GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU-CHI NHÁNH HÀ NỘI - Pdf 26

Chuyên Đề Tốt Nghiệp 1 Khoa Ngân Hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Những năm gần đây, cạnh tranh trên thị trường ngân hàng diễn ra quyết liệt
với nhiều loại hình sản phẩm mới được các ngân hàng triển khai và cung cấp tới
khách hàng. Để nâng cao hiệu quả hoạt động và với mục tiêu phát triển bền vững,
các ngân hàng không ngừng nghiên cứu, phát triển các sản phẩm ngân hàng bán
lẻ, trong đó có các sản phẩm cho vay tiêu dùng và các sản phẩm này ngày càng
khẳng định vị trí của nó trong các sản phẩm cho vay của Ngân hàng thương mại.
Một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho ngân hàng có vị trí thống
trị trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng so với các tổ chức tài chính khác là ngân hàng
đã không ngừng khai thác nguồn tiền gửi của dân cư và coi đây là nguồn vốn hoạt
động quan trọng nhất. Rất nhiều hộ gia đình sẽ không muốn gửi tiền của mình
vào một ngân hàng nếu họ không thấy được rằng mình sẽ có triển vọng vay lại
tiền từ chính ngân hàng đó khi họ có nhu cầu.
Một yếu tố khách quan khác làm cho hoạt động cho vay tiêu dùng phát
triển là xuất phát từ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Thông qua các
mối quan hệ này, ngân hàng thấy được nhu cầu từ phía các nhà sản xuất lẫn người
tiêu dùng. Các nhà sản xuất cần có sự hỗ trợ để gia tăng số lượng hàng hoá tiêu
thụ, người tiêu dùng cần tìm người tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu của mình.
Như vậy, với xu hướng ngày càng phát triển của nền kinh tế thế giới, nhu
cầu đòi hỏi của người dân ngày càng cao. Sự gia tăng không ngừng của các chi
nhánh Ngân hàng nước ngoài cũng như các tổ chức tài chính phi ngân hàng tạo
sức ép đối với các ngân hàng thương mại trong nước cải tiến công nghệ, nâng cao
năng lực quản trị điều hành, đa dạng hóa sản phẩm. Sự phát triển của cho vay
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn Lớp: NHA- LTĐH8
Chuyên Đề Tốt Nghiệp 2 Khoa Ngân Hàng
tiêu dùng là một tất yếu khách quan, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của
các ngân hàng và làm tăng mối quan hệ bền vững giữa ngân hàng và khách hàng.
Ngân hàng TMCP Á châu là một ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếu
tập trung vào đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, tầng lớp dân cư trung lưu ở đô

và tổng kết thực tiễn.
5. Kết cấu chuyên đề: Bao gồm 3 chương
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Chương 2: THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI ACB-CHI
NHÁNH HÀ NỘI
Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM MỞ RỘNG
CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI ACB-CHI NHÁNH HÀ NỘI
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn Lớp: NHA- LTĐH8
Chuyên Đề Tốt Nghiệp 4 Khoa Ngân Hàng
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY
TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Ngân hàng thương mại và hoạt động cơ bản của NHTM
Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 được Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 7 thông qua
ngày 16/06/2011 đã quy định: “Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức
kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của
khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện
nhiệm vụ chiết khấu và các phương tiện thanh toán”. Như vậy, ba hoạt động chủ
yếu của NHTM là huy động vốn, sử dụng vốn và làm dịch vụ thanh toán.
NHTM thực hiện huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Ngân hàng tạo
lập nguồn vốn của mình từ các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế dưới các
hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi phát séc. Theo thời
gian, hoạt động huy động vốn của NHTM cũng phong phú hơn như có thêm hình
thức vay vốn từ dân cư, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước bằng cách chủ
động phát hành kỳ phiếu hay trái phiếu ngân hàng. Ngoài ra, NHTM còn được
vay vốn từ các NHTM khác, vay nước ngoài, vay Ngân hàng Trung ương dưới
hình thức tái chiết khấu.
Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng sẽ sử dụng vốn đó để cho

sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ
người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian thu hồi về một lượng giá
trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu với những điều kiện mà hai bên thoả thuận với
nhau. Có rất nhiều hình thức tín dụng khác nhau như tín dụng ngân hàng, tín dụng
thương mại, tín dụng Nhà nước, tín dụng thuê mua Tuy nhiên, ngày nay khi nói
tới tín dụng người ta thường nghĩ ngay tới tín dụng ngân hàng và đồng nhất tín
dụng với cho vay của ngân hàng. Sau đây, cũng xin đề cập tới tín dụng xét dưới
khía cạnh cho vay.
Hoạt động tín dụng của NHTM là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một
bên là ngân hàng (bên cho vay) với một bên là tất cả các doanh nghiệp, tổ chức,
cá nhân trong xã hội (bên đi vay) trong đó ngân hàng chuyển giao một lượng tiền
cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay
có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh
toán.
Như vậy, tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín
dụng đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả gốc và lãi sau một khoảng thời gian
nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, trong quan hệ
này hai bên bình đẳng cùng có lợi. Tín dụng nói chung là quan hệ vay mượn, gồm
cả cho vay và đi vay, nhưng khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định như ngân hàng
thường chỉ bao hàm nghĩa cho vay. Hoạt động tín dụng của NHTM có ý nghĩa
quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế vì nó chính là nguồn hỗ trợ cho yêu cầu
phát triển, đáp ứng vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt, kịp thời.
Tín dụng là hoạt động đem lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Lãi suất
thu được từ cho vay sẽ dùng để bù đắp chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí
kinh doanh, chi phí quản lý, chi phí thuế và các khoản chi phí khác. Với vai trò
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn Lớp: NHA- LTĐH8
Chuyên Đề Tốt Nghiệp 7 Khoa Ngân Hàng
quan trọng như vậy, NHTM đã có rất nhiều hình thức cho vay khác nhau để đáp
ứng nhu cầu của các tổ chức kinh tế và các cá nhân nhằm đem lại lợi nhuận cao
nhất.

- Cho vay không có thời hạn cụ thể: là loại cho vay mà ngân hàng có thể
yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước
một thời gian hợp lý, thời gian này có thể được thoả thuận trong hợp đồng.
Ngoài các hình thức chủ yếu trên còn có các hình thức cho vay khác tuỳ
vào điều kiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đặc điểm của khách hàng
vay như theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp ), theo đối tượng tín dụng (tài
sản lưu động, tài sản cố định), theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng).
1.2. CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng (CVTD) là các khoản cho vay được thực hiện để tài trợ
cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Tùy thuộc vào tình hình tài chính của mình mà
người vay có nhu cầu vay khác nhau. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài
chính quan trọng giúp những người vay trang trải nhu cầu mua sắm, sửa chữa, cải
tạo, nâng cấp nhà ở; đồ dùng gia đình và xe cộ Bên cạnh đó, những chi tiêu cho
nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng.
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn Lớp: NHA- LTĐH8
Chuyên Đề Tốt Nghiệp 9 Khoa Ngân Hàng
Trên thực tế, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về CVTD. Sự khác
nhau đó xuất phát từ đặc trưng của cho vay tiêu dùng ở mỗi nước có phần khác
nhau. Ở nhiều nước, khái niệm CVTD không bao hàm khoản cho vay để mua nhà
cửa mà chỉ là những khoản cho vay để mua các động sản như ô tô, các đồ điện
dân dụng và cho các nhu cầu sinh hoạt khác (sinh đẻ, cưới xin, du lịch ).
CVTD cho phép sử dụng trước khả năng mua, do đó tác động gián tiếp
kích thích sản xuất phát triển. Trong những giai đoạn mà nền kinh tế ở trạng thái
giảm phát, mở rộng CVTD là đòn bẩy để kích cầu, tạo động lực cho các nhà sản
xuất tăng đầu tư, mở rộng sản xuất góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Song trong giai đoạn lạm phát, nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng bị hạn chế,
CVTD bị thu hẹp.
1.2.2. Đặc điểm cho vay tiêu dùng
1.2.2.1. Quy mô của từng hợp đồng CVTD thường nhỏ nhưng số lượng

theo tháng, quí hơn là lãi suất họ phải chịu.
1.2.2.5. Thu nhập và trình độ học vấn có tác động rất lớn đến việc sử
dụng các khoản tiền vay của người tiêu dùng.
Người có thu nhập cao thường có nhu cầu tiêu dùng lớn hơn người có thu
nhập thấp đặc biệt là các nhu cầu về học tập để nâng cao tri thức, cải thiện điều
kiện sống và sinh hoạt.
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn Lớp: NHA- LTĐH8
Chuyên Đề Tốt Nghiệp 11 Khoa Ngân Hàng
1.2.2.6. Tư cách khách hàng là yếu tố rất khó xác định song lại rất quan
trọng, quyết định đến sự hoàn trả khoản vay.
Nếu khách hàng là người có tư cách đạo đức tốt, họ sẽ ý thức hơn trong
việc hoàn trả khoản vay đầy đủ và đúng hạn.
1.2.2.7. CVTD thường có rủi ro cao hơn
Các khoản cho vay trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh do nguồn trả nợ độc
lập với khoản vay, chủ yếu là từ thu nhập của người đi vay mà nguồn thu nhập
này có thể biến động lớn phụ thuộc vào quá trình làm việc, tình hình kinh tế
chung hay tình hình sức khỏe của họ. Thêm vào đó, việc thẩm định và quyết định
cho vay đối với một khoản cho vay tiêu dùng cũng thường gặp khó khăn do vấn
đề thông tin không đầy đủ hoặc thiếu chính xác.
1.2.3. Phân loại cho vay tiêu dùng
CVTD được phân loại dựa trên các tiêu thức tương tự trong phân loại cho
vay nói chung:
1.2.3.1. Căn cứ thời hạn vay.
- CVTD ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống
- CVTD trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm
- CVTD dài hạn: Trên 5 năm
Thông thường, cho vay tiêu dùng có thời hạn vay là ngắn hạn hoặc trung
hạn. Các sản phẩm cho vay tiêu dùng dài hạn là rất ít, chỉ mới có một số ngân
hàng triển khai. Việc phân chia CVTD theo thời gian có liên quan mật thiết với
phương thức hoàn trả của khoản vay đó.

Chuyên Đề Tốt Nghiệp 13 Khoa Ngân Hàng
Trong đó: T là số tiền phải trả ngân hàng khi đến kỳ hạn; C là vốn gốc; I là
số tiền lãi khách hàng phải trả cho ngân hàng; n là số kỳ hạn trả nợ; i là lãi suất
cho vay mỗi kỳ hạn.
- Phương pháp lãi đơn: Theo phương thức này vốn gốc được thanh toán
đều nhau giữa các kỳ hạn, tiền lãi được tính theo số dư nợ còn lại theo công thức
sau:
T(k) = Tv + TL (k)
Với Tv = C/n
Trong đó: T(k) là số tiền thanh toán ở kỳ k; Tv là số vốn gốc phải thanh
toán ở mỗi kỳ hạn; C là vốn gốc; TL(k) là lãi khách hàng phải trả trong kỳ hạn k;
i là lãi suất cho vay mỗi kỳ hạn.
- Phương pháp hiện giá: Theo phương pháp này, số tiền thanh toán mỗi kỳ
hạn (bao gồm cả gốc và lãi) bằng nhau theo công thức sau:

T =
Cxi

– (1+i)
n
(1+i)
n
- 1
b. CVTD phi trả góp (trả một lần): là khoản cho vay trong đó khách hàng
chỉ thanh toán cho ngân hàng một lần khi đến hạn. Quy mô của những khoản vay
này tương đối nhỏ, thời gian vay thường là ngắn hạn. Phần lớn các khoản vay loại
này được dùng để chi trả tiền viện phí, mua sắm vật dụng gia đình có giá trị nhỏ,
sửa chữa nhà, ôtô Theo phương thức này, việc thanh toán tiền gốc và lãi được
thực hiện bằng một trong các phương thức sau:
- Tiền gốc (C) và tiền lãi (Cn) được thanh toán một lần vào cuối thời hạn

- Gián tiếp tạo điều kiện để ngân hàng dễ dàng tăng doanh số CVTD.
- Gián tiếp cho phép ngân hàng tiết kiệm và giảm bớt chi phí trong hoạt
động cho vay.
- Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động
ngân hàng khác.
 CVTD gián tiếp có một số nhược điểm:
- Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng mà thông qua
công ty bán lẻ. Các công ty bán lẻ không có chuyên môn sâu để thẩm định khách
hàng một cách chi tiết, chính xác.
- Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán
chịu hàng hóa cho người tiêu dùng.
- Các công ty bán lẻ thực hiện phương thức này không nhằm cấp tín dụng
cho khách hàng mà chỉ nhằm tăng doanh số bán hàng.
- Kỹ thuật nghiệp vụ CVTD gián tiếp có độ phức tạp cao
Do những nhược điểm trên nên các ngân hàng không chú trọng và phát
triển CVTD gián tiếp. Ngân hàng nào tham gia CVTD gián tiếp đều có cơ chế
kiểm soát rất chặt chẽ.
CVTD gián tiếp được thực hiện thông qua các phương thức sau:
 Phương thức truy đòi:
- Truy đòi hoàn toàn: Theo phương thức này khi bán cho ngân hàng các
khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ sẽ cam kết thanh toán
cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn người tiêu dùng không
thanh toán cho ngân hàng.
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn Lớp: NHA- LTĐH8
Chuyên Đề Tốt Nghiệp 16 Khoa Ngân Hàng
- Truy đòi hạn chế: Theo phương thức này trách nhiệm của công ty bán lẻ
đối với các khoản nợ người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn
trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thỏa
thuận giữa ngân hàng và công ty bán lẻ.
Các điều khoản thường được sử dụng:

hàng với mức trả và thời hạn trả được qui định khi cho vay. Với hình thức này,
tiền vay có thể được cấp bằng tiền mặt hoặc chuyển thẳng vào tài khoản cá nhân
của khách hàng.
 Thấu chi:
Nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt
trên số tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong một
khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
 Thẻ tín dụng:
Nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng phát hành thẻ cho những khách
hàng có tài khoản ở ngân hàng, có đủ điều kiện được cấp thẻ tín dụng và ấn định
mức giới hạn tín dụng tối đa mà khách hàng có thể được phép sử dụng.
Các khoản CVTD trực tiếp có chất lượng cao hơn so với trường hợp CVTD
gián tiếp do chúng được quyết định bởi những nhân viên tín dụng chuyên nghiệp
chứ không phải các công ty bán lẻ. CVTD trực tiếp linh hoạt hơn CVTD gián tiếp
vì có sự đàm phán giữa ngân hàng và khách hàng để có quyết định về một khoản
vay với lãi suất, thời hạn phù hợp với cả hai bên. CVTD trực tiếp có độ an toàn
cao vì ngân hàng trực tiếp thẩm định và giám sát tín dụng.
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn Lớp: NHA- LTĐH8
Chuyên Đề Tốt Nghiệp 18 Khoa Ngân Hàng
1.2.3.5. Căn cứ tài sản bảo đảm
Theo phương thức này, CVTD gồm CVTD có bảo đảm bằng tài sản và
CVTD không có bảo đảm bằng tài sản :
 CVTD có bảo đảm bằng tài sản:
là hình thức cho vay tiêu dùng dựa trên cơ sở các tài sản bảo đảm dùng để
thế chấp, cầm cố như đất đai, nhà cửa hoặc bảo lãnh bằng tài sản của người thứ
ba.
 CVTD không có bảo đảm bằng tài sản:
là hình thức cho vay tiêu dùng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo
lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Đối với CVTD không có tài sản đảm bảo, phổ
biến là hình thức cho vay thế chấp bằng lương. Thông qua tài khoản của khách

mở rộng cho vay ở Việt Nam hiện nay và trong tương lai. CVTD mặc dù có rủi ro
và chi phí cao so với các hình thức cho vay khác nhưng CVTD vẫn có những lợi
ích quan trọng không chỉ đối với ngân hàng và khách hàng mà còn tác động tích
cực đến nền kinh tế.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá mở rộng cho vay tiêu dùng
Hiện nay, khi đưa ra kế hoạch kinh doanh cho những năm sắp tới, các
NHTM rất quan tâm đến việc mở rộng CVTD trong hoạt động cho vay của ngân
hàng. Mở rộng CVTD được phản ánh qua một số chỉ tiêu:
1.3.2.1. Chỉ tiêu doanh số
Doanh số cho vay là tổng số tiền mà ngân hàng cho vay trong một thời kỳ
nhất định. Đây là con số mang tính thời kỳ phản ánh một cách khái quát nhất về
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn Lớp: NHA- LTĐH8
Chuyên Đề Tốt Nghiệp 20 Khoa Ngân Hàng
hoạt động tín dụng của ngân hàng trong năm tài chính. Bởi vậy, nếu trong năm
doanh số cho vay của ngân hàng lớn, đạt tỷ lệ cao và tăng so với năm trước có
nghĩa là hoạt động cho vay của ngân hàng đang được mở rộng. Cũng như vậy,
doanh số CVTD là tổng số tiền ngân hàng cho các khách hàng là cá nhân và hộ
gia đình vay với mục đích tiêu dùng tính trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu
doanh số CVTD phản ánh qui mô cho vay của các NHTM, doanh số cho vay càng
cao thì qui mô càng lớn và ngược lại.
Chỉ tiêu này gồm hai chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối:
Giá trị tăng trưởng doanh số tuyệt đối = Tổng doanh số CVTD năm (t)-
Tổng doanh số CVTD năm (t-1)
Giá trị tăng trưởng doanh số tương đối = Giá trị tăng trưởng doanh số
CVTD tuyệt đối x 100%/Tổng doanh số CVTD năm (t-1)
1.3.2.2. Chỉ tiêu dư nợ
Dư nợ tín dụng là con số thời điểm, phản ánh số tiền mà khách hàng đang
nợ ngân hàng tại một thời điểm nhất định. Căn cứ mức dư nợ và tỷ lệ dư nợ có thể
cho ta biết việc ngân hàng có thực hiện mở rộng tín dụng hay không bởi khi ngân
hàng thực hiện chính sách mở rộng tín dụng, dư nợ tín dụng thường đạt ở mức

nhiêu. Việc tính toán chỉ tiêu này tương đối phức tạp vì cần sự tổng hợp số liệu
của tất cả các ngân hàng. Tuy nhiên, việc so sánh tương đối giữa các ngân hàng
với nhau phản ánh được sự mở rộng của CVTD của từng ngân hàng.
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn Lớp: NHA- LTĐH8
Chuyên Đề Tốt Nghiệp 22 Khoa Ngân Hàng
1.3.2.5. Chỉ tiêu tỷ trọng cho vay tiêu dùng.
Tỷ trọng dư nợ hay tỷ trọng doanh số CVTD trong tổng dư nợ hay doanh
số cho vay nói chung lớn hay nhỏ. Đây là chỉ tiêu mang tính tương đối. Việc sử
dụng chỉ tiêu này phải kết hợp với chỉ tiêu doanh số, dư nợ CVTD và cho vay nói
chung. Tỷ trọng CVTD so với cho vay nói chung có thể cao nhưng trên thực tế lại
không tăng do doanh số hoặc dư nợ cho vay nói chung giảm. Vì vậy xét trong
tương quan doanh số hoặc dư nợ cho vay tăng, tỷ trọng này càng lớn chứng tỏ
ngân hàng đang mở rộng CVTD. Tỷ trọng này nhỏ nghĩa là ngân hàng đang bị
thu hẹp CVTD.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng cho vay tiêu dùng
Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô CVTD gồm hai nhóm nhân tố chính là
nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
1.3.3.1. Các nhân tố khách quan.
 Khách hàng vay vốn.
Đạo đức của người vay vốn là yếu tố quyết định đến hành vi trả nợ của
khách hàng trong tương lai. Đạo đức của người vay được xác định trên cơ sở
năng lực pháp lý và độ tín nhiệm. Khách hàng phải có năng lực pháp lý để bảo
đảm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng trong quan hệ vay vốn. Mức tín nhiệm của
khách hàng liên quan đến sự sẵn lòng và thiện chí thực hiện đúng hợp đồng. Cả
hai yếu tố này các ngân hàng phải đặc biệt quan tâm khi tiến hành cho vay vì nó
trực tiếp quyết định tới hiệu quả món vay và ảnh hưởng đến rủi ro của ngân hàng.
Trên thực tế, nguồn trả nợ cho ngân hàng trong CVTD là vấn đề rất quan trọng.
Đa số thu nhập thường xuyên trong tương lai của khách hàng là nguồn trả nợ
chính, khách hàng có thu nhập càng cao thì việc trả nợ định kỳ càng ít ảnh hưởng
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn Lớp: NHA- LTĐH8

phát triển.
Bên cạnh đó, thói quen tiêu dùng, trình độ dân trí ảnh hưởng không nhỏ tới
CVTD của ngân hàng. Ở Việt Nam, người dân có thói quen tiết kiệm dành dụm
để mua sắm trong tương lai, sau đó mới nghĩ đến việc hưởng thụ. Yếu tố thu nhập
cũng có tác động trực tiếp tới nhu cầu vay tiêu dùng. Những người có thu nhập
cao thường có thói quen mua sắm hưởng thụ cao hơn.
 Môi trường pháp lý
Hoạt động CVTD của ngân hàng cũng phải tuân theo các quy định của nhà
nước, luật dân sự, luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.
Những quy định pháp luật không rõ ràng, không đồng bộ, kịp thời và có nhiều kẽ
hở sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong các hoạt động cho vay nói chung và hoạt
động cho vay tiêu dùng nói riêng, tạo ra các khó khăn cho hoạt động của các
doanh nghiệp. Từ đó gián tiếp làm cho nền kinh tế kém phát triển, thu nhập của
dân cư giảm sút tác động đến quy mô và hoạt động tín dụng, đặc biệt là CVTD.
 Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.
Các chính sách của Nhà nước như khuyến khích đầu tư trong nước, thu hút
đầu tư nước ngoài nếu thực hiện hiệu quả sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp
phần giảm thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động. Thêm vào đó các chính
sách thuế thu nhập, chính sách ưu đãi với các hộ nghèo vay vốn, cho vay tín chấp
với hộ nông dân, chương trình phát triển kinh tế vùng sâu vùng xa… sẽ dần rút
ngắn khoảng cách giàu nghèo, tạo điều kiện nâng cao mặt bằng dân trí. Những
yếu tố này trước mắt cũng như lâu dài đều ảnh hưởng đến nhu cầu vay tiêu dùng.
SV: Nguyễn Mạnh Tuấn Lớp: NHA- LTĐH8
Chuyên Đề Tốt Nghiệp 25 Khoa Ngân Hàng
1.3.3.2. Các nhân tố chủ quan.
Sự phát triển của hoạt động CVTD của NHTM chủ yếu do chính nội lực
của ngân hàng quyết định. Các nhân tố chủ quan này bao gồm chính sách tín
dụng, chất lượng cán bộ, cơ sở vật chất của ngân hàng…
 Chính sách cho vay
Chính sách cho vay bao gồm các yếu tố như giới hạn cho vay đối với một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status