chế song kỹ năng đọc hiểu của học sinh được nâng lên khá rõ,
đặc biệt là tăng cường mức độ tham gia đóng góp xây dựng bài của học sinh tạo được
14
không khí học tập phấn khởi. Hạn chế rất nhiều những học sinh thờ ơ với bộ môn, nêu
cao tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong giờ học ngoại ngữ.
KẾT LUẬN
Đây chỉ là một trong những phương cách đơn giản, mang tính chất cá nhân, nhằm
tạo ra các tình huống, bối cảnh sinh động làm phong phú và đa dạng hóa các phương
pháp giảng dạy bộ môn Anh văn nói chung, cách tổ chức luyện tập trên lớp nói riêng.
Tuy nhiên khi áp dụng nó còn có những nhược điểm sau :
- Dễ gây ồn ào làm ảnh hưởng đến các phòng học bên cạnh.
- Sẽ làm mất nhiều thời gian nếu học sinh không tự giác.
Để khắc phục tình trạng trên, người thầy cần quy định thời gian cho từng loại bài
tập, cung cấp đầy đủ các ngữ liệu cần thiết, có mẫu, quan trọng là có sự theo dõi bao quát
chung và hỗ trợ kịp thời của giáo viên. Cuối cùng nhận xét, góp ý kiến, chữa lỗi và ra
mẫu đúng, tuyên dương nếu thấy có tiến bộ.
Trong khuôn khổ nội dung bài viết này, đối tượng áp dụng chủ yếu là ở học sinh
thuộc cấp II. Nó sẽ mang hiệu quả cao hơn khi người thầy có sự chuẩn bị tốt và học sinh
làm việc một cách tự giác.
Sẽ không có phương pháp nào tối ưu, vì thế tùy theo mục đích và yêu cầu của tiết
dạy, giáo viên có thể lựa chọn sao cho phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất.
Tuy đã có rất nhiều cố gắng, song chắc hẳn vẫn còn nhiều thiếu sót nhất định. Tôi
rất mong được sự đóng góp ý kiến chân thành nhất của các đồng nghiệp, các cấp lãnh đạo