SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO XÚC CẢM LỊCH SỬ TRONG DẠY
HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954-1975"
1
A.PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.Cơ sở lí luận
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Thực hiện lời dạy đó của chủ tịch Hồ Chí Minh, bộ môn Lịch sử đã được Nhà
nước và Chính phủ ta quan tâm chú trọng đưa vào chương trình giảng dạy cho học sinh từ
cấp tiểu học và cũng để môn học này phát huy được vai trò là “cô giáo của cuộc sống”.
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ
nước, đặc biệt giai đoạn 1954 – 1975, giai đoạn hào hùng nhất của lịch sử dân tộc Việt
Nam. Trong giai đoạn này, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến chống Mĩ
cứu nước, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại nhiều chiến lược chiến tranh của Mĩ : chiến
lược Chiến tranh đơn phương, Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa
chiến tranh và Đông Dương hóa chiến tranh. Những chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta
trước kẻ thù được coi là lớn mạnh nhất trên thế giới lúc bấy giờ và cho đến tận ngày nay
đã nâng cao vị thế của dân tộc ta trên trường quốc tế. Hơn khi nào hết, nhân dân Việt
Nam luôn phải khắc sâu trong mình khí thế của một thời đại anh hùng đó. Tuy nhiên, có
một thực trạng đáng buồn hiện nay là chất lượng giáo dục nói chung, bộ môn lịch sử nói
riêng ngày càng bị giảm sút. Trong giai đoạn xã hội phát triển nhanh theo hướng hiện đại
hóa, cơ chế thị trường đã làm xuất hiện lối sống thực dụng, một bộ phận không nhỏ học
sinh ở trường phổ thông không còn coi trọng kiến thức lịch sử, dẫn đến việc học sinh học
chống đối, học trước quên sau, có thái độ hời hợt khi học lịch sử. Bộ môn lịch sử bị mất
dần vị trí, trở thành môn học phụ trong khi trước đây lịch sử là môn học quan trọng để
tuyển chọn nhân tài, muốn đỗ đạt ra làm quan giúp nước phải “sôi kinh nấu sử”. Do đó,
một bộ phận không nhỏ giới trẻ ngày nay quên mất khí thế hào hùng của dân tộc, không
còn thấy được công lao to lớn của cha ông đã ngã xuống để có được nền hòa bình độc lập
Qua quá trình giảng dạy của bản thân và dự giờ đồng nghiệp ở trường phổ thông nơi
tôi công tác, tôi nhận thấy các giáo viên đã ý thức được vai trò của việc sử dụng các biện
pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học lịch sử nói chung và dạy học lịch sử dân tộc nói
riêng để nhằm nâng cao chất lượng bộ môn. Nhưng xúc cảm là một lĩnh vực khó và tinh
tế của con người nên việc sử dụng các biện pháp tạo xúc cảm còn gặp nhiều khó khăn.
Việc tạo xúc cảm lịch sử cho học sinh, các giáo viên sử dụng biện pháp trình bày
miệng là chủ yếu nhưng việc trình bày miệng chưa đem lại hiệu quả cao vì lời nói của
giáo viên chưa sinh động, chưa gợi cảm., những câu chuyện, nội dung trình bày chưa
thực sự tạo xúc cảm cao.
Một số giáo viên có sử dụng đồ dùng trực quan để tạo hứng thú học tập cho học sinh,
tuy nhiên nhiều đồ dùng trực quan còn chưa phù hợp với nội dung bài học. Giáo viên có
khi chỉ đưa ra hình ảnh mà chưa cung cấp cho học sinh kiến thức lịch sử qua hình ảnh đó
và cũng chưa rút ra ý nghĩa mang tính giáo dục tư tưởng.
3
Về phía học sinh: Đa số học sinh rất ngại học lịch sử vì quá dài, khó nhớ các sự kiện
và nhàm chán, khô khan. Mặc khác, trong sự phát triển của xã hội, đa số học sinh coi
Lịch sử là bộ môn phụ, các em còn để giành thời gian cho các môn học chính, môn dự thi
vào Đại học, cao đẳng. Học sinh có học cũng chỉ mang tính chất đối phó với các bài kiểm
tra thường xuyên và kiểm tra định kì nên chất lượng không cao.
Thực tế, tôi đã tiến hành khảo sát, điều tra 3 lớp 12 tôi giảng dạy ( 126 học sinh
trường THPT Ba Vì) thông qua bài khảo sát chất lượng đầu năm và thu được kết quả như
sau:
LỚP SĨ SỐ GIỎI KHÁ TRUNG BÌNH YẾU, KẾM
12A5 43 1 9 23 10
12A8 41 0 10 26 5
12A9 42 2 15 23 2
Từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên, bản thân tôi là một giáo viên dạy lịch sử đã luôn
cố gắng tìm tòi, nghiên cứu và thử nghiệm để đổi mới phương pháp dạy học nâng cao
chất lượng giảng dạy. Tôi nhận thấy, việc sử dụng các biện pháp tạo xúc cảm lịch sử có
tác dụng không nhỏ đến quá trình tiếp thu tri thức, giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức
đấu vừa sản xuất (1965 – 1973)”; Bài 23 “Khôi phục và phát triển kinh tế- xã hội ở miền
Bắc,giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973-1975)” thuộc chương IV, phần 2 Lịch sử Việt
Nam từ năm 1919 đến năm 2000 chương trình Lịch sử lớp 12 (Chương trình chuẩn).
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà tôi áp dụng cho đề tài là học sinh lớp 12A5, 12A8,
12A9 - Trường THPT Ba Vì – Huyện Ba Vì- Thành phố Hà Nội
B. NỘI DUNG
I. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO XÚC CẢM LỊCH SỬCHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1975
1.Những xúc cảm có thể tạo ra cho học sinh thông qua việc giảng dạy lịch sử Việt
Nam giai đoạn 1954 - 1975
- Thông qua việc tìm hiểu về diễn biến, kết quả của cuộc chiến tranh có thể tạo cho
học sinh thái độ căm thù chiến tranh, mong muốn bảo vệ hòa bình, có thể đánh giá được
vai trò lãnh đạo của Đảng và củng cố niềm tự hào dân tộc.
- Thông qua các biểu tượng sinh động cụ thể, những câu chuyện hay hình ảnh về
tội ác chiến tranh do đế quốc Mĩ, quân đội tay sai và các nước thân Mĩ gây ra, hậu quả
của nó đối với nhân dân Việt Nam sẽ tác động mạnh đến tư tưởng tình cảm của học sinh.
5
- Thông qua các câu chuyện, các tấm gương anh hùng giáo dục cho các em lòng biết
ơn, từ đó ý thức được trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước
2.Một số biện pháp tạo xúc cảm học tập lịch sử cho học sinh qua dạy học lịch sử Việt
Nam giai đoạn 1954 – 1975
2.1. Thông qua trình bày miệng của giáo viên.
Lời nói là phương tiện dạy học quan trọng nhất của giáo viên, lời giảng của giáo
viên là nguồn kiến thức sinh động nhất tác động mạnh mẽ đến tư duy và tình cảm, khơi
dậy những xúc cảm tích cực của học sinh. Ngôn ngữ sẽ giúp cho người giáo viên hoàn
thành tốt các nhiệm vụ dạy học lịch sử về cả ba mặt: kiến thức, kỹ năng và tư tưởng thái
độ của học sinh, khơi dậy trong các em các xúc cảm lịch sử. Bởi vậy, “ngôn ngữ rõ ràng,
giàu hình ảnh, hấp dẫn của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn tới trí tuệ và trái tim học sinh”.
Ví dụ 1: Bằng giọng nói truyền cảm để tường thuật hoặc miêu tả, tạo biểu
Bài 22: Khi giảng đến mục IV.2. Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá
hoại, vừa sản xuất và làm nghĩa vụ hậu phương, tôi sử dụng câu chuyện về anh hùng diệt
máy bay B52 – Phạm Tuân :
“Đêm 27 – 12 – 1972, nhiều tốp B52 từ hướng tây bắc bay vào bắn phá Hà Nội.
Được lệnh cất cánh, Phạm Tuân lập tức điều khiển máy bay tiếp cận khu vực có máy bay
địch Lúc này máy bay F4 bay ở nhiều độ cao, bảo vệ B52 rất chặt chẽ. Anh dũng cảm
xông thẳng vào tốp B52, bắn 2 quả tên lửa, hạ tại chỗ một chiếc. Sau đó, anh nhanh
chóng vượt khỏi tốp máy bay yểm trợ của địch về hạ cánh an toàn. Hành động của anh
được nhân dân và đồng đội mến phục, quân thù khiếp sợ”
Bài 23: Ở mục IV. 1. Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu
nước(1954-1975), tôi kể cho học sinh nghe chiến công của nữ anh hùng La Thị Tám: La
Thị Tám quê ở Hà Tĩnh, 1967, khi vừa tròn 18 tuổi, La Thị Tám gia nhập đội thanh niên
xung phong và được biên chế vào đơn vị chủ lực 2- Giao thông vận tải đóng tại xã Đồng
Lộc. Chị được giao nhiệm vụ đứng trên một quả đồi cao, phía trái của ngã ba Đồng Lộc
vào những lúc máy bay Mĩ ném bom để đếm số lượng bom kẻ thù trút xuống. Sau khi
máy bay Mĩ vừa đi là chị chạy xuống cắm tiêu đánh dấu cho công binh đến phát nổ. Suốt
200 ngày đêm ròng rã, chị đã cắm tiêu được số lượng bom lớn : 1205 quả. 1969 chị được
phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang khi mới tròn 20 tuổi và là nguyên
mẫu nữ nhân vật trong bài hát “ Người con gái Sông La ” của nhạc sĩ Doãn Nho.
Với một giọng điệu tường thuật mẩu chuyện, từ cung cấp sự kiện, tôi tạo ra cho học
sinh cảm xúc thích thú trước những hiểu biết mới sâu sắc, có ấn tượng mạnh mẽ. Những
xúc cảm này không thể có được nếu bài tường thuật khô khan, thông báo vắn tắt sự kiện.
Ví dụ 2: Đọc những đoạn văn, thơ ngắn minh họa cho bài học.
Bài 23: Ở mục IV.1. Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu
nước(1954-1975),tôi trích dẫn đoạn thơ:
“ … Xẻ dọc trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai…”
( Ra trận – Tố Hữu)
7
Hay câu thơ :
biệt” của Mĩ, khi nói về cuộc đấu tranh của tín đồ Phật giáo chống chính quyền Mĩ –
Diệm , tôi sử dụng hình ảnh Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tạo cho học sinh ấn
tượng sâu sắc về sự kiện lịch sử này, giúp các em nhớ lâu và nắm chắc kiến thức: Tháng
8
5-1963, chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành lệnh cấm việc treo cờ Phật giáo vào ngày lễ
Phật Đản. Ngày 11-6-1963, khoảng 350 hòa thượng và ni cô tiến hành diễu hành lên án
chính sách kì thị Phật giáo và đòi bình đẳng tôn giáo, Thích Quảng Đức ngồi trong chiếc
ô tô Austin Westmister dẫn đầu đoàn diễu hành . Sự việc diễn ra tại ngã tư đương phố Sài
Gòn, Thích Quảng Đức ra đi cùng với 2 nhà sư khác. Một người đặt 1 tấm đệm xuống
đường còn người kia mở ca bin xe và lấy ra một bình xăng dung tích 5 galon( gần 4l).
Đoàn diễu hành tạo thành nhiều lớp vòng tròn xung quanh, Thích Quảng Đức bình tĩnh
ngồi thiền trên tấm đệm. Hai nhà sư bắt đầu trút xăng lên đầu ông. Thích Quảng Đức lần
tràng hạt và bắt đầu niệm “ Nam Mô A Di Đà Phật” trước khi tự tay châm lửa bằng diêm.
Lửa nhanh chóng thêu rụi áo cà sa và da thịt của vị hòa thượng, khói đen bốc lên từ cơ
thể đang cháy bùng của ông . Chừng 10 phút sau thì lửa tàn, Thích Quảng Đức đổ gục
xuống đường. Sau khi chết, thi hài của Thích Quảng Đức đã được hỏa táng lại, nhưng trái
tim của ông không cháy mà vẫn còn nguyên, về sau được đặt trên một chiếc cốc rượu lễ
bằng thủy tinh tại chùa Xá Lợi. Giới phật tử coi đây là một điều thiêng, một biểu tượng
của lòng trắc ẩn và suy tôn ông thành một vị Bồ tát.
Ở bài 22: Mục I.2. Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ của Mĩ ”. Khi giảng
đến nội dung “ Những thắng lợi của ta trên mặt trận chính trị ”, tôi sử dụng bức hình
“Nhân dân Mĩ biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam, đòi quân Mĩ rút về nước”( hình
70- SGK Lịch sử 12).
9
Trước khi cung cấp cho các em những thông tin về bức hình này, tôi yêu cầu các em
quan sát hình và rút ra nhận xét. Tôi gợi ý để các em tự tìm hiểu nội dung qua các câu
hỏi: Người trong bức ảnh mà người dân Mĩ giơ cao là ai?, Dòng chữ trên bức ảnh đó có
nghĩa là gì ?. Các em có thể nhận ra, đó là tổng thống Mĩ Giônxơn và dòng chữ đó có
xuất và làm nghĩa vụ hậu phương, tôi giới thiệu về sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ qua
hình ảnh “Pháo đài bay” - Máy bay B52: Khi mới ra đời B52 được quảng cáo rùm beng:
“B52 là siêu pháo đài bay thượng đẳng, là thần tượng của Không lực Hoa Kỳ, là sản
phẩm hội tụ những thành tựu kỳ diệu nhất của nền công nghiệp hàng đầu thế giới, là thứ
vũ khí linh hoạt nhất trong bộ ba vũ khí chiến lược của Mỹ (Tên lửa tầm xa, tàu ngầm hạt
nhân, máy bay ném bom chiến lược)… B52 trút bom như mưa. Tiếng bom rơi xé không
khí, gầm rít ghê rợn như giông bão. Một phi vụ B52 có thể hủy diệt cả một khu vực rộng
lớn. Một tốp chiếc B52 sẽ biến một diện tích hơn 2 km
2
thành bình địa… không một sinh
vật nào có thể tồn tại nổi dưới sức công phá ghê gớm của bom B52. Đối phương sẽ bị
hủy diệt về quân sự, khiếp đảm về tinh thần, bởi vì họ cảm thấy hoàn toàn bất lực trước
12
sức mạnh tàn phá ghê gớm của B52 mà họ không có cách gì chống đỡ nổi. Nhưng thực tế
“B52 có hủy diệt được Việt Nam hay không?”, các em đã có câu trả lời của mình “ không
thể ”. Dân tộc Việt Nam với tinh thần đoàn kết và sức sống kiên cường đã đánh bại B52
của Mĩ, tôi sử dụng hình ảnh “Máy bay Mĩ rơi trên đường phố Hà Nội”để khắc họa thắng
lợi của nhân dân ta.
“Pháo đài bay” B52
Máy bay Mĩ rơi trên đường phố Hà Nội
Khi nói về tội ác của đế quốc Mĩ gây ra cho nhân dân Việt Nam, tôi sử dụng bức
ảnh “Kim Phúc trong trận bom napan của Mĩ ở Việt Nam” do Nick Ut chụp năm 1972,
bức ảnh ghi lại dấu ấn cả một thời đại và tố cáo tội ác kinh hoàng của chiến tranh, được
tờ Telegraph đánh giá là một trong mười bức ảnh có tác động làm thay đổi thế giới của
chúng ta. Trong bức ảnh là hình ảnh 5 đứa trẻ Việt Nam vẻ mặt khiếp đảm chạy trốn một
cuộc bỏ bom napalm. Đáng thương nhất là cô bé giữa khuôn hình – Kim Phúc – trần
truồng, gào khóc với cánh tay gầy gò xương xẩu. Bức ảnh chạm đến trái tim của những
người yêu hòa bình trên khắp thế giới. Tấm ảnh này đã góp phần thay đổi nhận thức của
nhiều người về cuộc chiến tranh mà Mĩ tiến hành ở Việt Nam, khiến phong trào phản
chiến thêm mạnh mẽ.
Có tuổi 20 thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm…”.
Từ những hình ảnh và qua lời giảng truyền cảm của giáo viên, các em thấy được
tinh thần chiến đấu kiên cường của quân dân ta, thấy được sức mạnh của nhân dân. Qua
đó, giáo dục các em lòng yêu nước, khâm phục trước sự hi sinh của các chiến sĩ cách
mạng, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc.
Ví dụ 2 : Sử dụng bản đồ, lược đồ các chiến dịch .
Bài 21: Mục III.2.Phong trào “ Đồng khởi ”(1959-1960), tôi sử dụng lược đồ
phong trào “Đồng khởi “ để giúp cho học sinh nắm được diễn biến của phong trào, đặc
biệt tôi chú ý nhấn mạnh cho các em thấy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào, từ 3 xã
của huyện Mỏ Cày lan ra toàn huyện, rồi cả tỉnh Bến Tre, lan ra các tỉnh Nam Bộ, Tây
Nguyên và Trung Trung Bộ. Qua đó cho các em thấy được sức mạnh to lớn của quần
chúng nhân dân và cũng là minh chứng khẳng định nhân dân miền Nam quyết tâm đoàn
kết cùng nhân dân cả nước đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước.
14
Bài 23: Mục III.2. Cuộc tổng tiến công và nồi dậy Xuân 1975, tôi sử dụng lược đồ
kết hợp tường thuật diễn biến của 3 chiến dịch. Học sinh được trực tiếp quan sát từng
diễn biến của chiến dịch một cách sinh động, cụ thể và làm khơi dậy ở các em khí thế hào
hùng, dũng mãnh và thần tốc của cuộc tổng tiến công và nổi dậy của nhân dân ta trong
những giây phút lịch sử trọng đại đó. Từ đó, toàn bộ các sự kiện, diễn biến của chiến dịch
sẽ được các em ghi nhớ bài ngay tại lớp và các em có thể trình bày lại toàn bộ diễn biến
chiến dịch theo bản đồ. Đồng thời, cùng với việc tìm hiểu diễn biến các chiến dịch, các
em nhận thức được sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhận định đúng thời cơ, đề ra chủ
trương, kế hoạch hợp lí, từ đó thấy được nguyên nhân quyết định nhất đến sự thắng lợi
của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng.
Ví dụ 3: Sử dụng sơ đồ làm dẫn chứng minh họa .
Bài 23: Ở mục IV.1. Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu
nước(1954-1975), tôi sử dụng sơ đồ “ Viện trợ của các nước XHCN cho Việt Nam dân
chủ cộng hòa”.
được kết quả khả quan. Tôi nhận thấy những kinh nghiệm này phù hợp với cuộc vận
động đổi mới phương pháp dạy học – lấy học sinh làm trung tâm của Bộ giáo dục và đào
tạo. Học sinh thấy hứng thú hơn trong học tập, tích cực, chủ động sáng tạo để mở rộng
vốn hiểu biết của mình đồng thời cũng linh hoạt trong việc lĩnh hội kiến thức. Không khí
học tập trở nên sôi nổi hơn, các em không còn thấy Lịch sử là môn học khô khan, nhàm
chán, khó ghi nhớ các mốc thời gian, sự kiện. Qua đó các em yêu thích môn Lịch sử hơn,
tỉ lệ học sinh khá, giỏi tăng lên, tỉ lệ học sinh yếu kém giảm .
Cụ thể, kết quả kiểm tra đánh giá học sinh cuối năm học ở 3 lớp 12 sau khi áp dụng
sáng kiến kinh nghiệm như sau:
LỚP SĨ SỐ GIỎI KHÁ TRUNG
BÌNH
YẾU, KẾM
12A5 43 5 19 18 1
12A8 41 3 20 18 0
12A9 42 8 23 11 0
16
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Chiến tranh đã qua đi hơn 30 năm nhưng những hậu quả mà nó để lại vẫn còn đó.
Thế hệ trẻ hôm nay, mặc dù không trực tiếp trải qua chiến tranh nhưng vẫn đang tìm hiểu
những gì xảy ra trong quá khứ qua từng trang sách. Cách đây không lâu cuốn nhật kí của
liệt sĩ Đặng Thùy Trâm xuất bản lần đầu đã được giới trẻ quan tâm . Họ đọc, họ say mê,
họ khóc…, cuốn sách ấy đã giúp họ hiểu hơn về lịch sử dân tộc, về chiến tranh, về những
con người anh hùng của dân tộc. Điều đó đã cho thấy thế hệ trẻ hôm nay không phải
không yêu lịch sử, không có cảm xúc mà vấn đề là làm thế nào để thế hệ trẻ yêu và hiểu
lịch sử.
Trong dạy học lịch sử, tạo xúc cảm cho học sinh có ý nghĩa quan trọng trong việc
khôi phục và mô tả hình ảnh quá khứ giúp cho các em có biểu tượng chính xác sinh động
về thời đại xa xưa. Khi đó tạo được xúc cảm tích cực đối với môn học lịch sử cho học
sinh sẽ là động cơ thúc đẩy các em trong quá trình học tập. Xúc cảm có sức mạnh to lớn
A. Phần mở đầu 1
18
I. Lí do chọn đề tài 1
II. Mục đích của sáng kiến 3
III. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
IV. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4
B. Nội dung 4
I. Một số biện pháp tạo xúc cảm lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam 5
giai đoạn 1954-1975
II. Thiết kế một giáo án cụ thể. 18
III. Kết quả thu được sau khi áp dụng đề tài 29
C. Kết luận - Kiến nghị 29
19