LuËn v¨n tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh về kinh tế, văn hóa xã hội là sự
bùng nổ, gia tăng không ngừng về số lượng cũng như chủng loại phương tiện
giao thông vận tải, đặc biệt là xe cơ giới. Điều đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc
đi lại của con người cũng như việc lưu thông hàng hóa được dễ dàng, thuận tịên
hơn. Đối với nước ta, giao thông đường bộ rất thông dụng và phổ biến, nó góp
phần không nhỏ vào việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển, hoàn thiện công tác
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển ồ ạt
của các loại phương tiện giao thông thì việc mở rộng, nâng cấp, xây mới đường
xá, cầu cống diễn ra chậm chạp, thêm vào đó tình trạng vi phạm luật lệ an toàn
giao thông diễn ra liên tục là nguyên nhân của các vụ tai nạn đau lòng gây ra
thiệt hại lớn về người và tài sản cho chính chủ xe cũng như toàn xã hội. Làm thế
nào để có thể giải quyết ổn thỏa về mặt tài chính, đảm bảo sự an tâm khi có tai
nạn giao thông xảy ra luôn là câu hỏi được các chủ xe quan tâm.
Sự ra đời của bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới là một nhu cầu
khách quan giúp cho các chủ xe ổn định cuộc sống, đảm bảo hoạt động sản xuất
kinh doanh trong trường hợp không may gặp những rủi ro bất ngờ. Đây là một
nghiệp vụ cơ bản được triển khai ở hầu hết các công ty bảo hiểm phi nhân thọ,
chính vì vậy sự cạnh tranh, giành giật thị trường diễn ra gay gắt. Để thực hiện
mục tiêu về doanh thu, lợi nhuận, thị phần…bên cạnh những chiến lược quản lý,
chiến lược kinh doanh thì chiến lược Marketing đóng một vai trò quan trọng.
Đây là hoạt động không thể thiếu được của mỗi công ty bảo hiểm cũng như công
ty bảo hiểm PJICO.
Để hiểu thêm về vai trò, tác dụng, chức năng của hoạt động Marketing
trong bảo hiểm nói chung cũng như trong bảo hiểm xe cơ giới nói riêng, tìm
hiểu thêm về hoạt động Marketing trong bảo hiểm xe cơ giới tại PJICO em đã
chọn đề tài “Hoạt động Marketing trong bảo hiểm xe cơ giới tại công ty cổ
phần bảo hiểm PETROLIMEX” để làm luận văn của mình
Luận văn ngoài lời mở đầu và kết luận em xin đi vào một số nội dung:
Chương I: Tổng quan về nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới và hoạt động
Ngày nay, khi mà khoa học kỹ thuật phát triển càng cao, vấn đề giao
thông vận tải càng được coi trọng: Nhiều công trình xây dựng cầu cống, đường
xá được đầu tư xây mới, tu bổ, cải tạo, đồng thời số lượng các phương tiện vận
tải như máy bay, tàu thuỷ, ô tô, xe máy… tham gia giao thông ngày càng nhiều.
Với sự đa dạng về loại hình giao thông, phương tiện tham gia giao thông, đã tạo
ra sự muôn hình muôn vẻ nói riêng của giao thông vận tải. Mỗi loại hình có
những đặc điểm riêng nhưng giao thông đường bộ là loại hình tiêu biểu nhất và
được đánh giá là quan trọng nhất với những đặc điểm cụ thể:
+ Giao thông đường bộ là loại hình giao thông với những tuyến đường
dày đặc, đan xen, nối liền với nhau từ địa phương này sang địa phương khác, từ
quốc gia này sang quốc gia khác tạo nên một sự lưu thông liên tục, liền mạch.
+ Hệ thống giao thông đường bộ toả ra khắp mọi nơi đồng thời có sự
phân cấp rõ rệt, từ hệ thống đường cao tốc đến những ngõ ngách rất nhỏ.
Chính vì vậy, đây là loại hình giao thông vừa đa dạng, vừa phức tạp.
Sinh viªn: Ph¹m H¶i Lý Líp B¶o HiÓm 42A–
3
LuËn v¨n tèt nghiÖp
+ Đây là loại hình với số lượng lớn các phương tiện giao thông tham
gia từ phương tiện thô sơ như xe đạp, xích lô, đến những phương tiện hiện đại
như ô tô, xe máy, tàu hoả, tàu cao tốc…
+ Giao thông đường bộ là hệ thống giao thông cần thiết nhất, thuận tiện
nhất cho mọi người dân.
Tuy nhiên đây là loại hình giao thông chưa đáp ứng được về mặt thời
gian, khoảng cách, bởi tốc độ các phương tiện còn chậm, khó khăn khi tham
gia trên những đoạn đường dài.
+ Loại hình giao thông này xảy ra nhiều tai nạn nhất, mức độ nghiêm
trọng ngày càng cao, điều này không chỉ gây thiệt hại về người và của cho chính
bản thân người tham gia mà còn gây thiệt hại rất lớn cho đất nước.
+ Hệ thống đường xá, cầu cống mặc dù được đầu tư rất nhiều nhưng
chất lượng vẫn còn kém, phát triển chưa nhiều. Hiện nay đoạn đường đất, đá
dụng của ngành đường bộ là 302.218,4 Km
2
.
Bên cạnh tuyến đường bộ, đường sắt cũng chiếm một chiều dài khá lớn
với tổng chiều dài là 3.216 Km trong đó tuyến đường chính dài 3.600 Km và
486 Km đường ga gồm 274 ga.
Thủ đô Hà Nội với sự tập trung ngày càng đông của mọi tầng lớp dân
cư và tham gia ngày càng nhiều của các phương tiện giao thông đặt ra vấn đề
nâng cấp, xây dựng mới nhiều con đường, cầu cống. Hiện nay, Hà Nội nâng
cấp, xây dựng mới 329 Km đường, cầu cống như cầu vượt Ngã Tư Vọng,
Nam Thăng Long, xây dựng thêm nhiều cầu mới như cầu phao Khuyến
Lương, cầu Thanh Trì…
Nhìn chung giao thông đường bộ ở nước ta còn yếu kém, chất lượng
những con đường còn chưa tốt kể cả đường quốc lộ hay đường ở đô thị lớn.
Các phương tiện tham gia giao thông ngày càng tăng với số lượng lớn xe
tham gia chất lượng kém, đã quá niên hạn sử dụng hoặc hỏng hóc bộ phận.
Bên cạnh sự gia tăng đáng kể về hệ thống giao thông đường bộ, sự đầu tư
nâng cấp, cùng với nó các phương tiện tham gia giao thông cũng tăng với tốc độ
rất lớn, bình quân cả nước ta tăng từ 8,5 - 9,1 % một năm, riêng tại Hà Nội số
lượng ô tô, xe máy tăng từ 20 - 24 %, số ô tô tăng từ 8,8 – 9,6
Sinh viªn: Ph¹m H¶i Lý Líp B¶o HiÓm 42A–
5
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sinh viªn: Ph¹m H¶i Lý Líp B¶o HiÓm 42A–
6
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Bảng 2: Bảng thống kê tình hình phát triển xe cộ trên hệ thống
đường bộ Việt Nam.
Chỉ tiêu
N
so với năm 2000 là 29,61%. Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong thời gian
gần đây. Sang đến năm 2002 số lượng xe máy đã là 9.867.998 xe. Tính trung
bình cho 3 năm từ năm 2001-2003, mức tăng tuyệt đối trung bình là 1,5 triệu
chiếc/năm.
Bên cạnh sự tăng mạnh về số lượng xe máy là sự gia tăng đáng kể về xe ô
tô. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, nhu cầu về ô tô rất lớn, đời
sống của người dân nâng cao, việc sở hữu một chiếc ô tô không còn là vấn đề
khó khăn. Tuy nhiên so với xe máy, tốc độ tăng trưởng của ô tô vẫn chưa phải là
cao, trong khi tốc độ tăng trưởng trung bình của xe máy là 14,96% thì tốc độ
tăng trưởng trung bình của ô tô trong ba năm từ 2001 – 2003 là 9,27%. Trong
Sinh viªn: Ph¹m H¶i Lý Líp B¶o HiÓm 42A–
7
LuËn v¨n tèt nghiÖp
thời gian gần đây mức tăng tuyệt đối của ô tô khoảng 50.000 chiếc mỗi năm.
Đến năm 2003 số lượng xe ô tô nước ta đang lưu hành là 630.860 xe.
Sở dĩ số lượng xe tăng nhanh như vậy một phần là do sự nhập khẩu ồ ạt
các loại xe Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc…đồng thời do sự phát triển của
công nghệ lắp ráp xe máy tại Việt Nam. Ngoài ra, đây là phương tiện rất cơ
động, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân trong cơ chế thị trường hiện
nay, giá cả phù hợp với mọi tầng lớp dân cư đặc biệt là người dân ở nông thôn
và người nghèo ở thành thị.
Bảng 3: Dự báo tăng trưởng phương tiện giao thông
đến năm 2020 tại Việt Nam.
Loại phương tiện Đơn vị Năm 2000 Năm 2010 Năm 2020
1. Xe ô tô các loại.
Trong đó:
- Xe ô tô con
-Xeôtô khách
- Xe ô tô tải
Nghìn chiếc
LuËn v¨n tèt nghiÖp
nhưng vẫn lưu hành. Xe vận tải nhỏ không đăng kí, không qua kiểm định là
62.905 xe chiếm 83% và hơn 10 triệu xe máy của Trung Quốc, Đài Loan, xe
HonDa đời cũ…chất lượng kém. Với thực trạng như vậy số lượng các vụ tai
nạn giao thông xảy ra là điều không thể tránh khỏi.
Bảng 4: Tình hình tai nạn giao thông ở nước ta
giai đoạn 1998 - nay
Nội dung tai
nạn giao thông
Đơn vị 1998 1999 2000 2001 2002 2003
1.Số vụ tai nạn
Vụ 16.270 18.967 21.901 24.732 27.654 33.663
2.Số người chết
Người 6.394 7.095 7.928 10.866 12.497 13.870
3.Số người bị
thương
Người 11.989 22.710 25.263 28.202 31.526 31.897
4.Bình quân số
người chết/năm
Người
19 21 25 28 34 38
5.Tổng sốngười
chết/tháng
Người 533 591 661 906 1.041 1.156
Nguồn : Tạp chí giao thông vận tải số 1+2 năm 2004.
Qua bảng trên ta thấy, số vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày càng tăng, năm
1998 số vụ tai nạn mới chỉ có 16.270 vụ đến năm 2003 số vụ tai nạn đã là 33.663
vụ tăng gấp 2,06 lần, trong đó số người bị thương, người chết trong các vụ tai nạn
cũng tăng gấp đôi. Mỗi ngày bình quân chúng ta phải chia tay với 38 người chết vì
tai nạn giao thông và trung bình mỗi tháng có tới 1.150 người.
- Thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra: Kiểm tra việc chấp hành
của người tham gia giao thông, thực hiện nhiệm vụ của cảnh sát giao thông,
kiểm tra chất lượng đường xá…
- Tăng cường tuyên truyền về an toàn giao thông.
- Nhà nước cần đưa ra mức xử phạt hành chính thích đáng cho những
trường hợp vi phạm luật lệ giao thông, phóng nhanh vượt ẩu… Hạn chế tai
nạn giao thông không chỉ là việc của các cấp, các ngành mà bản thân cũng
phải chấp hành luật lệ giao thông, hạn chế thiệt hại xảy ra cho chính bản thân
mình cũng như cho người khác.
Sinh viªn: Ph¹m H¶i Lý Líp B¶o HiÓm 42A–
10
LuËn v¨n tèt nghiÖp
2. Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm xe cơ giới
2.1. Sự cần thiết của bảo hiểm xe cơ giới
Trước hết ta sẽ tìm hiểu xem bảo hiểm là gì? Bảo hiểm chính là sự
chuyển giao rủi ro của người tham gia bảo hiểm cho người bảo hiểm bằng
việc người tham gia bảo hiểm đóng một khoản phí cho nhà bảo hiểm và nhà
bảo hiểm cam kết bồi thường cho người tham gia bảo hiểm trong trường hợp
rủi ro xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm.
Khái niệm trên chỉ mang tính chất chung nhất của bảo hiểm, trên cơ sở
đó ta có khái niệm bảo hiểm xe: Là sự chuyển giao rủi ro của các chủ phương
tiện xe cơ giới cho công ty bảo hiểm. Các công ty bảo hiểm thu phí của các
chủ phương tiện đồng thời cam kết bồi thường thiệt hại cho chủ phương tiện
khi có rủi ro xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm. Bảo hiểm là một hoạt động dịch
vụ và bảo hiểm xe cơ giới cũng làm một hoạt động dịch vụ rất cần thiết bởi:
Theo ước tính hàng năm trên thế giới có hàng triệu vụ tai nạn xe cơ
giới xảy ra, phá huỷ số lượng lớn tài sản, phương tiện giao thông, làm thương,
chết hàng triệu người, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế quốc dân. Do đặc
điểm của giao thông đường bộ sử dụng nhiều loại hình xe cơ giới, số lượng xe
hoạt động ngày càng tăng thì số lượng vụ tai nạn cũng tăng lên và ngày càng
sống, ổn định sản xuất kinh doanh. Thực tế khi tai nạn xảy ra sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, đời sống của chủ phương tiện cũng như
người thân của họ. Khoản chi trả kịp thời của các công ty bảo hiểm phần nào
giúp họ trang trải được những chi phí phát sinh do tai nạn như: Chi phí nằm
viện, thuốc men, chi bồi thường cho người thứ ba…
+ Thứ hai: Tích cực đề phòng hạn chế tổn thất, góp phần ngăn ngừa tai
nạn giao thông.
Đối với mỗi người khi tham gia giao thông đều không mong muốn rủi
ro xảy ra với mình, khi rủi ro xảy ra thì chuyển giao rủi ro là biện pháp thiết
thực nhất. Không chỉ người tham gia mà ngay cả đối với các công ty bảo
hiểm đều không muốn sự kiện bảo hiểm xảy ra. Đối với các công ty bảo hiểm
sau khi nhận rủi ro về mình cùng với một khoản phí nhất định thì công việc
đầu tiên đó là công tác đề phòng hạn chế rủi ro. Đối với nghiệp vụ bảo hiểm
xe cơ giới, việc giảm thiểu số vụ tai nạn xảy ra là việc làm rất cần thiết, từ
nguồn phí thu được các công ty bảo hiểm kết hợp với ngành giao thông tuyên
truyền, nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông đường, làm biển báo ở
những đoạn đường nguy hiểm…
Sinh viªn: Ph¹m H¶i Lý Líp B¶o HiÓm 42A–
12
LuËn v¨n tèt nghiÖp
+ Thứ ba: Góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước.
Thông qua việc thu phí, các công ty bảo hiểm tập hợp được nguồn vốn
tương đối lớn để đầu tư, việc này góp phần không nhỏ vào phát triển nền kinh
tế của đất nước, tạo công ăn việc làm cho một bộ phận không nhỏ người lao
động. Bên cạnh đó thông qua nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước, các công ty
bảo hiểm cũng đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước.
+ Thứ tư: Khi tai nạn xảy ra, nhà bảo hiểm là người trung gian cùng với
cơ quan công an xác định mức lỗi, mức thiệt hại của mỗi bên, từ đó công ty
bảo hiểm đứng ra bồi thường cho chủ xe cũng như gánh đỡ phần trách nhiệm
mà chủ xe phải thực hiện đối với người thứ ba. Điều này góp phần xoa dịu sự
Xung quanh đối tượng bảo hiểm xe cơ giới, các công ty bảo hiểm triển
khai một số nghiệp vụ liên quan đến xe cơ giới:
3.1. Nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
3.1.1. Đối tượng bảo hiểm.
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới được áp dụng cho bảo hiểm vật chất xe ô
tô, mô tô, xe máy, nhưng hiện nay chủ yếu triển khai đối với ô tô. Đối với bất
kỳ nghiệp vụ bảo hiểm nào, trước khi ký kết hợp đồng bảo hiểm chúng ta cần
phải xem xét đến giá trị bảo hiểm. Giá trị bảo hiểm là giá trị bằng tiền của tài
sản, nó thường được xác định bằng giá trị thực tế của tài sản vảo thời điểm kí
kết hợp đồng. Đây là căn cứ để xác định số tiền bồi thường, là cơ sở để bồi
thường chính xác thiệt hại thực tế cho chủ xe tham gia bảo hiểm.
Số tiền bảo hiểm là khoản tiền nhất định ghi trong đơn bảo hiểm hoặc
giấy chứng nhận bảo hiểm để giới hạn trách nhiệm của nhà bảo hiểm trong
bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm. Trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới, cách
thức bảo hiểm toàn bộ hoặc bộ phận sẽ chi phối việc thoả thuận về số tiền bảo
hiểm của hợp đồng.
+ Đối với bảo hiểm toàn bộ xe, số tiền bảo hiểm dựa vào việc đánh giá
giá trị bảo hiểm của xe. Việc này rất phức tạp, nhất là ở Việt Nam vì hiện nay
có rất nhiều xe đã qua sử dụng, sửa chữa, tân trang… Bên cạnh sự kê khai của
chủ xe, nhân viên khai thác cần phải nhạy bén với thông tin về giá cả các loại
xe trên thị trường, cần phải kết hợp với ý kiến của các chuyên viên để định ra
giá trị bảo hiểm hợp lý.
Sinh viªn: Ph¹m H¶i Lý Líp B¶o HiÓm 42A–
14
LuËn v¨n tèt nghiÖp
+ Trong trường hợp bảo hiểm bộ phận xe. Căn cứ vào tỷ lệ giá trị tổng
thành của các loại xe xác định giá trị bảo hiểm. Đứng trên góc độ kỹ thuật, xe
cơ giới bao gồm 7 tổng thành:
- Động cơ: Bao gồm phần máy, chế hoà khí, bơn cao áp, bơm xăng, bầu
lọc khí, lọc dầu, máy phát điện, máy nén khí, két nước, các bộ phận làm mát.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Bảng 4: Tỷ lệ giá trị tổng thành lợi xe du lịch, xe khách, xe vạn tải
nhỏ (các nước khu vực II sản xuất)
Tên tổng thành Xe con 4-5
chỗ (nhóm
xe du lịch)
Xe khách
trên 20 ghế
(cả xe KVI,
KVII)
Xe việt dã
cao: Nhóm
xe2 cầu
Uoát, Land
Cruiser
Xe khách
dưới 20 ghế
Xe tải du lịch
nhỏ dưới 2 tấn
Loại
1 cầu
chủ
động
Loại
2 cầu
chủ
động
Loại 1
cầu
chủ
14,1 13,3 16,3 16,5 15,8
Satsi 9,1 9,4 8,2 8,2 8,0
7.Săm lốp 3,6 8,0 4,2 4,0 6,5
Nguồn: Bảng quy định tỷ lệ cấu thành của Bộ Tài Chính
Nhìn chung tỷ lệ phí bảo hiểm cũng được xác định dựa trên phương
pháp thống kê, kết quả tính toán về tần suất tổn thất và chi phí bồi thường trên
một tổn thất, định mức chi phí quản lý của nhà bảo hiểm. Mặc dù vậy việc
tính phí cụ thể cho các hợp đồng phải bao quát được mọi yếu tố có ảnh hưởng
lớn đến khả năng phát sinh trách nhiệm của nhà bảo hiểm. Phương pháp tính
phí bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới của nhiều công ty bảo hiểm trên thế
giới luôn dựa vào các yếu tố cơ bản sau:
+ Loại xe: Loại xe (xác định bởi mác, năm sản xuất, màu của xe…).
Cùng một loại xe ví dụ như TOYOTA CROWN sản xuất năm 1995 mới
100% loại 2.8, 3.0… giá là 900 triệu đồng /xe, loại dưới 2.8 giá trị còn có 650
Sinh viªn: Ph¹m H¶i Lý Líp B¶o HiÓm 42A–
17
LuËn v¨n tèt nghiÖp
triệu đồng/ xe,. Loại xe sẽ liên quan đến trang thiết bị an toàn, chi phí sửa
chữa, phụ tùng thay thế…
Giống như cách tính phí nói chung, phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi
đầu xe đối với mỗi loại xe được tính theo công thức:
P = f + d
Trong đó: P: phí thu mỗi đầu xe
f: phí thuần
d: phụ phí
+ Phạm vi, địa bàn hoạt động:
Đây không phải là cách tốt nhất để xác định phí cũng như yếu tố ảnh
hưởng lớn đến xác định phí bởi vì xe cơ giới là loại xe rất cơ động, ngay cả
bản thân chủ xe cũng khó xác định mình sẽ lưu hành xe trong những địa bàn
như thế nào, sẽ sử dụng tại đâu. Tuy nhiên trước khi định phí các nhà bảo
nhận sức khoẻ phù hợp để có thể lái xe.
+ Tiền sử của chiếc xe: Xem xét đến các vụ tai nạn phát sinh có liên
quan đến xe, mức độ lỗi, trách nhiệm thuộc về chiếc xe, hành vi vi phạm luật
lệ an toàn giao thông…
Ngoài ra, khi tính phí các công ty bảo hiểm còn căn cứ vào số lượng xe
tham gia bảo hiểm của một đơn vị tham gia, giá trị của xe, theo tỷ lệ tổn thất
để có thể tính giảm phí bảo hiểm. Nếu trong quá trình tham gia bảo hiểm chủ
xe không khiếu nại phải bồi thường thì khi tái tục bảo hiểm có thể được giảm
phí như sau:
Thời hạn Tỷ lệ giảm phí tối đa
1 năm liên tục 10%
Năm tái tục tiếp theo 15%
Năm tái tục tiếp theo 20%
Như vậy, năm đầu tiên tham gia bảo hiểm, trong thời gian hợp đồng bảo hiểm có
hiệu lực mà không xảy ra tai nạn, hay khiếu nại đòi bồi thường công ty bảo hiểm
sẽ tiến hành giảm phí cho năm tham gia tiếp theo với tỷ lệ tối đa là 10% và nếu
tái tục tiếp sẽ được giảm phí tối đa là 15 – 20 % tuỳ theo số năm tham gia.
3.2. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:
Sinh viªn: Ph¹m H¶i Lý Líp B¶o HiÓm 42A–
19
LuËn v¨n tèt nghiÖp
3.2.1. Đối tượng bảo hiểm.
Đối tượng tham gia bảo hiểm là chủ xe cơ giới. Tuy nhiên, đối tượng
bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm này là nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ xe khi
xe của anh ta đang lưu hành và gây tai nạn cho người thứ ba. Công ty bảo
hiểm sẽ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xe gây ra thiệt hại về người và
tài sản.
Thực tế khi gây ra tai nạn, nhiều lái xe thường trốn tránh trách nhiệm
do phần lỗi mà mình gây ra. Điều này do rất nhiều nguyên nhân: Có thể lái xe
hoang mang, lái xe sợ mình không đảm đương được phần trách nhiệm thuộc
bảo an toàn cho hành khách mà mình chuyên chở. Hợp đồng bảo hiểm được
kí kết giữa nhà bảo hiểm và chủ xe kinh doanh vận chuyển khi tai nạn xảy ra.
Hợp đồng bảo hiểm này đảm bảo quyền lợi cho hành khách đồng thời đây
cũng là việc làm nâng cao ý thức, trách nhiệm của chủ xe khi tham gia giao
thông cũng như khi xảy ra tai nạn.
3.3.2. Phí bảo hiểm.
Do là nghiệp vụ bảo hiểm thường được triển khai theo quy định bắt
buộc của Nhà nước vì vậy biểu phí cũng thường tuân theo biểu phí bắt buộc
của Nhà nước và biểu phí mở rộng theo bản thoả thuận giữa các doanh nghiệp
bảo hiểm đã được Bộ tài chính phê chuẩn.
3.4. Bảo hiểm tránh nhiệm dân sự của chủ xe đối hàng hoá vận chuyển trên xe.
3.4.1. Đối tượng
Trong kinh doanh vận chuyển hàng hoá cũng thường xuyên xảy ra tai nạn,
để đảm bảo cho công việc chuyên chở được thuận lợi, đảm bảo cho bản thân chủ
xe, cho hàng hoá vận chuyển trên xe chủ xe thường tham gia bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của chủ xe đối với hàng hoá vận chuyển trên xe.
Trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với hàng hoá vận chuyển là số tiền
chủ xe phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chủ hàng khi có rủi ro xảy ra.
Như vậy, đối tượng bảo hiểm ở đây là hàng hoá vận chuyển theo hợp đồng
giữa chủ xe và chủ hàng trong và ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Theo hợp
đồng, các công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm cho tất cả các loại hàng hoá bao
gồm cả những loại hàng hoá đặc biệt như: Vàng bạc, đồ cổ, tranh nghệ thuật
quý hiếm…ngoại trừ hàng cấm như ma tuý, thuốc phiện…
3.4.2. Phí bảo hiểm
Sinh viªn: Ph¹m H¶i Lý Líp B¶o HiÓm 42A–
21
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Phí bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với hàng hoá vận
chuyển trên xe là số tiền chủ xe phải nộp cho công ty bảo hiểm. Tuỳ theo mức
trách nhiệm mà chủ xe phải nộp mức phí khác nhau. Ngoài thanh toán, bồi
xảy ra tai nạn, thông tin tổn thất ban đầu…
+ Tiếp đến các nhà bảo hiểm tiến hàng giám định: Thu thập thông tin,
số liệu ban đầu và những dữ kiện liên quan, kiển tra thông tin thuộc phạm vi
trách nhiệm của loại hình bảo hiểm khách hàng tham gia.
- Kiểm tra giấy tờ xe: Giấy chứng nhận bảo hiểm, bằng lái xe, đăng kí
xe, giấy phép lưu hành.
- Chụp ảnh thiệt hại: chụp vị trí xe bị tai nạn (biển số xe, nhãn hiệu xe,
các vết hư hỏng…). Trường hợp đặc biệt không dùng được máy ảnh thì vẽ vị
trí bị hư hỏng, ghi kích thước và có kí tên như biên bản tai nạn.
- Lập biên bản giám định: Phối hợp với công an điểu tra, kết luận về
diễn biến và nguyên nhân tai nạn. Tuỳ từng trường hợp cụ thể, cán bộ giám
định trình lãnh đạo duyệt tạm ứng chi phí tai nạn ban đầu.
- Tiến hành thu thập hồ sơ đầy đủ để giải quyết bồi thường.
- Thông thường đối với bảo hiểm vật chất xe cơ giới, việc giám định
tổn thất được công ty bảo hiểm tiến hành với sự có mặt của chủ xe hoặc lái xe
hoặc người đại diện hợp pháp nhằm xác định nguyên nhân và mức độ thiệt
hại. Trong trường hợp 2 bên không đạt được sự thống nhất thì lúc này chỉ
định giám định viên chuyên môn làm trung gian.
Công việc của giám định viên là ghi nhận một cách khách quan, trung
thực về đối tượng bảo hiểm. Có thể đề xuất các biện pháp cần kíp để bảo vệ đối
tượng bảo hiểm, hạn chế tổn thất. Giám định tổn thất đòi hỏi kinh nghiệm thực
tế, giác quan tinh tế, nhạy bén, sự hiểu biết thấu đáo về nghiệp vụ.
Giám định là một mắt xích không thể thiếu được trong dây chuyền triển
khai nghiệp vụ bảo hiểm. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho các khâu công việc
khác đặc biệt là công tác bồi thường. Ngoài ra nó còn là nhân tố để ngăn chặn
giảm bớt sự gian lận trong bảo hiểm.
4.2. Bồi thường tổn thất.
Sinh viªn: Ph¹m H¶i Lý Líp B¶o HiÓm 42A–
23
LuËn v¨n tèt nghiÖp
LuËn v¨n tèt nghiÖp
* Thời hạn yêu cầu bồi thường của chủ xe: Thông thường trong vòng 6
tháng kể từ ngày xảy ra tai nạn chủ xe phải thông báo cho công ty bảo hiểm
biết để giải quyết (Trừ trường hợp chậm trễ do nguyên nhân khách quan và
bất khả kháng theo quy định của pháp luật).
Thời hạn thanh toán bồi thường của doanh nghiệp: Trong vòng 2 tháng
kể từ ngày công ty bảo hiểm nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ.
Thời hạn khiếu nại về giải quyết trả tiền là 3 tháng kể từ ngày nhận tiền
hoặc nhận được thông báo giải quyết bồi thường của công ty. Quá thời hạn
trên mọi khiếu nại không có giá trị.
* Phương thức xác định số tiền bồi thường:
Công ty bảo hiểm bồi thường vật chất xe cho những thiệt hại thực tế bao gồm:
+ Thiệt hại về người trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ
giới đối với người thứ ba và hành khách trên xe. Thực tế để tạo điều kiện
thuận lợi cho giải quyết bồi thường, các công ty giải quyết bồi thường theo 2
cách:
- Chi phí thực tế
- Theo định mức khoán
- Bồi thường theo chi phí thực tế giới hạn bằng mức trách nhiệm
bảo hiểm: Chi phí mai táng, chi phí cứu chữa bệnh nhân, bồi thường mất,
giảm thu nhập. Trường hợp xe tham gia bảo hiểm nhưng không thuộc trách
nhiệm nhà bảo hiểm vẫn bồi thường nhân đạo cho chủ xe.
+ Thiệt hại tài sản:
Trường hợp tài sản bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm,
công ty bảo hiểm sẽ bồi thường những chi phí cần thiết, hợp lý nhằm sửa
chữa, khôi phục lại trạng thái ban đầu của tài sản.
Nguyên tắc bồi thường bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Bồi thường theo
tỷ lệ thực tế hợp lý của nạn nhân và lỗi của xe gây ra tai nạn
STBT = Thiệt hại về người * Tỷ lệ lỗi của xe gây ra tai nạn
+ Bồi thường nhân đạo