BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ - MÔN HỌC: KINH TẾ QUỐC TẾ
LỜI NÓI ĐẦU
Nhận thức được thực tế của đất nước, Đảng đã vạch ra những đường lối
chiến lược đúng đắn, đó là sự nhận thức và vận dụng đúng chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh mới. Một trong những chính sách đó
của Nhà nước ta là khuyến khích xuất nhập khẩu (XNK), khuyến khích giao
thương với bên ngoài (cả những nước TBCN mà trước đó chúng ta không đặt
quan hệ) để nâng cao năng lực cho đất nước trên nhiều mặt (công nghệ,sản
xuất,trình độ quản lý…).
Kim ngạch XNK đã tăng qua từng năm cùng với tốc độ tăng trưởng cao của
đất nước đã nâng cao mức sống cho người dân, đưa đất nước ta ra khỏi tình
trạng đói nghèo, nâng vị thế của nước ta lên một tầm cao mới. Thành công đó
chính là sự phát huy tích cực của cả nguồn nội lực và cả những nguồn lực được
tận dụng tốt từ bên ngoài. Để có cái nhìn tổng thể và khách quan về thực tại và
những năm gần đây của XNK nước ta, em chọn chuyên đề: “ Phân tích nội
dung các chính sách và các công cụ quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu. Liên
hệ thực tiễn với điều kiện Việt Nam hiện nay” để làm bài tiểu luận.
Đối tượng của đề tài là các công cụ, chính sách,chương trình…của Nhà
nước đối với vấn đề XNK, nhằm điều chỉnh hợp lý vấn đề này để mang lại một
hiệu quả tối ưu cho đất nước. Phạm vi của đề tài là tất cả các hàng hoá dịch
vụ,các ngành mà Việt Nam giao thương với thế giới. Chúng ta sẽ tìm hiểu xem
rằng các chính sách của Nhà nước ta khuyến khích ưu tiên cho những sản phẩm
hay ngành nghề nào hơn hay rằng các công cụ đó của Nhà nước tác động như
thế nào đối với XNK nước ta.
Nhiệm vụ của chuyên đề là tìm ra được những điểm mạnh điểm yếu hay
năng lực thực tế của Việt Nam trước những cơ hội , thách thức trong vấn đề
XNK để từ đó chỉ ra được những biện pháp, phương hướng cho giai đoạn hiện
tại và tiếp theo.
Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 1
BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ - MÔN HỌC: KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CÁC
sự phân biệt đối sử, đảm bảo sự có đi có lại cho các bên tham gia hợp tác và
buôn bán quốc tế.
Do môi trường kinh tế thế giới đang còn bị chi phối và tác động bởi vì mối
quan hệ chính trị và các mục tiêu phi kinh tế khác cho nên chính sách thương
mại quốc tế và chính sách thương mại XNK của mỗi quốc gia cùng phải đáp ứng
với nhiều mục tiêu cụ thể khác nhau của từng thời kỳ. Những mục tiêu chung
của chính sách thương mại XNK là nhằm điều chỉnh các hoạt động thương mại
XNK theo chiều hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
trong điều kiện mở rộng và phát triển các quan hệ hợp tác và phân công lao
động quốc tế.
* Nội dung của chính sách thương mại XNK.
Chính sách XNK bao gồm nhiều nội dung khác nhau của hoạt động xuất
nhập khẩu như xuất khẩu các hàng hoá hữu hình (như nông lâm hải sản, hàng
hoá công nghiệp, khoáng sản .v.v.) và các hàng hoá vô hình (các sản phẩm dịch
vụ như dịch vụ viễn thông, du lịch .v.v.), tạm nhập để tái xuất hay tạm xuất để
tái nhập, quá cảnh hàng hoá, chuyển giao sử dụng công nghiệp, gia công chế
biến hàng hoá xuất khẩu, đầu tư cho xuất khẩu, thuê nước ngoài gia công chế
biến, đại lí bán hàng hoá, uỷ thác hoặc nhận uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu và
XNK trực tiếp .v.v. đi cùng với chính sách này là một loạt các công cụ hỗ trợ
cho hoạt động XNK này là các chính sách như :
Chính sách thị trường và chính sách mặt hàng.
Chính sách thuế xuất nhập khẩu
Chính sách phi thuế quan
Chính sách quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái.
Chính sách cán cân thương mại và cán cân thanh toán
Chính sách tài trợ xuất khẩu
Chính sách kỹ thuật thực thi nhập khẩu
Chính sách điều chỉnh về thể chế thương mại
Chính sách điều chỉnh về khuôn khổ luật pháp
Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 3
trường đa ra để hình thành đồng bộ các loại thị trường và thực hiện chính sách
nhất quán, ổn định để các chủ thể chủ động với các tình thế trên thị trường
-Với thị trường ngoài nước: nó bao hàm những chính sách thúc đẩy xuất
khẩu và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu nh để đa dạng hoá thị trường xuất
khẩu thì cụ thể cần có chính sách cung cấp các thông tin thị trường cho các nhà
xuất khẩu.
+Chính sách thị trường nước ngoài yêu cầu tập trung chú trọng phát triển
những thị trường truyền thống đồng thời tiếp cận và phát triển thị trường mới do
vậy nhà nước đa ra những chính sách khuyến khích động viên các doanh nghiệp
tìm kiếm thị trường xuất khẩu, tìm kiếm đối tác nước ngoài của doanh nghịêp
như chính sách thưởng cho những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng từ 20%
trở lên hoặc đa ra chính sách hỗ trợ tăng cường tổ chức các cuộc gặp gỡ tiếp xúc
giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài .
+Trong chính sách việc tập trung hoạt động nghiên cứu thị trường và công
tác thông tin về thị trường có ý nghĩa hết sức quan trọng ảnh hởng lớn đến khả
năng thành công trong công tác XNK của các doanh nghiệp cũng như lợi nhuận
của họ. Vì vậy cần nâng cao hiệu quả của công tác nghiên cứu dự báo thị trường
hiệu quả đảm bảo thông tin thường xuyên, thông suốt, nhiều chiều và các thông
tin dự báo về tình hình thị trường trong nước và quốc tế. Kết hợp chặt chẽ mạng
lới thu thập thông tin chuyên ngành và đa ngành đồng thời ta cũng cần phải thấy
được vai trò của các tham tán và tuỳ viên thương mại trong việc cung cấp thông
tin tìm kiếm thị trường nước ngoài.
b) Chính sách mặt hàng:
Chính sách mặt hàng là nền tảng của chính sách thương mại quốc gia nói
chung cũng như chính sách thương mại XNK nói riêng, nó là cơ sở để xác định
đầu tư và cơ cấu lại sản xuất một cách hợp lí.
Chính sách mặt hàng bao gồm: Chính sách mặt hàng cấp quốc gia đa ra
danh mục mặt hàng được đa vào cân đối của nhà nước, được nhà nước quản lí
tập trung. Đây là những mặt hàng quan trọng đối với nền kinh tế của một nước
Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 5
BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ - MÔN HỌC: KINH TẾ QUỐC TẾ
Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng nhập khẩu, theo đó
người mua trong nước phải trả cho những hàng hoá nhập khẩu một khoản lớn
hơn mức mà người xuất khẩu ngoại quốc thu đợc. Khác với thuế nhập khẩu thuế
xuất khẩu là thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu.Thuế nhập khẩu và
thuế xuất khẩu đều tác động đến giá hàng hoá có liên quan nhưng thuế xuất khẩu
khác thuế nhập khẩu ở hai điểm: Một là, nó đánh vào hàng hoá xuất khẩu chứ
không phải hàng hoá nhập khẩu; Hai là, nó làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá
bị đánh thuế vượt quá xa giá cả trong nước (chứ không phải ngược lại), hay nói
cách khác nó hạ thấp tương đối mức giá cả trong nớc của hàng hoá có thể xuất
khẩu xuống so với mức giá cả quốc tế. Điều đó sẽ làm cho sản lượng trong nước
của hàng hoá có thể xuất khẩu giảm đi và sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất lợi
cho mặt hàng này (trong một số trường hợp việc đánh thuế xuất khẩu không làm
cho khối lượng xuất khẩu giảm đi nhiều mà vẫn có lợi nhiều cho nước xuất
khẩu). Vì vậy mà các nước công nghiệp phát triển hiện nay hầu như không áp
dụng thuế xuất khẩu cho nên thuế quan ở những nước này thường đồng nhất với
thuế nhập khẩu. Thuế nhập khẩu được áp dụng phổ biến ở các nước, tuy rằng
mức thuế có khác nhau. Đương nhiên, kết quả kinh tế của thuế nhập khẩu là làm
cho giá trị hàng hoá trong nước vượt cao hơn mức giá nhập khẩu và chính người
tiêu dùng trong nước phải trang trải cho gánh nặng thuế quan này. Bởi vậy, việc
quy định tỷ lệ thuế nhập khẩu luôn là đề tài quan tâm từ nhiều phương diện.
Thuế quan được chia làm 3 loại: thuế quan tính theo giá trị, thuế quan tính
theo số lượng và thuế quan hỗn hợp nhưng đa số các nước người ta dùng
phương pháp tính thuế quan theo giá trị hàng hoá thương mại đây là một loại
thuế đánh theo bằng tỉ lệ phần trăm theo giá trị của hàng hoá thương mạ. Phần
lớn nội dung các hiệp định thương mại quốc tế đều dùng phương pháp này để
tính thuế.
Thuế quan được biết đến từ lâu như một hình thức lâu đời nhất của chính
sách thơng mại và là một công cụ mang tính chất truyền thống làm tăng nguồn
thu cho ngân sách nhà nước.
trên các hàng hoá công nghiệp, xu hướng ngày nay của các nước là chuyển từ
hình thức thuế quan sang các hình thức phi thuế quan để bảo vệ sản xuất trong
nước. Hạn ngạch là trở ngại phi thuế quan quan trọng nhất nó là hình thức hạn
chế lượng trực tiếp đối với hàng hoá nhập khẩu hay xuất khẩu, nó ấn định mức
nhập khẩu hay xuất khẩu cao nhất của một hàng hoá trong một thời kì nhất định
thông thường qua hình thức cấp giấy phép xuất nhập khẩu. Trên thế giới quản lý
bằng hạn ngạch thường chỉ đặt ra đối với hàng nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu
có thể mang tính chất chung nhằm quy định số lượng (hoặc giá trị) nhập khẩu
đối với từng nước nhằm bảo vệ thị trường nội địa và cải thiện cán cân thanh toán
hoặc là điều kiện để mặc cả trong các cuộc thương lượng buôn bán. Hạn ngạch
nhập khẩu là một trong những biện pháp đầu tiên được đề cập đến trong các
cuộc đàm phán thương mại, nhất là khi cần thiết phải có một quyết định nhanh
chóng vẫn đảm bảo tính hiệu quả và việc vận dụng hạn ngạch nhập khẩu tương
đối đơn giản và dễ dàng hơn vì những quy định khá rõ ràng về lượng hàng và
thời gian.
Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 9
P
W
(1+t)
P
W
P
E
P
W
(1+t)
D1So
S1
S1 So
Dd
hạn ngạch).
Bên cạnh hạn ngạch nhập khẩu, ngày nay các quốc gia trên thế giới áp
dụng một loạt các biện pháp hạn chế thương mại khác ngoài thuế quan gọi là
hàng rào thương mại phi thuế quan(Nontariff trade bariers-NBT) .Thuộc NBT
có rất nhiều hình thức hạn chế xuất nhập khẩu như:
-Hạn chế xuất khẩu tình nguyện là một biện pháp hạn chế xuất khẩu mà ở
đó một quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt lượng
Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 10
BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ - MÔN HỌC: KINH TẾ QUỐC TẾ
hàng xuất khẩu sang nước mình một cách “ tình nguyện” nếu không họ sẽ áp
dụng biện pháp trả đũa kiên quyết
-Những quy định về kỹ thuật, quản lý và các quy định khác là những quy
định hoặc tập quán của các quốc gia làm cản sự lưu thông tự do hàng hoá, dịch
vụ và các yếu tố sản xuất giữa các nước.
-Những cartels quốc tế là một tổ chức của các nhà cung ứng về một hàng
hoá nào đó, phân bố ở các quốc gia khác nhau (hay một nhóm khác chính phủ)
đồng ý hạn chế sản xuất và xuất khẩu với mục đích cực đại hoá hay tăng lợi tức
của tổ chức đó.
- Bán phá giá (dumping) là xuất khẩu một hàng hoá nào đố thấp hơn giá nội
địa làm chiếm lĩnh thị trường thế giới. Hai điều kiện để các nhà độc quyền bán
phá giá là thị trường cạnh tranh không hoàn toàn và bị chia cắt. Thông thường
bán phá giá chia làm ba loại: bền vững, chớp nhoáng và không thường xuyên.
- Trợ cấp xuất khẩu là một hình thức khuyến khích xuất khẩu do các chính
phủ tiến hành trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà
xuất khẩu quốc gia hay những nhà xuất khẩu có năng lực. Bên cạch đó, chính
phủ còn thực hiện một khoản cho vay ưu đãi đối với những bạn hàng nước ngoài
để họ có điều kiện nhập khẩu các hàng hoá xuất khẩu từ quốc gia. Như vậy, trợ
cấp xuất khẩu cũng có thể đợc coi như là một hình thức của bán phá giá.
1.1.2.4 Chính sách quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái.
Đây là hình thức nhà nước đòi hỏi tất cả các khoản thu chi ngoại tệ phải
Tỷ giá thực tế cũng có thể được áp dụng cho hàng hoá phi thương mại mà
được đo bằng đơn vị của hàng hoá thương mại. Trong ngắn hạn, mối quan hệ
giữa tỷ giá thực tế và lợi nhuận của khu vực xuất khẩu và nhập khẩu được giải
thích bởi Montiel. Xem xét một nền kinh tế bao gồm 3 khu vực: xuất khẩu (X) ,
nhập khẩu (Z) và hàng hoá phi thương mại (N). Hoạt động sản xuất cần có lao
động và vốn, nhưng trong ngắn hạn , vốn đã được xác định. Lợi nhuận cũng
như mức sản lượng đầu ra tỷ lệ nghịch với chi phí sản phẩm trong từng khu vực.
Theo Montiel, tỷ giá thực tế giảm làm giảm chi phí sản phẩm trong khu vực xuất
khẩu, do vậy làm tăng lợi nhuận ngắn hạn của khu vực xuất khẩu và khuyến
Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 12
BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ - MÔN HỌC: KINH TẾ QUỐC TẾ
khích đầu tư phát triển sản xuất xuất khẩu. Hơn nữa, chi phí cận biên của khu
vực này tăng, việc duy trì tỷ giá hối đoái thực tế giảm sẽ làm tăng đầu tư và do
vậy mở rộng quy mô sản xuất xuất khẩu trong dài hạn (độ co giãn xuất khẩu
trong ngắn hạn nhỏ hơn trong dài hạn, do vậy cần thiết phải mở rộng quy mô
khu vực xuất khẩu).
Tỷ giá hối đoái được coi là một công cụ tác động tới thương mại quốc tế,
mà trước hết là tác động tới xuất nhập khẩu, trong hai trường hợp: nâng giá hoặc
giảm đồng nội tệ.
1.1.2.5 Chính sách cán cân thương mại và cán cân thanh toán
Cán cân thư ơng mại:
Cán cân kim ngạch xuất nhập khẩu vừa phản ánh “độ mở” của nền kinh tế
sự tiến triển của quốc tế công nghiệp hoá, vừa phản ánh “thể trạng sức khoẻ của
nền kinh tế” quốc gia. Tuy nhiên vấn đề không chỉ đơn thuần là xuất siêu hay
nhập siêu mà là những mục tiêu phát triển dài hạn. Ví dụ như Hàn Quốc, Đài
Loan những năm 60, Trung Quốc thập kỷ 80 - khi mà các nước này mới bắt đầu
tiến hành công nghiệp hoá đều ở trong tình trạng nhập siêu nhưng chỉ ít năm sau
trên cơ sở nhập siêu trong trạng thái “nóng” của nền kinh tế nên các nước này đã
cân bằng được xuất nhập và chuyển sang xuất siêu (Hàn quốc, Đài Loan đầu
thập kỷ 70 Trung quốc đầu thập kỷ 90). Rõ ràng chấp nhận nhập siêu trong
chính phủ cho vay và đi vay và phần lớn thực hiện dưới dạng mua hay bán tài
sản – tài sản tài chính hoặc tài sản thực.
Tổng hợp các cán cân thanh toán vãng lai và cán cân vốn là cán cân thành
toán quốc tế. Khi dòng ngoại tệ ra lớn hơn dòng vào gọi là thâm hụt cán cân
thanh toán quốc tế. Trong trường hợp ngược lại gọi đó là thặng dư cán cân thanh
toán. Cán cân vãng lai là tổng hợp các giao dịch về hàng hoá và dịch vụ được
thực hiện giữa nước ta với nước ngoài, bao gồm tất cả các hoạt động xuất nhập
khẩu chênh lệch xuất nhập khẩu chỉ là một thành phần của cán cân vãng lai
nhưng là phần quan trọng nhất. Hiện nay tất cả các nước, các tổ chức quốc tế
đều chú trọng biến động của cán cân thanh toán vãng lai.
Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 14
BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ - MÔN HỌC: KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỚI ĐIỀU KIỆN CỦA VIỆT NAM
HIỆN NAY
2.1 Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2014 của Việt
Nam.
2.1.1 Xuất khẩu hàng hoá
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 5 đạt 12,4 tỷ USD tăng 408 triệu USD so
với ước tính. Trong đó một số mặt hàng xuất khẩu tăng mạnh so với số ước tính:
Dầu thô tăng 299 triệu USD; dệt may tăng 94 triệu USD; giày dép tăng 143 triệu
USD. Ngược lại, kim ngạch hàng điện thoại và linh kiện các loại giảm khá mạnh
so với ước tính với mức giảm 589 triệu USD.
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 6 ước tính đạt 12,1 tỷ USD, giảm 2,5% so
với tháng trước, trong đó khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (kể cả dầu thô)
ước tính đạt 8,2 tỷ USD, giảm 2,7%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng
tháng Sáu giảm so với tháng trước: Điện thoại các loại và linh kiện giảm 11%;
dầu thô giảm 29,4%; sắt thép giảm 24,8%; thủy sản giảm 9,8%. Một số mặt
hàng đạt kim ngạch tăng cao: Cao su tăng 37,9%; hàng dệt may tăng 13,3%; gỗ
và sản phẩm gỗ tăng 14,3%. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Sáu tăng
10,2% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngạch ước tính đạt 13,1 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó
kim ngạch một số mặt hàng đạt giá trị tăng: Điện thoại các loại và linh kiện tăng
4,7%; giày dép tăng 22,1%; hàng dệt may tăng 23,2%; hải sản tăng 25,7%.
Đứng thứ 2 là Hoa Kỳ với kim ngạch đạt 13 tỷ USD, tăng 19,5% với kim ngạch
một số mặt hàng tăng: Hàng dệt may tăng 13,7%; giày dép tăng 21,2%; gỗ và
sản phẩm gỗ tăng 17%; điện thoại tăng 543,5%. Thị trường ASEAN đứng thứ 3
với 9,6 tỷ USD, tăng 4,8% với một số mặt hàng tăng: Điện thoại tăng 6,5%; dầu
thô tăng 19,7%; máy móc tăng 26,1%. Tiếp đến là Trung Quốc với 7,4 tỷ USD,
tăng 20,8%, trong đó dầu thô tăng 336,2%; gạo tăng 5,5%; phương tiện vận tải
và phụ tùng tăng 763,4%; xơ, sợi dệt các loại tăng 52,7%. Thị trường Hàn Quốc
ước tính đạt 2,9 tỷ USD, giảm 3,5%, trong đó kim loại thường khác và sản phẩm
giảm 2%; than đá giảm 5,6%.
Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 16
BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ - MÔN HỌC: KINH TẾ QUỐC TẾ
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm, tỷ trọng nhóm hàng
công nghiệp nặng và khoáng sản giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2013 (từ 45,6%
xuống 45,4%). Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này vẫn đạt 32,2 tỷ
USD, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp
nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 36,8%, giảm so với mức 37% của cùng kỳ
năm 2013 với kim ngạch đạt 26,1 tỷ USD, tăng 14,3%. Nhóm hàng nông, lâm
sản ước đạt 9,1 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ 2013, chiếm tỷ trọng 12,8%
so với mức 13% của năm 2013. Hàng thủy sản đạt 3,5 tỷ USD, tăng 26,5% so
với cùng kỳ năm 2013, chiếm tỷ trọng 5%, tăng so với mức 4,5% của cùng kỳ
năm 2013.
2.1.2 Nhập khẩu hàng hoá
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 5/2014 đạt 12,8 tỷ USD, tăng
377 triệu USD so với số ước tính, trong đó kim ngạch một số sản phẩm thay đổi
nhiều: Sắt thép cao hơn 315 triệu USD; phương tiện vận tải khác và phụ tùng
cao hơn 158 triệu USD. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Sáu ước tính đạt
12,3 tỷ USD, giảm 3,7% so với tháng trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư trực
trường Trung Quốc vẫn trên đà gia tăng với giá trị ước tính đạt 13,1 tỷ USD,
tăng 21,2%. Thị trường ASEAN đạt 11,2 tỷ USD, tăng 5,9%, trong đó xăng dầu
tăng 6,6%; máy móc tăng 26%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 144,3%; chất dẻo tăng
8,4%. Hàn Quốc đạt 10,4 tỷ USD, tăng 4,7% với mặt hàng máy vi tính tăng 2%;
máy móc thiết bị tăng 12,2%; vải tăng 10,5%. Nhật Bản đạt 5,6 tỷ USD, tăng
1,5%, trong đó máy móc tăng 15,7%. EU đạt 4,5 tỷ USD, giảm 5% với kim
ngạch nhập khẩu một số mặt hàng giảm: Phương tiện vận tải và phụ tùng giảm
69,9%; thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 3,8%; sữa và sản phẩm từ sữa giảm
8%. Hoa Kỳ đạt 3,2 tỷ USD, tăng 24%, trong đó máy vi tính tăng 41,1%; máy
móc thiết bị tăng 13,7%; bông tăng 19,3%.
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm nay, tỷ trọng nhóm
hàng tư liệu sản xuất ước tính chiếm 93,4% (năm 2013 là 93,3%) với kim ngạch
đạt 64,96 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ 2013. Trong đó, máy móc, thiết bị,
dụng cụ phương tiện vận tải và phụ tùng chiếm 36,3% tổng kim ngạch nhập
Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 18
BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ - MÔN HỌC: KINH TẾ QUỐC TẾ
khẩu (cùng kỳ năm trước là 36,1%) với kim ngạch đạt 25,3 tỷ USD, tăng 11,7%
so với cùng kỳ năm 2013; tỷ trọng nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu là 57,1%,
xấp xỉ cùng kỳ năm 2013 và kim ngạch đạt 39,7 tỷ USD, tăng 10,7%; nhóm
hàng vật phẩm tiêu dùng chiếm tỷ trọng 6,6%, không biến động so với tỷ trọng
của cùng kỳ năm trước với kim ngạch ước tính đạt 4,6 tỷ USD, tăng 9,5%.
Kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 5 cùng tăng nên mức nhập siêu đạt
369 triệu USD, xấp xỉ số ước tính 400 triệu USD. Nhập siêu tháng 6 ước tính
200 triệu USD, bằng 1,7% kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, kéo xuất siêu 6 tháng
đầu năm 2014 xuống còn 1,3 tỷ USD, bằng 1,9% kim ngạch hàng hóa xuất
khẩu. Trong 6 tháng, khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất
siêu khá cao với 8,5 tỷ USD, tăng 47,5%; khu vực trong nước tiếp tục nhập siêu
với 7,2 tỷ USD, tăng 6,5%. Nhập siêu khu vực doanh nghiệp trong nước tăng
chưa thể khẳng định sản xuất trong nước phục hồi vì phần lớn hàng nhập khẩu
chủ yếu phục vụ cho hoạt động gia công, lắp ráp của khu vực doanh nghiệp đầu
Luật thuế giá trị gia tăng quy định việc áp dụng thuế suất 0% không theo mặt
hàng hay nhóm hàng như các mức thuế suất 5%, 10% hoặc 20% được quy định
theo mục đích và hàng hoá xuất khẩu. Luật thuế giá trị gia tăng quy định việc áp
dụng thuế suất 0% không theo mặt hàng hay nhóm hàng như các mức thuế suất
5%, 10% hoặc 20% được quy định theo mục đích và hàng hoá xuất khẩu. Điều
này có nghĩa là bất cứ mặt hàng nào thuộc đối tượng chịu thuế VAT khi đem
xuất khẩu đều được áp dụng thuế suất 0% và được hoàn thuế VAT đầu vào. Như
vậy cùng với việc khuyến khích xuất khẩu, kích thích sản xuất cùng với vấn đề
giải quyết việc làm, hàng hoá đặc biệt khi xuất khẩu được bình đẳng với hàng
hoá khác khi xuất khẩu .
2.2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái.
Cũng giống như các biến số kinh tế vĩ mô khác, tỷ giá hối đoái rất nhạy cảm với
sự thay đổi của nó có những tác động rất phức tạp, ảnh hưởng đến toàn bộ nền
kinh tế quốc dân theo những tác động khác nhau thậm chí trái ngược nhau. Đưa
đến những kết quả khó lường trước, đụng chạm không chỉ tới xuất nhập khẩu,
Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 20
BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ - MÔN HỌC: KINH TẾ QUỐC TẾ
cán cân thương mại mà còn tới mặt bằng giá cả, lạm phát và tiền lương thực tế,
đầu tư và vay nợ nước ngoài, ngân sách nhà nước ,cán cân thanh toán quốc tế
cũng như sự ổn định kinh tế vĩ mô nói chung .
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, xuất khẩu là một trong những nguồn cung
ngoại tệ chủ chốt song cung cầu ngoại tệ luôn luôn căng thẳng và VND không
có khả năng chuyển đổi hoàn toàn nên trong thời gian tới vẫn tập chung ngoại tệ
vào các ngân hàng, để ngân hàng thống nhất ngoại hối. Đồng thời tự do hoá
quyền sở hữu và sử dụng ngoại tệ, đặt ngoại tệ thành một hàng hoá đặc biệt
được trao đổi trên thị trường. Đẩy mạnh các biện pháp khuyến khích không tiêu
dùng tiền mặt trong thanh toán ngoại tệ, mở rộng tiến tới tự do hoá mở và sử
dụng tài khoản nước ngoài và kinh tế trong nước. Để kích thích xuất khẩu giảm
dần tiến tới xoá bỏ việc bảo đảm cân đối ngoại tệ từ phía chính phủ. Mở rộng
quyền sử dụng ngoại tệ của các doanh nghiệp xuất khẩu, tăng cường quyền hạn
cầu. Do đó, tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là giải
pháp quan trọng húc đẩy xuất khẩu. Trong đề án này em xin đưa ra giải pháp thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy xuất khẩu .
Trước tiên, cần phải khẳng định rằng, trong thời gian qua khu vực có vồn đầu tư
nước ngoài cung cấp cho xã hội khối lượng hàng hoá ngày càng lớn, nhất là
hàng hoá xuất khẩu và thay thế nhập khẩu Trong những năm tới Nhà nước liên
tục có những điều chỉnh chính sách đầu tư nước ngoài nhằm phát huy vai trò của
nố đối với hoạt động xuất khẩu thông qua: Bổ sung nguồn vốn cho doanh
nghiệp, chuyển giao công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, mở rộng
thị trường
Như vậy có thể thấy rằng gia tăng quy mô và nâng cao hiệu quả sử dung vốn
đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là một trong những giải pháp hữu hiệu nhất nhằm
đạt mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu .
Hoạt động xuất khẩu nói chung và hoạt động thuỷ sản nói riêng đều “khát vốn”.
Như ta đã biết, ngành khai thác và chế biến thuỷ sản có tiềm năng phát triển rất
lớn mà quy mô vốn đầu tư mới chỉ đáp ứng được 20%. Trong đó chưa kể đầu tư
Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 22
BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ - MÔN HỌC: KINH TẾ QUỐC TẾ
còn chưa đồng bộ mang nặng tính tự phát khiến dự án thuỷ sản chưa phát huy
được hiệu quả.
Có lẽ việc quy hoạch vùng nuôi còn dang dở nên các tổ chức cho vay tín dụng tỏ
ra khá e dè trong việc thẩm định dự án vay vốn để nuôi trồng. Đây là nguyên
nhân đầu tiên khiến cho khu vực nuôi thuỷ sản “khát vốn”
Hiện nay, nhiều tỉnh chưa có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội hoặc
có nhưng lại không cập nhật với thực tiễn cộng với việc chưanh chấp và thiếu
phân định rõ ràng giữa nuôi trồng thuỷ sản và đất nông nghiệp gây trở ngại
klhông nhỏ cho quá trình xét duyệt cấp vốn.
Theo các chuyên gia thuỷ sản, trong khi vốn trong nước còn hạn chế thì việc thu
hút thêm nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài sẽ giúp ngành thuỷ sản thành
công.
tầng trong các khu vực địa lý được phân định rõ theo các khu chế xuất có thể
góp phần xúc tiến xuất khẩu trong một thời gian tương đối ngắn thông qua khả
năng cung cấp cho các nhà công nghiệp Việt Nam nhiều kinh nghiệm, kiến thức
chuyên môn về quản lý, marketing, thu hút công nghệ,…Tuy nhiên lợi ích của
khu chế xuất mang lại không được như người ta mong đợi nên không coi chúng
là biện pháp xúc tiến xuất khẩu. Ở Việt Nam, chúng ta áp dụng biện pháp xúc
tiến xuất khẩu sau:
Thứ nhất, về tỷ giá hối đoái: Việt Nam áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái thống
nhất. Ngày 27/2/1998, thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt nam ra quyết định
45/QĐ-NH về việc quy định nguyên tắc ấn định tỷ giá mua, bán ngoại tệ của các
tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ trong phạm vi biên độ dao động
± 5% so với tỷ giá chính thức do thống đốc ngân hàng công bố hàng ngày. theo
quyết định 16-1998 QĐNHNN7 ra ngày 10/1/1998 thì biên độ này là ±10 so với
tỷ giá chính thức. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất
khẩu đẩy mạnh công tác xuất khẩu ở doanh nghiệp mình.
Thứ hai, về tín dụng xuất khẩu được thông qua ngân hàng thương mại. Việc mở
rộng quyền cấp tín dụng xuất khẩu cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước
Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 24
BÀI TẬP LỚN CHUYÊN ĐỀ - MÔN HỌC: KINH TẾ QUỐC TẾ
của các ngân hàng thương mại là một bước tiến lớn trong hệ thống ngân hàng.
Chủ trương chuyển hoá từ cho vay nhập khẩu sang cho vay đầu tư xuất khẩu của
các ngân hàng góp phần nâng cao hệ số sử dụng vốn.
Để khắc phục vấn đề khát vốn cho doanh nghiệp xuất khẩu ở Việt Nam đó là
một hình thức tín dụng thuê mua ra đời. Công ty cho thuê tài chính quốc tế tại
Việt Nam ra đời có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp không đủ vốn vẫn có
thể thuê được máy móc, thiết bị hiện đại để thay đổi công nghệ sản xuất, chất
lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam
trên thị trường quốc tế.
Thứ ba về chính sách lãi suất: Sự điều chỉnh linh hoạt chính sách lãi suất của
ngân hàng là một việc làm tích cực giúp doanh nghiệp xuất khẩu mạnh dạn vay