tóm tắt luận án tiến sĩ Nghiên cứu phương pháp mạng nơ-ron hiệu chỉnh giản đồ hướng trong ra đa dùng anten mạng - Pdf 26



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ


Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ - BỘ QUỐC PHÒNG

một số ứng dụng, anten mạng chứa một lượng lớn các phần tử hoặc
mạng con. Vì sự có mặt của lượng lớn phần tử, khả năng lớn xảy ra
hỏng hóc hay suy giảm chất lượng (sau đây gọi là phần tử lỗi) của một
hoặc nhiều phần tử trong mạng. Các phần tử lỗi trong mạng phá hủy
tính đối xứng và gây ra biến dạng GĐH có thể đến mức không chấp
nhận được, chủ yếu ở dạng tăng mức búp sóng phụ. Việc thay thế
những phần tử lỗi của anten mạng không phải lúc nào cũng thực hiện
được, ví dụ anten mạng pha trên vệ tinh có một vấn đề rất đặc trưng,
khi vệ tinh đã phóng thì không thể bảo dưỡng được các anten mạng
pha. Nhưng trong trường hợp anten chủ động, có thể phục hồi GĐH
với trả giá nhỏ nhất về chất lượng mà không cần thay thế phần tử hỏng,
bằng cách điều khiển các kích thích của các phần tử không bị lỗi trong
mạng. Điều này giảm đáng kể giá thành khi thay thế các phần tử lỗi và
bảo đảm GĐH luôn được hiệu chỉnh, sự suy thoái của anten mạng
chậm.
Như vậy cần thiết phải đưa ra một số kỹ thuật hiệu chỉnh để có
thể không cần thay thế các phần tử lỗi mà chỉ bằng tính toán lại các
tham số của GĐH với các phần tử không hỏng còn lại để tạo một GĐH
mới gần giống với GĐH ban đầu. Khả năng hiệu chỉnh GĐH anten
mạng có các phần tử lỗi của mạng nơ-ron là một giải pháp phù hợp. Đó
là c
ơ sở để nghiên cứu sinh thực hiện luận án “Nghiên cứu phương
pháp mạng nơ-ron hiệu chỉnh giản đồ hướng trong ra đa dùng anten
mạng”.
2

* Mục tiêu của luận án:
Mô phỏng thực nghiệm: Mô phỏng luyện mạng nơ-ron với các
phương pháp luyện khác nhau; Mô phỏng luyện mạng với các hàm
truyền của nơ-ron khác nhau; Mô phỏng đánh giá giá trị hàm sai số
trong mạng nơ-ron sử dụng hàm truyền khác nhau với lớp ẩn có số nơ-
ron khác nhau; Mô phỏng đánh giá khả năng đáp ứng và giới hạn đáp
ứng của mạng nơ-ron dưới tác động của các khả năng xảy ra lỗi ở một
hoặc nhiều phần tử.
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Ý nghĩa khoa học: Khẳng định mạng nơ-ron là một trong nhiều
công cụ để hiểu chỉnh GĐH khi xuất hiện lỗi ở các phần tử. Thiết kế tạo
các bộ dữ liệu phục vụ luyện mạng nơ-ron mang tính tổng quát, được
kiểm chứng để đánh giá độ tin cậy chính xác và khoa học.
Ý nghĩa thực tiễn: Bộ dữ liệu của GĐH chuẩn và bộ dữ liệu của
GĐH khi xuất hiện lỗi bất kỳ có ý nghĩa cao trong công tác dự báo
hỏng hóc cho anten mạng; Hoàn thiện phương pháp luyện trực tuyến,
điều này đồng nghĩa với hiệu chỉnh GĐH trong thời gian thực.
* Cấu trúc của luận án: Luận án bao gồm 108 trang thuyết minh;
trong đó có 8 bảng; 50 đồ thị, hình vẽ; 44 tài liệu tham khảo và 20 trang
phụ lục.
Chương 1: Tổng quan về anten mạng và đặc trưng giản đồ hướng
anten mạng pha tích cực tuyến tính đồng nhất. Trong chương này luận
án trình bày: Các tham số đặc trưng không gian của anten. Đặc điểm hệ
thống anten mạng pha và mạng pha tích cực. Cụ thể là: trình bày
phương pháp tổng hợp GĐH; các tham số đặc trưng của GĐH; các
phương pháp hiệu chỉnh GĐH với các tiêu chuẩn khác nhau; và các đặc
trưng hỏng hóc phần tử trong anten mạng tuyến tính; Xác định nội dung
nghiên cứu.
Ch

sóng phụ; hệ số khuếch đại; hệ số đặc trưng hướng; các đặc trưng tần số
v.v. Tuy nhiên, do có sự tồn tại của các phần tử tích cực nằm trên anten
và tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành những đặc trưng đó, nên
cơ sở, và công cụ tính toán cũng có những cách tiếp cận khác. Trong
anten m
ạng pha tích cực tồn tại của hàng trăm, thậm chí hàng ngàn
phần tử là các mô đun thu - phát tích cực. Như vậy việc giải bài toán
5

"nghiên cứu đảm bảo các tham số đặc trưng không gian của hệ thống
anten mạng pha" đã được đề cập trong nhiều tài liệu. Nhưng ứng dụng
công cụ mạng nơ-ron là nội dung mới cần phải nghiên cứu tiếp. Mục
tiêu nghiên cứu của luận án "Nghiên cứu phương pháp mạng nơ ron
hiệu chỉnh giản đồ hướng trong ra đa dùng anten mạng" là: Bằng lý
thuyết anten và kỹ thuật siêu cao tần, lý thuyết điều khiển và sử dụng
công cụ mạng nơ-ron nhân tạo giải quyết bài toán đảm bảo GĐH anten
với các tham số xác định trong trường hợp một tập các phần tử tích cực
bị thay đổi tham số ở mức báo hỏng.
1.2. GĐH anten mạng pha tích cực
Hệ thống anten mạng thông minh được xây dựng đảm bảo giải
quyết hài hòa hay nói cách khác là tối ưu các đặc tính: Mức búp bên
thấp; Độ rộng búp chính hẹp; Khả năng mềm dẻo, linh hoạt trong điều
khiển các đặc tính điện học; Khả năng phát hiện lỗi trong hệ thống và
tự động hiệu chỉnh; Tối ưu trong kết cấu hình học anten.
1.3. Công thức tổng hợp GĐH trong anten mạng tuyến tính

Hình 1.1. Anten mạng tuyến tính









(1.5)

6

Thành phần tổng trong (1.5) được gọi là hệ số mạng. Để tiện lợi
trong việc luận giải về các búp bên, độ rộng búp chính của GĐH, hệ số
mạng thường được viết theo dạng [5]:














Về mặt biên độ, ta có :
!





!


"
#$%

&



'


&



'

"

(1.7)




*












+








(1.8)

Rút gọn (1.8), ta có:



+
0

1
2
/


(1.9)

Trong đó: a
i
, φ
i
: Các trọng số biên độ và pha kích thích ban đầu
của các phần tử; k
0
: Số sóng 2π/λ
0
; X
i
: Các vị trí phát xạ trên mặt
ngang i x d;
1.4.2. Độ rộng búp sóng chính mức 1/2 công suất
Độ rộng búp sóng chính Θ
B
đo bằng radian:
3
4



#$%




>&


?

$

>

@
(

(
A
(
B


(1.11)

1.4.4. Cấu trúc và giới hạn trường quan sát của các anten mạng
Cấu trúc anten mạng chủ động (tích cực): Mỗi phần tử mảng có
modul phát/thu riêng (T/RM) hình 1.7. Mỗi T/RM chứa bộ khuếch đại
công suất nhỏ, khuếch đại công suất lớn ở nhánh phát và bộ hạn chế, bộ

được các tham số khác
1.5.2. Mô hình bù kích thích phần tử
Bù biên độ: Công thức bù được tiến hành cho hai phần tử lân
cận [43]: A
p-1
= A
p-1
+ N.Δ.A
p
; A
p+1
= A
p+1
+ N.Δ.A
p

Trong đó Δ là lượng tử bù, N là số lần bù cần thiết.
Bù pha: Tương tự như bù biên độ các bù pha sẽ tiến hành tương
tự với các phần tử lân cận, các giá trị bù pha sẽ được cập nhật vào thành
phần pha của các phần tử [43].
1.5.3. Mô hình thích nghi bộ trọng số kích thích các phần tử anten Hình 1.11. Mô hình tổng hợp
GĐH anten mạng
Hình 1.12. Mô hình thích nghi
bộ trọng số kích thích các phần
tử anten mạng
1.6. Các đặc trưng hỏng hóc phần tử trong anten mạng tuyến tính
Hỏng hóc dẫn đến thay đổi tỉ lệ mức búp sóng bên cực đại so với

Nghiên cứu hiệu chỉnh GĐH anten mạng pha có nhiều phương
pháp khác nhau đã được công bố. Tuy nhiên với sự xuất hiện của máy
tính, sự xuất hiện những tổ hợp vi mạch điện tử thông minh có dung
lượng vô cùng lớn và tốc độ rất cao. Mạng nơ-ron có khả năng xấp xỉ
với hàm bất kỳ và với sai số bất kỳ. Do vậy nghiên cứu phương pháp
mạng nơ-ron hiệu chỉnh GĐH anten mạng pha là hợp lý và có tính khả
thi cao.
Để đạt được mục tiêu hiệu chỉnh nhanh GĐH của anten mạng
pha khi xuất hiện lỗi của một hoặc nhiều phần tử để đạt được GĐH theo
yêu cầu mà không cần thay thế các phần tử lỗi, cần tập trung nghiên
cứu các nội dung:
- Các tham s
ố kỹ thuật đặc trưng của anten mạng pha tích cực;
10

- Cấu trúc mạng nơ-ron cho việc hiệu chỉnh GĐH, trong đó tập
trung đi sâu nghiên cứu các tham số mạng nơ-ron như: Số lớp và số nơ-
ron của mạng nơ-ron truyền thẳng; Thuật toán luyện tập mạng; Phương
pháp luyện mạng nơ-ron; Hàm hoạt động của mạng nơ-ron;
- Xây dựng bộ dữ liệu chuẩn GĐH anten mạng phục vụ cho quá
trình luyện mạng. Xây dựng bộ dữ liệu đầu vào với cấu trúc anten mạng
đã biết phục vụ quá trình luyện mạng. Đánh giá khả năng hiệu chỉnh
của mạng nơ-ron đã được đưa ra và các giới hạn hiệu chỉnh GĐH của
mạng nơ-ron đó.
Để đáp ứng được các yêu cầu trong công tác đảm bảo kỹ thuật và
kết quả nghiên cứu có tính ứng dụng cao trong thực tiễn đơn vị. Trong
quá trình thực hiện luận án cần nghiên cứu anten mạng pha có số phần
như hình 1.12 có thể cấu trúc lại: Hình 2.1.Mô hình tích hợp anten mạng
và mạng nơ-ron nhân tạo
Hình 2.2: Tích hợp anten
mạng và ANN thực hiện
theo I,Q
2.3.1. Mạng nơ-ron truyền thẳng nhiều lớp
Lớp thấp nhất của MFNN là lớp đầu vào trong đó các phần tử xử
lý nhận được tất cả các trọng số nơ-ron đầu vào, và cung cấp kết quả
đầu ra của chúng để xử lý các phần tử của lớp ẩn đầu tiên.
2.3.2. Các điều kiện tối ưu của MFNN
Vấn đề tối ưu hóa các tham số cho công việc cụ thể mong muốn
có thể được mô tả như sau đối với tiêu chuẩn cực tiểu hàm sai số [27]:
C$%
D
E


@

C$%
D

F



Hình 2.4. Thuật toán lan truyền ngược điều
chỉnh trọng số
L
M

N

của nơ-ron(i,j)
12

vào
2.4. Xử lý trọng số trong quá trình luyện tập mạng 3 lớp
Các nội dung trong mục này: Công thức cập nhật trọng số; Cập
nhật trọng số; Cập nhật trọng số cho các lớp đầu vào; Cập nhật trọng số
cho các lớp đầu ra; Cập nhật trọng số cho lớp ẩn. Trong đó phương
pháp cập nhật, các bước cập nhận đều được mô tả bằng các lưu đồ thuật
toán.
2.5. Số các lớp ẩn và nơ-ron
Khả năng cấu trúc của một MFNN để thực hiện ánh xạ phi tuyến,
khả năng này có thể được đảm bảo bởi cấu trúc mạng nơ-ron đầy đủ số
lượng lớp nơ-ron ẩn và các nơ-ron ẩn [27]. Từ sự tính toán, luôn luôn
đòi hỏi số lớp ẩn nhỏ, số đầu vào và số các nơ-ron ẩn nhỏ. Như vậy,
cấu trúc tối ưu được định nghĩa ở đây là mạng có số lớp ẩn, đầu vào và
nơ-ron ẩn ít nhất, nhưng có khả năng thực hiện yêu cầu xác định trước.
2.6. Ước lượng số nơ-ron trong lớp ẩn
Số nơ-ron lớp ẩn tối ưu với ứng dụng là việc cần tìm để ổn định
khả năng làm việc cũng như độ chính xác của mạng nơ-ron. Trong công

nhanh sau một lượng nhỏ lần lặp giữ liệu có thể gây mất ổn định đối
với quá trình luyện. Như vậy với ứng dụng đang thực hiện hàm hoạt
động tansig là ổn định và phù hợp hơn cả.
2.10. Kết luận chương 2
Trong chương này đã nghiên cứu các cấu trúc của mạng nơ-ron
và đưa ra các kết quả về mạng nơ-ron:
- Cấu trúc mạng: Mạng nơ-ron lan truyền thẳng 3 lớp (lớp đầu
vào, lớp ẩn và lớp ra);
- Số nơ-ron tối thiểu trong lớp ẩn thường nhỏ hơn số đầu là 1,
theo kết quả tính toán và mô phỏng trong quá trình nghiên cứu, mục
2.10. Kết luận này sẽ là cơ sở khi luyện mạng với số phần tử anten
mạng hữu hạn trong chương 3;
- Đưa ra phương pháp luyện mạng: trước tiên luyện mạng theo
phương pháp cơ bản nhằm đảm bảo hiệu chỉnh theo hướng giảm sai số
có giám sát. Sau đó áp dụng thuật toán thực hiện hội tụ nhanh quá trình
luy
ện, đó là thuật toán Gradient chuyển vị (Conjugate Gradient) và
thuật toán Quasi-Newton và đi đến kết luận: Phương pháp Quasi-
Newton có số lần lặp rất ít so với phương pháp chuyển vị ; Thời gian
14

luyện của 2 phương pháp không cách nhau quá xa, do đó phương pháp
thuật toán Quasi-Newton mất thời gian trong quá trình giải các bài toán
tối ưu đối với các ma trận; Giá trị Gradient tại điểm hội tụ của phương
pháp thuật toán Quasi-Newton lớn hơn nhiều so với phương pháp thuật
toán chuyển vị Gradent do đó có thể tục mở rộng mạng nơ-ron và độ
giảm mức lỗi tối thiểu của phương pháp thuật toán Quasi-Newton. Đối

thực hiện trên một hệ thống với những tham số cụ thể đã được đưa ra ở
mục 1.7. Mục 3.2 sẽ liệt kê lại đối tượng thực hiện mà trên đó các giải
pháp kỹ thuật cụ thể được áp dụng.
3.2.1. Mô hình tổng hợp GĐH
GĐH trong anten mạng tuyến tính được tổng hợp sử dụng công
thức (1.9). Tuy nhiên thành phần phát xạ vô hướng của mỗi phần tử là
cố định và độc lập với các tham số khác, trong quá trình chuẩn hóa
thành phần này cũng tự được triệt tiêu do đó (1.9) được viết lại như sau:
OP


,

-








.
/

+


+
0

);
θ
n
- Góc quét búp sóng chính (G
Q
T
R)

RS
Q
T
).
3.2.2. Tham số anten mạng được xây dựng trong luận án
Đó là các tham số của hệ thống anten nghiên cứu thiết kế chế tạo
trong nước đã được tính toán trong mục 1.7.
3.2.3. Cấu trúc mạng nơ-ron

Hình 3.1.
C
ấu trúc
mạng nơ-ron
trong anten
m
ạng thích
nghi
16


)


S
[


-

OP\

>



#$%



Z



)
I
G

)



3.4.1. Các dạng dữ liệu lỗi và ảnh hưởng
Như đã nghiên cứu ở mục 1.5. GĐH anten mạng pha tích cực
chịu tác động không mong muốn từ các trường hợp sau:
- Trường hợp 1: Giá trị các tham số kỹ thuật của các phần tử tích
cực sau khi chế tạo sai lệch so với giá trị của chúng khi tính toán thiết
kế (bao gồm cả pha và biên độ);
- Tr
ường hợp 2: Hỏng hóc các phần tử anten (phần tử hỏng
không tham gia vào quá trình tổng hợp GĐH), trường hợp này có thể
17

coi phần tử hỏng luôn có các kích thích pha và biên độ đều bằng 0.
Trường hợp này xảy ra theo hai hướng: Các phần tử hỏng ngẫu nhiên
không ảnh hưởng đến kích thước anten mạng (không thay đổi độ rộng
búp sóng chính, thay đổi mức búp phụ); Các phần tử hỏng làm thay đổi
kích thước anten mạng (thay đổi độ rộng búp sóng chính);
- Trường hợp 3: Tác động bởi mức công suất tín hiệu ở đầu vào
các phần tử tích cực vượt quá dải động của chúng (đối với tín hiệu thu).
Các ảnh hưởng trên được xem xét một cách độc lập nhằm xác
định những biến dạng đặc trưng tương ứng của GĐH.
3.4.2. Phương pháp tạo các bộ dữ liệu đầu vào mạng nơ-ron và
đánh giá
3.4.2.1. Phương pháp tạo bộ dữ liệu do sai lệch so với tham số
chuẩn
Giả sử trong anten mạng đồng nhất các tham số kích thích về biên
độ và pha lần lượt là:
AE = [1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1];

O
E




*
]^



Z



)
I
G

)


S
_E



-

OP\


-





(3.5)

3.4.2.2. Phương pháp tạo bộ dữ liệu do hỏng hóc phần tử
Dữ liệu lỗi do sai lệch (AFHI, AFHQ) so với tham số chuẩn cho
mạng nơ-ron hiệu chỉnh được lấy lấy từ 16 đường tín hiệu biên độ-pha
của 16 phần tử anten mạng chỉ khác là một số ngẫu nhiên các phần tử
tại các vị trí ngẫu nhiên có các kích thích biên độ và pha được qui 0.
Công thức tạo bộ dữ liệu tương tự như (3.5) như sau:
AE’ = [0 1 1 1 1 0 0 1 1 1 1 1 1 0 1 1];
PE’ = [0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0].
Bộ dữ liệu do 4 phần tử tại 4 vị trí 1, 6, 7, 14 không tham gia vào
quá trình tổng hợp GĐH
3.4.2.3. Phương pháp tạo bộ dữ liệu khi bão hòa máy thu
Với những diễn giải nêu trên việc tạo ra bộ dữ liệu do nhiễu tác
động được thực hiện theo qui trình như sau:
Bước 1: Tạo bộ dữ liệu chuẩn lí tưởng (mục 3.3)
Bước 2: Tạo các thành phần ngẫu nhiên theo các mức biên độ
thay đổi vào hai thành phần I và Q của bộ dữ liệu có được từ bước 1.
Công thức tạo dữ liệu bước 1 được tiến hành theo công thức
(3.2). Các thành phần công suất nhiễu được thêm vào theo công thức
sau:
`
OPaY

(3.6)

19

Trong đó: m là độ phân giải (m = 1, 2, …, 181); NF là giá trị của
nhiễu theo hàm phân bố nhiễu; k1, k2 là các hệ số điều chỉnh công suất
nhiễu.

Hình 3.8. Vùng
hiệu chỉnh GĐH
khi khi bão hòa
máy thu
3.4.2.4. Phương pháp tạo bộ dữ liệu lỗi kết hợp
Sự kết hợp của các sai lệch hỏng hóc tác động lên GĐH vô cùng
đa dạng, để tạo được bộ dữ liệu cho trường hợp này thứ nhất phải xuất
phát từ các bộ dữ liệu lỗi riêng biệt sau đó kết hợp lại với nhau theo
một qui ước thống nhất. Qui ước này phải đảm bảo thể hiện được toàn
bộ các tác động như các lỗi riêng biệt.
ERDI(m) = F(AFSI(m),AFNI(m),AFHI(m)) (3.7)

ERDQ(m) = F(AFSQ(m),AFNQ(m),AFHQ(m)) (3.8)Hình 3.9. Qui trình tạo bộ dữ liệu lỗi kết hợp
20
GĐH khi các phần tử sai lệch so với chuẩn. Các thực hiện được minh
họa tại góc quét búp sóng chính -25
0
. Hình 3.12. GĐH chuẩn (a)
và GĐH bị biến dạng (b)
Hình 3.13. GĐH chuẩn (a)
và GĐH khôi phục (b)
Hình 3.14. GĐH chuẩn (a) và
GĐH bị biến dạng (b)
Hình 3.15. GĐH chuẩn (a)
và GĐH khôi phục(b)
21 Hình 3.16. GĐH chuẩn (a)
và GĐH bị biến dạng (b)
Hình 3.17. GĐH chuẩn (a)
và GĐH khôi phục (b)
3.5. Phương pháp đánh giá hiệu quả, giới hạn của mạng nơ-ron
Khả năng đáp ứng của mạng nơ-ron theo phạm vi điều chỉnh các
trọng số, phần này đưa ra một chỉ tiêu đánh giá khả năng đáp ứng thực
tế của mạng nơ-ron khi số lượng phần tử lỗi, vị trí phần tử lỗi, công
suất nhiễu là ngẫu nhiên nhằm: Khẳng định khả năng của ứng dụng
trong phạm vi cho phép; Đưa ra giới hạn cứng đối với ứng dụng; Cảnh


1 1 16 1.936 0
2

2

120

14.520

0

3 3 560 67.760 0
4

4

1820

220.220

0

5 5 4368 528.528 238
6

6

8008



Phương pháp thực hiện được tiến hành theo phương pháp xác
xuất trung bình. Từ bảng 3.8 có thể nhận thấy khả năng áp dụng của
mạng nơ-ron có được độ tin cậy cần thiết với số phần tử hỏng không
vượt quá 4 phần tử
3.6. Hiệu chỉnh GĐH anten mạng của các ra đa RĐ1; ra đa RĐ2;
và ra đa RĐ4
3.7. Kết luận chương 3
Chương 3 đã hoàn thành các nội dung khoa học:
1. Hoàn thành thiết kế bộ dữ liệu chuẩn phục vụ luyện mạng: bộ
dữ chuẩn được thiết kế ra đảm bảo được tính chính xác, khoa học, tuân
thủ chặt chẽ các nguyên tắc toán học. Bộ dữ liệu còn được kiểm chứng
một cách trực quan nhờ công cụ mô phỏng Matlab để chứng minh tính
đúng đắn và tin cậy.
2. Hoàn thành thiết kế các bộ dữ liệu đầu vào: Bộ dữ liệu đầu vào
đã được thiết kế với các trường hợp, mỗi trường hợp được coi là bộ dữ
liệu nhỏ đầu vào
3. Đã xác định khả năng hiệu chỉnh và giới hạn hiệu chỉnh GĐH
của mạng đối với mức độ hỏng hóc khác nhau (Bảng 3.8)
4. Kết quả đưa ra tại các bảng từ 3.1 đến 3.7 cho biết số gia trọng
số khi số phần tử hỏng tăng từ 5 đến 8 phần tử, kết quả này có ý nghĩa
đối với các kỹ sự thiết kế anten mạng trong việc lựa chọn linh kiện điện
tử để chế tạo.
5. Kết quả hiệu chỉnh GĐH anten mạng của các ra đa RĐ1; ra đa
RĐ2; và ra đa RĐ4 được trình bày ở phụ lục của luận án.
KẾT LUẬN
A. Những kết quả chính của luận án
Từ những kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm luận án
rút ra được các kết luận sau:
Các kết quả liên quan tới anten mạng pha tích cực: “Mô hình

- Bộ dữ liệu tương ứng với sự tác động bởi mức công suất tín
hiệu đưa đến đầu vào các phần tử tích cực để đầu ra của chúng bão hòa.
- Đã xây dựng mô hình thiết kế bộ dữ liệu đầu vào trong trường
hợp các hỏng hóc xảy ra đồng thời được gọi là dữ liệu hỗn hợp.
Với cùng cấu trúc mạng nơ-ron, thời gian luyện mạng 1s và sai
số giữa GĐH sau hiệu chỉnh so với GĐH chuẩn là 10
-3
, khi số phần tử
hỏng trong anten mạng nhỏ hơn 5, mạng nơ-ron có khả năng hiệu chỉnh
thành công với bất kỳ lần luyện nào. Khi số phần tử hỏng tăng lên từ 5
ph
ần tử, với thời gian và sai số giữ nguyên số lần luyện mạng không
thành công tăng từ 238 lên, số lần luyện không thành công tăng đột


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status