Kinh tế phát triển
MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế Việt Nam từ khi bắt đầu đổi mới (1986), nhất là sau những cải cách lớn
trong các năm 1988 và 1989, Việt Nam phát triển khá nhanh. Trong giai đoạn 1990 -
2010, tốc độ tăng trưởng bình quân 7,5%, GNI đầu người (theo giá trị thực) bình quân
tăng 6%, tỉ lệ người ở dưới tuyến nghèo (poverty line) trong tổng dân số theo tiêu chí
của World Bank giảm từ 70% vào cuối thập niên 1980 xuống còn 10.6% năm 2010.
Trong giai đoạn đổi mới vừa qua, các loại thị trường của yếu tố sản xuất như thị
trường vốn, thị trường lao động và thị trường đất đai chậm phát triển hoặc phát triển
méo mó, và việc cải cách doanh nghiệp nhà nước (SOEs) tiến hành chậm và không
triệt để. Nhiều SOEs nhỏ đã được cổ phần hóa hoặc tư nhân hóa nhưng những doanh
nghiệp lớn lại được tổ chức lại thành các tập đoàn kinh tế và biến thành các nhóm lợi
ích được bảo hộ và hưởng nhiều đặc lợi như ưu tiên tiếp cận với vốn, đất đai và thông
tin về đầu tư công. Trong khi đó những doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh
nghiệp nhỏ và vừa, rất khó tiếp cận vốn và đất để xây dựng cơ sở sản xuất, kinh
doanh. Sự phân bổ và thực thi các nguồn lực cho đầu tư công cũng bị méo mó bởi
tham nhũng và các nhóm lợi ích. Những bất ổn xã hội ở nông thôn do thể chế đất đai
hiện nay còn đưa lại hậu quả tiêu cực cho tương lai kinh tế Việt Nam nói chung.
Có thể gọi giai đoạn 20 hoặc 25 năm đầu của quá trình đổi mới là chiến lược cải
cách tiệm tiến (gradualist). Chiến lược này đã cho thấy nhiều hiệu quả tích cực, nhờ
đó Việt Nam đã thoát khỏi cái bẫy nghèo và phát triển thành một nước có thu nhập
trung bình thấp vào năm 2009. Đây là cột mốc vô cùng quan trọng, mở ra nhiều cơ hội
mới cho sự phát triển của nền kinh tế nước nhà. Thế nhưng trên thực tế, có nhiều nền
Bẫy thu nhập trung bình Trang
Kinh tế phát triển
kinh tế ở châu Á từ nghèo chuyển thành có thu nhập trung bình, nhưng có rất ít trong
số đó vượt lên như trường hợp của Đài Loan và Hàn Quốc. Philippines là quốc gia
điển hình của tình trạng vướng vào bẫy thu nhập trung bình đã không thể vượt qua
ngưỡng 2.000 USD trong nhiều thập niên. Indonesia cũng mất hơn một thập niên để
từ trên 1.000 USD vượt lên hơn 2.000 USD/người. Còn Thái Lan thì bất ổn kéo dài từ
- Kinh nghiệm và phương hướng của một số nhà lãnh đạo như Thủ tướng Malaixia
Najib Tun Razak,
- Ngoài ra chúng ta cũng sử dụng ý kiến của nhà chính trị về “bẫy thu nhập trung bình”.
Bẫy thu nhập trung bình Trang
Kinh tế phát triển
I. Các quan niệm về “bẫy thu nhập trung bình” (middle income trap)
Theo Tạp Chí Cộng Sản: "Bẫy thu nhập trung bình" là cách nói hình tượng để chỉ
một tình trạng của nền kinh tế, mà sau khi đã cố gắng để đạt được mức thu nhập trung
bình nhất định, nền kinh tế bị đình trệ, không những dừng lại ở mức thu nhập đó, mà
toàn bộ những gì đã giúp nền kinh tế tạo ra được mức thu nhập trung bình trong quá
trình trước đây lại trở thành cản trở lớn cho các bước phát triển tiếp theo. Một số tài
liệu dùng hình ảnh "bẫy tăng trưởng" để chỉ cùng một trạng thái như vậy.
Bẫy thu nhập trung bình, theo Indermit Gill, cố vấn và Homi Kharas, chuyên gia
kinh tế trưởng của Ngân hàng thế giới là tình trạng không đáp ứng nổi những đòi hỏi
cao và rất cao khi nền kinh tế đã đạt đến mức thu nhập trung bình. Có hai mốc quan
trọng: GDP trên 1000 USD người/năm và khoảng 10.000 USD người/năm. Chỉ có nền
kinh tế nào vượt qua mốc thứ nhất và sau đó tiếp tục tăng trưởng mạnh để đạt tới mốc
thứ hai, rồi vẫn tiếp tục tăng trưởng thì mới trở thành nền kinh tế công nghiệp hóa.
Bẫy thu nhập trung bình, theo GS. Kenichi Ohno, Viện Nghiên cứu Chính sách
Quốc gia Tokyo, có thể được hình dung giống như “chiếc trần thủy tinh vô hình” ngăn
cản sự phát triển kinh tế giữa giai đoạn 2 với giai đoạn 3 trong quá trình 4 giai đoạn
của sự tăng trưởng và phát triển như sau:
• Giai đoạn 1: Do sự gia tăng FDI ồ ạt, các lĩnh vực của nền kinh tế như thiết kế, công
nghệ, sản xuất và marketing đều được chỉ đạo bởi người nước ngoài. Ở giai đoạn này,
các nguyên liệu và các thành phần quan trọng của sản xuất đều phải nhập khẩu, nguồn
lực trong nước chỉ cung cấp đất công nghiệp và lao động kỹ năng thấp. Điều đó tạo
việc làm cho người nghèo, nhưng giá trị nội tại thấp và giá trị được tạo ra chủ yếu bởi
người nước ngoài. Việt Nam đang ở giai đoạn này.
• Giai đoạn 2: Khi FDI tích lũy và sản xuất mở rộng, cung nội địa cho nền kinh tế bắt
đầu phát triển. Ở giai đoạn này, công nghiệp lắp ráp trở nên cạnh tranh và vòng tuần
Như vậy, bẫy thu nhập trung bình trong quan niệm của Kenichi Ohno và của Homi
Kharas có khác nhau. Tuy nhiên, điểm giống nhau trong hai quan niệm này là yêu cầu
cao về trình độ chuyên môn hóa nền kinh tế, về trình độ nguồn nhân lực bản
địa và trình độ quản lý vĩ mô. Chúng ta có thể rút ra khái niệm ngắn gọn về “ Bẫy thu
nhập trung bình ” như sau:
Bẫy thu nhập trung bình Trang
Kinh tế phát triển
“Bẫy thu nhập trung bình” là một thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng mắc kẹt của
nhiều quốc gia đã thoát nghèo, gia nhập vào nhóm nước có thu nhập trung bình
nhưng mất nhiều thập niên vẫn không trở thành quốc gia phát triển.
II. Các nguyên nhân mắc phải tình trạng “bẫy thu nhập trung bình”
Các quốc gia đang phát triển vướng vào “bẫy thu nhập trung bình” là do các nguyên
nhân chính sau:
- Sự suy giảm hiệu quả vốn đầu tư sau quá trình kích thích tăng trưởng.
- Tiếp tục tình trạng của một nền kinh tế gia công (nền kinh tế trong nước không đủ sức
tạo ra giá trị gia tăng mới để tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp toàn cầu; sự thống
trị của các hãng mang thương hiệu nước ngoài).
- Sự phân hóa thu nhập dẫn đến phân cực và bất ổn. Sự phân hóa thu nhập làm cho
khoảng cách giữa các nhóm và các khu vực ngày càng xa. Các khu vực nghèo hơn và
khu vực nông thôn đang tụt hậu so với khu vực thành thị. Các dân tộc thiểu số tham
gia rất ít vào quá trình tăng trưởng chung.
Ngoài ra, quá trình phát triển từ thu nhập thấp đến thu nhập trung bình cũng ngầm
chứa nhiều yếu tố là nguyên nhân để một nước rơi vào bẫy trung bình. Đó là sự hủy
hoại môi trường sống mà phải mất nhiều nguồn lực và thời gian khắc phục, sự thay
đổi môi trường xã hội (kết cấu văn hóa, kết cấu xã hội biến đổi trong thời gian quá
ngắn) dễ tạo ra những xung đột, sự tự tin thái quá của các tầng lớp dẫn dắt đến thành
công, tâm lý đòi thưởng công trạng biểu hiện ở nhu cầu hưởng thụ sớm.
III. Các giải pháp để thoát khỏi tình trạng “bẫy thu nhập trung bình”
1. Các giải pháp để thoát khỏi tình trạng “Bẫy thu nhập trung bình” dưới góc
nhìn của các chuyên gia.
là chuyển đầu tư từ các nghành thâm dụng lao động sang giáo dục – đào tạo, đổi mới
– sáng tạo trong khoa học – công nghệ nghiên cứu – phát triển, tiến tới kinh tế tri thức.
Có hai cách đó là mở rộng các ngành mới với giá trị gia tăng cao hơn ví dụ như ngành
Bẫy thu nhập trung bình Trang
Kinh tế phát triển
công nghệ cao và trong những ngành đang hoạt động, vươn tới làm các công đoạn với
giá trị gia tăng cao hơn như về phía thượng nguồn của chuỗi giá trị, vươn tới làm thiết
kế, nghiên cứu – phát triển và đi vào các chế tạo sản xuất yêu cầu vốn lớn còn phía hạ
nguồn của chuỗi giá trị thì tăng cường khâu tiếp thị, tạo thương hiệu, vươn ra thế giới.
Chính sách công nghiệp tiên phong nhằm củng cố sự cân bằng vốn rất mong manh
và hay thay đổi giữa chỉ đạo của nhà nước và định hướng thị trường, giữa cam kết
toàn cầu hóa và duy trì công cụ chính sách, giữa lãnh đạo quyết đoán với nhu cầu lắng
nghe doanh nghiệp tư nhân một cách cẩn trọng. Chính sách này rất khó thực hiện so
với việc đơn giản buông lỏng thị trường hoặc kiểm soát mọi việc bằng cỗ máy nhà
nước. Hợp phần chủ đạo của chính sách này là chấp nhận cơ chế thị trường và toàn
cầu hóa, tinh thần học hỏi linh hoạt của cả chính phủ và khu vực tư nhân, và mối
tương tác phức tạp, không ngừng thay đổi giữa hai khu vực này. Cụ thể hơn, chính
sách công nghiệp tiên phong phải thỏa mãn tất cả những điều kiện sau:
+ Phát triển theo cơ chế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa: khu vực tư nhân tham
gia chủ yếu vào hoạt động sản xuất, đầu tư, thương mại và các hoạt động kinh tế
khác trong môi trường cạnh tranh mở do cơ chế thị trường và quá trình toàn cầu hóa
tạo ra. Nhà nước không tham gia vào hoạt động sản xuất, trừ những lĩnh vực khu
vực tư nhân chưa sẵn sang tiếp quản vai trò của nhà nước.
+ Nhà nước mạnh: Nhà nước đảm đương vai trò vững chắc và chủ động trong việc định
hướng và hỗ trợ phát triển mặc dù về nguyên tắc, mọi hoạt động sản xuất đều do tư
nhân tiếp nhận là chủ yếu.
+ Giữ lại những công cụ chính sách phù hợp cho các nước công nghiệp hóa đi sau
+ Phát triển năng lực động: Nâng cao năng lực chính sách và tính năng động của khu
vực tư nhân
+ Nội lực hóa kỹ năng và công nghệ có trong nguồn vốn con người của công dân các
Những cỗ máy tăng trưởng trên thế giới đang trong thời kỳ chuyển pha. Các nền
kinh tế đang phát triển hiện nay đang đóng góp trên một nửa tổng tăng trưởng GDP
toàn cầu. Kết quả đương nhiên là người ta phải quan tâm tới một vấn đề: Liệu có nguy
cơ là một số hay nhiều nước đang phát triển sẽ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” hay
không?
Bẫy thu nhập trung bình đã và đang níu kéo nhiều nước đang phát triển: dù họ đã
thoát khỏi mức thu nhập thấp - tính theo đầu người – nhưng sau đó thì có vẻ như dẫm
chân tại chỗ, đánh mất động lực trên con đường tiến tới mức thu nhập cao ngang bằng
với các nền kinh tế tiên tiến. Đấy là kinh nghiệm mà hầu hết các nước Mỹ Latinh đã
trải qua trong những năm 1980, và trong những năm gần đây các nước có thu nhập
trung bình ở các nơi khác cũng sợ rằng họ có thể mắc phải tình trạng tương tự như thế.
Bẫy thu nhập trung bình Trang
Kinh tế phát triển
Trong đa số mọi trường hợp các quốc gia thành công trong việc tiến lên mức thu
nhập trung bình từ mức thu nhập thấp, nền tảng quá trình phát triển là khá giống
nhau. Thường thì, có rất nhiều người lao động không có tay nghề được chuyển từ
những công việc với thu nhập chỉ đủ sống qua ngày sang những ngành sản xuất hay
dịch vụ hiện đại hơn – cần vốn đầu tư lớn hơn và công nghệ cao hơn – mà không cần
phải nâng cao tay nghề cho những người lao động này.
Những ngành công nghệ đó đã có sẵn từ các nước giàu có hơn và dễ dàng thích ứng
với hoàn cảnh địa phương ở các nước nghèo. Hiệu quả tổng hợp của công việc chuyển
giao đó – thường đi kèm với quá trình đô thị hóa – là sự gia tăng đáng kể “năng suất
lao động toàn xã hội”, yếu tố quan trọng tạo ra sự gia tăng GDP vượt trên mức tăng
trưởng đơn thuần dựa trên gia tăng công ăn việc làm, tiền vốn, và những tác nhân vật
chất khác trong sản xuất.
Chẳng sớm thì muộn, việc gặt hái lợi ích từ những loại “hoa quả ở cành thấp” như
thế - hiểu theo nghĩa cơ hội tăng trưởng – sẽ gặp phải giới hạn. Sau đó tốc độ tăng
trưởng có thể chậm lại làm cho nền kinh tế rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Thời điểm
mấu chốt là khi trong nền kinh tế không còn dư thừa những người thiếu tay nghề để
tiếp tục chuyển sang phục vụ trong những ngành kinh tế hiện đại không đòi hỏi kỹ
quốc tế giảm đã tạo nhiều thuận lợi cho xu hướng này.
Con đường từ thu nhập thấp (tính theo đầu người) lên mức trung bình và sau đó là
lên mức cao đồng nghĩa với việc gia tăng tỉ lệ dân chúng chuyển từ những công việc
chỉ đủ sống qua ngày sang những công việc đơn giản của thời hiện đại và sau đó là
sang những công việc phức tạp hơn. Ngành thương mại quốc tế đã mở rộng cửa cho
con đường này, nhưng những cải cách trong lĩnh vực định chế, nền giáo dục chất
lượng cao và việc tạo ra những tài sản vô hình tại chỗ là vấn đề then chốt cho sự tiến
bộ bền vững trong dài hạn. Hàn Quốc là thí dụ rõ nhất về việc một nước biết tận dụng
cơ hội để leo lên các nấc thang thu nhập.
II. Hướng giải quyết cho các nước đang phát triển
- Để duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, các nước đang phát triển cần tận dụng hơn
nữa nhóm lao động có thu nhập thấp ở nông thôn và số lao động bán thất nghiệp ở khu
vực đô thị vì đây là nguồn lực còn chưa được khai thác triệt để. Nếu chuyển đổi nghề
nghiệp thành công cho nhóm người này thì tổng năng suất lao động toàn xã hội sẽ gia
Bẫy thu nhập trung bình Trang
Kinh tế phát triển
tăng. Để điều này thành công trên bình diện toàn cầu thì bản thân các nước có mức thu
nhập trung bình phải vượt qua các rào cản trên con đường dẫn tới mức thu nhập cao
hơn, và bằng cách đó, tạo ra nhu cầu mới đồng thời tiếp tục chuyển giao cơ hội
chuyển đổi nghề nghiệp cho những người lao động ở các nước nghèo hơn.
- Các nước có mức thu nhập trung bình nhưng giàu tài nguyên trực diện với con đường
riêng của mình, một con đường đã được mở rộng ra nhờ sự tăng giá các nguyên vật
liệu trong một thời gian dài, kèm theo sự dịch chuyển trong cơ cấu GDP toàn cầu.
Khác với hoạt động sản xuất công nghiệp, ngành khai thác tài nguyên thiên nghiên
thường có những tính chất đặc thù, tạo cơ hội cho việc hình thành các năng lực ở địa
phương trong những hoạt động kinh doanh tầm cao (sinh nhiều lợi nhuận). Tuy nhiên,
thách thức gắn liền ở đây là làm sao để duy trì phát triển theo cách này một cách bền
vững.
- Trong khi phần lớn các nước tiến từ trạng thái thu nhập thấp lên thu nhập trung bình
đều đi qua một con đường nói chung là giống nhau thì những giai đoạn tiếp theo của
quá chặt chẽ; (2) Kết cấu hạ tầng yếu kém, đặc biệt là giao thông và phân phối điện;
(3) Lòng tin của giới đầu tư kém do những bất ổn chính trị; (4) Phát triển ngành chế
tạo không theo nhu cầu thị trường.
Như vậy, có thể rút ra một số nguyên nhân chính khiến Philíppin không thoát khỏi
bẫy thu nhập trung bình như sau:
- Tiết kiệm và đầu tư thấp. Tỷ lệ tiết kiệm thấp đã làm cho Philíppin không đủ
nguồn lực để tích lũy các nhân tố, đặc biệt là công nghệ cho tăng trưởng dài hạn.
- Một hệ quả khác của tỷ lệ tiết kiệm thấp là tình trạng thâm hụt thương mại trầm
trọng do cả xuất khẩu giảm xuống lẫn nhập khẩu tăng lên bởi chiến lược công nghiệp
hóa của Philíppin và việc xây dựng kết cấu hạ tầng.
- Quản lý tài chính yếu kém. Mặc dù bức tranh tài chính của Philíppin đã được cải
thiện nhiều trong những thập niên trước, nhưng các biện pháp để tạo nguồn thu tài
chính cho Chính phủ lại không được cải thiện, từ đó không thể cung cấp được các
dịch vụ kinh tế và xã hội nhằm ổn định kinh tế vĩ mô.
- Nỗ lực cải cách thiếu kiên quyết và nhất quán. Sự thiếu ổn định về chính trị ở
Philíppin đã làm giảm động lực cải cách của giới hoạch định chính sách, đặc biệt là
trong việc xóa bỏ bảo hộ, độc quyền và giải quyết vấn đề nông dân.
Bẫy thu nhập trung bình Trang
Kinh tế phát triển
2. Bẫy thu nhập đối với Malaysia
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2009): “ Thách thức về trung hạn quan
trọng nhất đối với kinh tế Malayxia là gia nhập vào nhóm các nước có thu nhập
cao.
Malaixia đă tăng trưởng vững chắc trong vài thập kỷ qua, nhưng vẫn còn phụ
thuộc vào mô hình kinh tế dựa vào tích lũy vốn là chủ yếu. Mặc dù đã đạt được nhiều
thành công trong quá khứ nhưng khả năng tăng trưởng của Malayxia vẫn tụt hậu so với
các nền kinh tế khác trong khu vực. Nền kinh tế dường như bị mắc vào bẫy thu nhập
trung bình không thể duy trì tính cạnh tranh của một nhà sản xuất khối lượng lớn với
chi phí thấp, cũng như không thể nâng cấp chuỗi giá trị và tăng trưởng nhanh bằng
cách thâm nhập vào các thị trường hàng hóa và dịch vụ mang tính tri thức và sáng tạo
ty), cuối cùng phân tích và học hỏi thực tiễn từ Trung Quốc và Ấn Độ.
Theo Shahid Yusuf & Kaoru Nabeshima (2009), đưa ra chiến lược lợi thế cạnh
tranh tích lũy để có thể duy trì tăng trưởng trong vòng 5-7 năm tới cho Malaysia đó là
liên kết các doanh nghiệp chậm phát triển; đa dạng hóa thành các dòng sản phẩm, tận
dụng chuyên môn trong ngành nghề kinh doanh hiện tại; tăng cường phát triển dịch vụ
y tế và giáo dục; phát triển du lịch tận dụng di sản văn hóa tối đa hóa lợi ích cho nền
kinh tế.
3. Bẫy thu nhập trung bình ở Thái Lan
Trong hơn nửa thế kỷ qua (1952-2011), Thái Lan đã đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh
tế trung bình 6,2%/năm, giúp đưa nước này trở thành một trong những nền kinh tế
thành công nhất sau khi chiến tranh thế giới thứ hai. Tiến bộ kinh tế còn giúp đạt được
nhiều thành tựu khác, chẳng hạn như giảm tỉ lệ đói nghèo hơn 40% trong 25 năm,
cuộc sống người dân đầy đủ, và được tiếp cận nhiều hơn với hàng hóa và dịch vụ công
cộng.
Thái Lan mất hơn hai thập kỷ mới vượt qua con số 3.000 đô la Mỹ nhưng vẫn chưa
bước vào được nhóm nước có mức thu nhập trung bình của trung bình. Thái Lan được
cho là đã không nội địa hóa được giá trị gia tăng và năng lực quản lý. Nền kinh tế quá
phụ thuộc vào các công ty nước ngoài, thiếu các thương hiệu nội địa và khu vực tư
nhân vẫn yếu kém sau nhiều thập kỷ mở cửa.
Thái Lan đang nỗ lực từng bước phát triển công nghiệp bằng cách tiếp tục con
đường đang đi của mình. Thái Lan vẫn tiếp tục khuyến khích FDI vào lĩnh vực chế
tạo, thúc đẩy công nghệ khuôn mẫu, tăng cường năng lực và liên kết các nhà sản xuất
linh kiện nội địa. Việc tiếp tục củng cố các cụng công nghiệp ô tô vẫn là trụ cột trong
chính sách công nghiệp của Thái Lan.
Bẫy thu nhập trung bình Trang
Kinh tế phát triển
Một trong các dự án hỗ trợ nỗ lực này là Dự án phát triển nguồn nhân lực trong
ngành công nghiệp ô tô hiện đang được triển khai với sự hỗ trợ toàn diện của bốn
công ty sản xuất ô tô lớn của Nhật Bản. Một định hướng chính sách khác là phát triển
sản xuất ô tô sinh thái. Đồng thời, Thái Lan cũng khuyến khích phát triển các lĩnh vực
không có nghĩa là chính phủ các nước không được can thiệp để phát hiện lợi thế cạnh
tranh của nước mình, từ đó tận dụng tốt nhất nguồn nhân lực và vốn. Trong nhiều
trường hợp, chính phủ thậm chí định hướng sự phát triển với những chính sách có
tầm nhìn và linh hoạt.
Thứ năm, có chính phủ quyết tâm, đáng tin cậy và đủ năng lực. Tăng trưởng không
chỉ liên quan tới kinh tế mà còn đòi hỏi có một nền tảng chính trị vững chắc. Chính
phủ và các cơ quan của chính phủ phải không ngừng tìm kiếm các giải pháp hành
động cần thiết để duy trì động lực tăng trưởng kinh tế. Nếu thiếu vắng nền tảng chính
trị này thì việc duy trì các chính sách thúc đẩy kinh tế tăng trưởng là rất khó, nếu
không nói là không thể làm được.
Vậy tại sao một số quốc gia lại đánh mất động lực tăng trưởng? Câu trả lời cũng
không đơn giản bởi vì một quốc gia có thể gặp một hoặc nhiều vấn đề gây hạn chế,
Bẫy thu nhập trung bình Trang
Kinh tế phát triển
thậm chí tạo ra sự bế tắc trong tăng trưởng trong nhiều năm. Những phân tích và kinh
nghiệm thực tế có thể thấy một số bài học như sau:
Thứ nhất, quản lý kinh tế vĩ mô yếu kém. Điều này là khá rõ ràng vì thiếu sự ổn
định kinh tế vĩ mô, nền kinh tế sẽ trở nên rối ren và nhiều tín hiệu thị trường, chính
sách bị che mờ hoặc thậm chí mất đi.
Thứ hai, thâm hụt kép về ngân sách và thương mại dẫn tới tình trạng nợ công tăng
cao và mất khả năng chi trả và đầu tư công.
Thứ ba, tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư thấp sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt nền tảng công
nghệ, thiếu máy móc thiết bị chuẩn bị cơ sở cho tăng trưởng dài hạn.
Thứ tư, quá tập trung vào các ngành công nghệ thấp, cải tiến công nghệ không đủ
nhanh để tham gia các nấc thang giá trị gia tăng cao của chuỗi giá trị toàn cầu, làm
cho các sản phẩm của quốc gia đó có chất lượng thấp và khả năng cạnh tranh quốc tế
thấp.
Thứ năm, cạnh tranh lao động giá rẻ giúp một số quốc gia tạo đà tăng trưởng trong
thời gian đầu. Tuy nhiên, kéo dài lợi thế cạnh tranh này có thể dẫn tới hệ quả là trình
độ nguồn nhân lực thấp.
tăng cao hơn. Lúc này, sự can thiệp của Chính phủ là thông qua các doanh nghiệp lớn
(chaebol) của Hàn Quốc đã phát huy tác dụng. Những ngành công nghệ cao của các
chaebol được bảo hộ trước cạnh tranh toàn cầu và được tiếp cận với nguồn vốn hỗ trợ.
Hai nhân tố quan trọng trong giai đoạn ban đầu này là sự cam kết của Chính phủ và
các ngân hàng quốc doanh để làm giảm rủi ro của việc phát triển công nghệ.
Một điểm nổi bật nữa của Hàn Quốc là sự phát triển nguồn nhân lực nhanh chóng.
Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp xuất khẩu thâm dụng lao động kỹ
năng đã thúc đẩy giáo dục của xã hội. Chính phủ Hàn Quốc, bằng việc xác định nhu
cầu tương lai của lực lượng lao động kỹ năng phục vụ cho phát triển công nghiệp, đã
đưa ra nhiều chương trình quản lý nguồn nhân lực. Vì vậy, khi các dòng công nghệ
mới từ nước ngoài vào Hàn Quốc đã thực hiện rất tốt do đầu tư vào nguồn nhân lực
được đào tạo tốt ngay từ thời kỳ đầu công nghiệp hóa.
Bẫy thu nhập trung bình Trang
Kinh tế phát triển
CHƯƠNG III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
I. Khái quát kinh tế Việt Nam
1. Các chỉ số tăng trưởng.
.
Diễn
đàn phát triển Việt Nam. Nguồn: Tổng cục thống kê, các chỉ số chính của Ngân hàng
Bẫy thu nhập trung bình Trang
201
1
87,8
4
122,
0 1300 5,87
201
2
88,7