HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI
***
GIÁP THỊ HIẾU
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN NGÀNH
XÃ HỘI HỌC SAU KHI RA TRƯỜNG
(Nghiên cứu trường hợp tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI – Năm 2015
1
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN NGÀNH
XÃ HỘI HỌC SAU KHI RA TRƯỜNG
(Nghiên cứu trường hợp tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam)
Tên sinh viên: GIÁP THỊ HIẾU
Mã sinh viên: 566734
Ngành đào tạo: XÃ HỘI HỌC
Lớp: K56 XHHB
Niên khóa: 2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn: ThS.LÊ VĂN HÙNG
HÀ NỘI – Năm 2015
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này được thực hiện một cách nghiêm túc,
trung thực bằng nỗ lực nghiên cứu của chính tác giả, không gian lận, không
sao chép từ các tài liệu khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của toàn bộ nội dung khóa
luận tốt nghiệp.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT (NẾU CÓ)
[Sắp xếp theo alphabet chữ cái của từ viết tắt]
TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
ĐH, CĐ Đại học, Cao đẳng
HSSV Học sinh, Sinh viên
TCCN
PVS
Trung cấp chuyên nghiệp
Phỏng vấn sâu
8
1. Đặt vấn đề
Trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cải cách
giáo dục hiện nay, nhất là việc cung cấp các sản phẩm đào tạo theo nhu cầu của
xã hội, các trường Đại học (ĐH), Cao đẳng (CĐ) cần phải quan tâm đến vấn đề
việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Hiện nay tuy thị trường việc làm ngày
càng được mở rộng cùng với nền kinh tế mở cũng mở ra nhiều cơ hội mới, thế
nhưng nó vẫn không thể bắt kịp với sự gia tăng của số lượng sinh viên tốt nghiệp
ĐH lần đầu tiên với mong muốn tìm được việc làm cho mình để tránh tình trạng
thất nghiệp.
Quy mô các trường ĐH, CĐ xuất hiện ngày càng nhiều trong khi đó đầu ra cho
sinh viên học xong tốt nghiệp chưa lo được, nhiều sinh viên ra trường thất nghiệp
hoặc làm trái ngành nghề. Câu hỏi được đặt ra ở đây là với số trường ĐH, CĐ tăng lên
như vậy thì có đáp ứng được yêu cầu về chất lượng đào tạo và giảng dạy? Có quan
tâm được đến việc học tập của sinh viên không hay chỉ đào tạo một cách tràn lan, ồ ạt
mà không quan tâm đến chất lượng? Theo Quân đội nhân dân - Theo Quy hoạch phát
triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020, trong 10 năm tới cả nước sẽ có khoảng
30,5 triệu lao động qua đào tạo. Dự kiến mạng lưới trường đại học (ĐH) và cao đẳng
(CĐ) vào năm 2020 sẽ có tổng cộng 573 trường, trong đó 259 trường ĐH và 314
trường CĐ; trong giai đoạn 2011-2015 sẽ thành lập thêm 158 trường (70 trường ĐH
và 88 trường CĐ). Đối với mạng lưới các cơ sở dạy nghề, đến năm 2015, có 190
yêu cầu của nhà tuyển dụng, yêu cầu của thị trường?
Để giải quyết vấn đề này thì trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước ta
luôn đặt vấn đề việc làm lên vị trí hàng đầu trong các chính sách về kinh tế - xã hội.
10
Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã nhấn mạnh “đảm
bảo công ăn việc làm cho dân là mục tiêu xã hội hàng đầu, không để thất nghiệp trở
thành bệnh kinh niên. Nhà nước chú trọng đầu tư việc làm, đồng thời tạo điều kiện
cho các thành phần kinh tế và người lao động tạo thêm chỗ làm việc và tự tạo việc
làm, khuyến khích các tổ chức và cá nhân cùng Nhà nước tổ chức tốt dịch vụ giới”
(Văn kiện ĐH Đảng VIII, 2011).
Trước những vấn đề bức xúc của xã hội về vấn đề việc làm thì sinh viên ngành
Xã Hội Học cũng không tránh khỏi những lo toan suy nghĩ về việc làm trong tương lai
của mình sau khi ra trường. Vậy thực trạng việc làm của sinh viên trong ngành sau khi
ra trường hiện nay là như thế nào? Sinh viên ra trường làm gì? Làm việc ở đâu? Làm
như thế nào? Có làm đúng ngành nghề được đào tạo hay không? Họ có hài lòng với
công việc hiện tại? Thu nhập ra sao? v.v… Nhận thấy được những vấn đề bức thiết
này, vậy nên tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Thực trạng việc làm của sinh viên
ngành Xã Hội Học sau khi ra trường” – Nghiên cứu trường hợp tại Học viện Nông
nghiệp Việt Nam để làm rõ thực trạng này.
2. Tổng quan tài liệu
2.1. Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu
2.1.1. Lý thuyết về việc làm của J.M.Keynes
J.M.Keynes (1883-1946) là nhà kinh tế người Anh. Tác phẩm nổi tiếng của ông
là cuốn “Lý luận chung về việc làm, lãi xuất và tiền tệ” xuất bản năm 1936. Trong tác
phẩm này ông xem xét việc làm trong mối quan hệ giữa sản lượng – thu nhập – tiêu
dùng – đầu tư – tiết kiệm – việc làm.
Vấn đề quan trọng nhất, nguy hiểm nhất đối với chủ nghĩa tư bản là khối lượng
thất nghiệp và nguyên nhân. Khuynh hướng tiết kiệm ngày càng gia tăng: khi sản xuất
tăng lên thì thu nhập tăng lên, thu nhập chia làm hai bộ phận là tiêu dùng và tiết kiệm
(để dự phòng cho tương lai). Khi thu nhập tăng thì bộ phận tiêu dùng có thể tăng tuyệt
thu nhập thấp sang khu vực thành thị có thu nhập cao hơn. Như vậy, quá trình di
chuyển lao động mang tính tự phát, phụ thuộc vào sự lựa chọn, quyết định của cá
nhân. Điều này làm cho cung về lao động ở từng vùng không ổn định, gây khó khăn
cho chính phủ trong việc quản lý lao động nhân khẩu.
Mô hình Harris Tadaro cho phép giải thích được lý do tồn tại tình trạng thất
nghiệp ở các đô thị tại các nước đang phát triển, và tại sao người dân lại chuyển tới
các thành phố mặc dù đang tồn tại nan giải vấn đề thất nghiệp. Để giải quyết vấn đề
này, mô hình Harris – Todaro thừa nhận sự tồn tại của khu vực kinh tế phi chính thức.
Đó là khu vực kinh tế bao gồm các hoạt động, không hoàn toàn là bất hợp pháp,
nhưng thường cũng không được sự thừa nhận chính thức của xã hội và hầu hết các
hoạt động này đều không đăng ký với nhà nước.
Ví dụ: lao động phục vụ gia đình, hành nghề tự do, bán hàng rong, mài dao kéo,
dịch vụ ăn uống vỉa hè, thu lượm ve chai đồng nát, đánh giày, v.v…
2.1.3. Lý thuyết mạng lưới xã hội
Đại diện tiêu biểu: Peter Blau, Marx, Simmel
Theo quan điểm của các nhà lý thuyết mạng lưới, công việc cơ bản của nhà xã
hội học (XHH) là nghiên cứu cấu trúc bên trong của xã hội. Đó là cấu trúc của các
mối liên hệ xã hội, tương tác xã hội và quan hệ xã hội giữa các cá nhân. Cách thức
trực tiếp để nghiên cứu một cấu trúc xã hội là phân tích các khuôn mẫu khách quan
của các liên hệ nối kết các thành viên của nó.
Thuyết mạng lưới thường tập trung nghiên cứu các cấu trúc xã hội từ vi mô tới
vĩ mô với những nối kết xảy ra ở cấu trúc xã hội vĩ mô cũng như ở các cấp độ vi mô.
Cái cơ bản đối với các nối kết đó là ý tưởng rằng, bất kỳ chủ thể nào cũng có những
lối vào riêng biệt tới các tiềm năng giá trị (tài sản, quyền lực, thông tin). Kết quả là
13
các hệ thống cấu trúc có xu hướng bị phân tầng, với một số thành tố phụ thuộc vào
một số khác.
Một khía cạnh chủ yếu của phân tích mạng lưới là có xu hướng đưa các nhà
XHH ra khỏi việc nghiên cứu các nhóm xã hội, các phạm trù xã hội để đi tới việc
nghiên cứu các liên hệ giữa các chủ thể mà “không được ràng buộc đầy đủ và không
động có thể lựa chọn. Cùng lúc đó, cấu trúc xã hội kìm hãm một cách riêng biệt khả
năng thực hiện hành động của các chủ thể. Các hành động được thực hiện đó cuối
cùng là một chức năng nối kết của các chủ thể trong việc theo đuổi các quan tâm của
họ đối với khả năng hạn chế của họ, khi mà các quan tâm và khả năng đều được định
khuôn bởi cấu trúc xã hội. Cuối cùng các hành động được thực hiện dưới sự kìm hãm
của cấu trúc xã hội có thể sửa đổi chính bản thân cấu trúc, và các sửa đổi này có tiềm
năng tạo ra các kìm hãm mới mà các chủ thể phải đối phó trong lòng cấu trúc.
2.2. Các nghiên cứu liên quan
2.2.1. Các đề tài nghiên cứu về thực trạng việc làm của sinh viên
Việc làm của sinh viên sau khi ra trường đang là mối quan tâm và lo lắng hàng
đầu của xã hội nói chung và của bản thân sinh viên nói riêng. Theo báo cáo kết quả
thăm dò học sinh, sinh viên (HSSV) tốt nghiệp có làm đúng ngành nghề đào tạo sau 6
tháng 1 năm. Qua kết quả điều tra, HSSV khi theo học các ngành tại trường hầu hết là
phù hợp với nguyện vọng của bản thân với 133 trường hợp chiếm 96.4%, chỉ có 5
trường hợp chiếm 3.6% là học ngành không đúng với nguyện vọng. Thông qua kết
quả khảo sát, đa số sinh viên tốt nghiệp tại trường Cao đẳng Sơn La có việc làm đúng
với ngành nghề đào tạo có 109 trường hợp chiếm 79% và có 29 trường hợp chiếm
21% làm việc không đúng ngành nghề đào tạo. Như vậy, những ngành nghề đào tạo
15
của trường đã phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Có tới 114
trường hợp chiếm 82.6% đưa ra ý kiến là hài lòng và rất hài lòng có 15 trường hợp
chiếm 10.9% là thấy bình thường và chỉ có 9 trường hợp chiếm 6.5% không hài lòng
và rất không hài lòng với công việc hiện tại của mình đang làm. Như vậy, đa số HSSV
sau khi tốt nghiệp, tham gia làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp đều cảm thấy hài
lòng với công việc của mình đang làm. Khi điều tra về mức thu nhập thì nhìn chung là
HSSV ra trường có mức thu nhập trung bình khá trở lên, trong từng lĩnh vực công việc
mà thu nhập cũng có sự khác biệt. Thu nhập dưới 3 triệu chiếm 83.3%, thu nhập trên 3
triệu chiếm 8%, thu nhập dưới 2 triệu chiếm 6.5% và dưới 1 triệu là 2.2% (Ngô Thị
Dung, 2012).
Cũng nghiên cứu về việc làm của sinh viên sau khi ra trường thì theo khảo sát
khó khăn mà người sử dụng lao động đòi hỏi như: cần phải có kinh nghiệm làm việc
(64.5%) và các kỹ năng mềm (67.4%). Có 67.9% HSSV có ý kiến là không gặp khó
khăn về Anh văn (56.5%) không gặp khó khăn về Vi tính (63%). Do khảo sát HSSV
tốt nghiệp với nhiều ngành nghề khác nhau nên những khó khăn mà sinh viên tốt
nghiệp ra trường gặp phải cũng do yếu tố ngành nghề quyết định. Kết quả khảo sát
cho thấy, có 99 trường hợp chiếm 71.8% HSSV tốt nghiệp cho rằng người sử dụng lao
động yêu cầu người lao động nắm vững lý thuyết và thực hành, có 32 trường hợp
chiếm 23.2% yêu cầu thực hành tốt và chỉ có 7 trường hợp chiếm 5% yêu cầu nắm
vững lý thuyết. Do vây, với xu hướng hiện nay người sử dụng lao động yêu cầu người
lao động phải nắm vững lý thuyết cũng như thực hành tốt liên quan đến ngành nghề
đào tạo (Ngô Thị Dung, 2012).
17
Cũng nghiên cứu về “Việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên ngành xã hội
học, thực trạng và giải pháp” cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc về thực trạng việc làm
sau khi tốt nghiệp của sinh viên ngành xã hội học hiện nay. Từ đó đưa ra những
khuyến nghị nhằm giúp khoa và nhà trường có những đánh giá và điều chỉnh hợp lý
về chương trình học, phương pháp dạy nhằm nâng cao nhận thức về những kĩ năng
cần thiết, cơ bản, cũng như những kĩ năng mềm cho sinh viên để giúp sinh viên có thể
đáp ứng được tốt nhất yêu cầu của nhà tuyển dụng khi đi xin việc. Thêm vào đó cũng
đề cập đến vai trò của nhà tuyển dụng với mục đích tạo ra sự kết hợp chặt chẽ giữa
đơn vị đào tạo và đơn vị tuyển dụng, tạo ra sự hài hòa, thống nhất giữa cung và cầu
trong vấn đề đào tạo cũng như việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp (Vũ Thị Huệ,
2014).
Nghiên cứu về “Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp của sinh viên
hiện nay” đã chỉ ra được các nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp của sinh viên
hiện nay, qua đó tác giả cũng thể hiện được quan điểm riêng của mình về vấn đề này.
Tuy nhiên bài viết chỉ thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả, cần có cái nhìn khách
quan hơn để nhận thức đúng và hiểu rõ được việc làm của sinh viên sau khi ra trường
là như thế nào (Hạnh Phúc, 2013).
“Việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp” có 78% sinh viên sư phạm được khảo
trường khi tiến hành nghiên cứu tất cả các khoa trong trường nên trong nghiên cứu
của mình tôi cũng chỉ tiến hành nghiên cứu về một khoa trong trường. Đó là khoa Lý
luận chính trị và xã hội thuộc chuyên ngành Xã Hội Học của trường Học viện Nông
nghiệp Việt Nam để tìm hiểu về thực trạng việc làm của sinh viên sau khi ra trường và
các yếu tố tác động đến việc làm của sinh viên khi ra trường tại Học viện.
19
2.3. Các khái niệm liên quan đến đề tài
• Khái niệm việc làm
Tại Việt Nam, theo điều 13, chương II Bộ luật lao động của nước Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì khái niệm việc làm được hiểu là: “Mọi hoạt động lao
động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
Giải quyết việc làm đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội việc
làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội” (Bộ luật lao
động, 1994).
• Khái niệm người có việc làm
Người có việc làm: là người thuộc lực lượng lao động trong vòng 1 tuần trước
cuộc điều tra thỏa mãn một trong các điều kiện sau:
+ Làm việc ít nhất 01 giờ để lấy tiền công và lợi nhuận.
+ Làm việc ít nhất 15h không lấy tiền công ở gia đình.
+ Tạm thời không làm việc gì vì ốm đau, nghỉ phép, v.v…
(Bộ luật lao động, 1994)
• Khái niệm thất nghiệp
Thất nghiệp: Tại điều 20, Công ước số 102 năm 1952 của tổ chức lao động
quốc tế ILO về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội định nghĩa, “thất nghiệp là tình
sự ngừng thu nhập do người đó không có khả năng tìm được một việc làm thích hợp
trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc” (Bộ luật lao
động, 1994).
• Khái niệm thất nghiệp hữa hình
20
Thất nghiệp hữa hình: là những người có đủ việc làm làm đủ thời gian thậm chí
- Tìm hiểu các yếu tố tác động đến việc làm của sinh viên sau khi ra trường
tại Học viện.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng việc làm của sinh viên ngành Xã Hội Học sau khi ra trường
4.2. Khách thể nghiên cứu
Sinh viên ngành Xã Hội Học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã ra trường K54
và K55.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Tìm hiểu về thực trạng việc làm của sinh viên ngành Xã Hội
Học sau khi ra trường hiện nay.
- Phạm vi thời gian: từ tháng 12 đến tháng 6 năm 2015.
- Phạm vi không gian: đề tài nghiên cứu những sinh viên của Học viện đã tốt
nghiệp và đi làm ở các địa phương khác nhau.
22
5. Nội dung nghiên cứu
5.1. Vài nét về Khoa Lý luận chính trị và xã hội và ngành Xã Hội Học
Khoa lý luận chính trị và xã hội thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam (trước
đây là trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội) được thành lập vào ngày…tháng…năm
2009 do cô Lê Thị Ngân làm trưởng Khoa. Khoa bao gồm 5 bộ môn, đó là: Bộ môn
Đường lối Cách mạng của ĐCSVN, Bộ môn Nguyên lý cơ bản của CN Mác – Lênin,
Bộ môn Pháp luật, Bộ môn Xã hội học và Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bộ môn Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, được thành lập năm
2008 dựa trên tiền thân là Bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện nay, Bộ
môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam có 5 CBGD: ThS. Tạ Quang
Giảng Trưởng Bộ môn, ThS. Vũ Hải Hà Phó Bộ môn, ThS. Trần Khánh Dư, Th.s Vũ
Thị Thu Hà, ThS. Hà Thị Hồng Yến.
Bộ môn Lý luận Mác – Lênin được xây dựng ngay từ khi thành lập Trường, với nhiệm
vụ giảng dạy các môn Lý luận Mác – Lênin cho sinh viên của toàn trường. Nhiệm vụ
quan trọng của Bộ môn là đảm nhiệm giảng dạy môn Triết học cho học viên cao học;
giảng dạy là bộ môn chuyên môn của ngành Xã hội học, hiện tại Bộ môn đảm nhiệm
20 môn học cho sinh viên chuyên ngành và sinh viên toàn trường.
Cuối cùng là Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. Năm 2001, Bộ Giáo dục và đào
tạo quyết định đưa môn học tư tưởng Hồ Chí Minh vào chương trình giảng dạy ở các
trường Đại học và Cao đẳng. Thực hiện quyết định của Bộ GD&ĐT trường Đại học
Nông nghiệp Hà Nội, khoa Mác – Lênin giao cho các giảng viên bộ môn Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam chuẩn bị, giảng dạy môn học. Đến năm 2008 bộ môn Tư
24
tưởng Hồ Chí Minh được thành lập. Khi mới thành lập bộ môn có 6 cán bộ giảng dạy
và 1 cán bộ văn phòng khoa. Bộ môn tham gia giảng dạy cho tất cả các khoa, các hệ
đào tạo của nhà trường; các học phần trong chuyên ngành Xã hội học nông thôn. Cùng
với công tác giảng dạy, đội ngũ giảng viên bộ môn tích cực trong nghiên cứu khoa học
và đã thu được những kết quả đáng ghi nhận. Bộ môn có 06 thầy cô và bộ môn do
ThS.Nguyễn Đắc Dũng làm trưởng bộ môn và ThS.Trương Thu Hạnh làm Phó bộ
môn, ngoài ra còn có đồng các thầy cô cùng tham gia vào quá trình giảng dậy trong bộ
môn.
Khoa có đội ngũ cán bộ giảng dạy đều ở trình độ Thạc Sĩ trở lên. Tính đến năm
2015, Khoa có 2 giảng viên có trình độ tiến sĩ, 27 giảng viên có trình độ thạc sĩ, 4
giảng viên có trình độ cử nhân và 2 giảng viên, mới đầu năm 2015 khoa nhận thêm 2
cử nhân nữa về làm việc tại khoa. Số sinh viên trong khoa là hơn 700 sinh viên. Là
một khoa mới thành lập tính đến nay mới được 6 năm nhưng thầy cô trong khoa đang
cô gắng để dần nâng cao chất lượng giảng dạy và đào tạo. Khoa tăng cường liên kết
nghiên cứu khoa học với các cơ quan trong và ngoài trường để nâng cao trình độ
chuyên môn cho đội ngũ giảng viên trong Bộ môn. Tiếp tục hoàn thiện đề cương bài
giảng cho tất các môn học của ngành Xã hội học mà Bộ môn đảm nhiệm, phấn đấu
đến 2015 tất cả môn học của Bộ môn đảm nhiệm đều phải có đề cương bài giảng, hệ
thống tài liệu tham khảo, v.v., để đáp ứng cho nhu cầu học tập của sinh viên trong
khoa, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và chất lượng giảng dạy phục vụ cho việc làm
của sinh viên sau khi ra trường.
Chặng đường phát triển của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đang mở rộng