ĐẶT VẤN ĐỀ
Hệ thống y tế Việt Nam, được hình thành và phát triển qua các thời
kỳ lịch sử, trong các bối cảnh khác nhau về kinh tế, xã hội và đã có những
đóng góp to lớn vào sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân
cũng như sự phát triển của ngành Y tế[5]. Trong những năm qua, với sự
nổ lực và quyết tâm của toàn ngành, công tác khám, chữa bệnh đã giành
được nhiều thành tựu to lớn. Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02
năm 2005 của Bộ chính trị nhận định: “ Trong hơn 10 năm qua, công tác
bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở nước ta đạt được nhiều thành
tựu quan trọng”. Những thành tựu đó được thể hiện ở những điểm như
sau:
Đã hình thành được môt hệ thống khám, chữa bệnh đa dạng cả công
lẫn tư, có đầy đủ các chuyên ngành và loại hình, với trên 900 bệnh viện
công, 35 bệnh viện tư hoặc liên doanh với nước ngoài, 16.900 phòng
khám tư, 7.793 cơ sở cung cấp dịch vụ khác như xét nghiệm, chẩn đoán
hình ảnh, 6.659 nhà thuốc, 6.414 phòng chẩn trị y học dân tộc [5].
Nhiều kỹ thuật chẩn đoán, điều trị và chăm sóc đã được ứng dụng
thành công như: phẫu thuật tim hở, thay van tim, bắc cầu mạch vành, nối
chi, ghép thận, ghép gan, thụ tinh trong ống nghiệm…
Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân nhân ngày càng cao về số
lượng, chất lượng, loại hình và phạm vi cung cấp dịch vụ. Tình trạng quá
tải ở các bệnh viện tiếp tục gia tăng. Chất lượng dịch vụ kỹ thuật và chất
lượng phục vụ tuy đã được cải tiến nhưng chưa đáp ứng nhu cầu của nhân
dân. Tình trạng lạm dụng kỹ thuật cao, xét nghiệm, lạm dụng thuốc và
tăng điều trị nội trú trong trường hợp không cần thiết vẫn tồn tại[1].
Viện phí là nguyên nhân tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ một cách giả
tạo. Khi quyền lợi của người thầy thuốc phụ thuộc vào chi trả trực tiếp
của bệnh nhân, thầy thuốc có thể chỉ định những dịch vụ hoặc thuốc có
thể không thật sự cần thiết cho người bệnh để tăng thu phí[11].
Vấn đề đặt ra là, cần xác định được mức độ hài lòng của người dân
đối với các hoạt động khám, chữa bệnh, sự lựa chọn dịch vụ y tế cũng
bình quân đầu người được chi cho y tế thì ba nước mới gia nhập châu Âu
là Estonia, Hungary và Ba Lan đã có một dịch vụ y tế cực kỳ tốt, trong đó
Estonia thậm chí còn xếp trên Pháp, Anh, Ý và Tây Ban Nha[22].
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động y tế không phải hoàn toàn phụ thuộc
vào khả năng tài chính và chất lượng khám, chữa bệnh không phải lúc
nào cũng tỷ lệ thuận với chi phí y tế.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (1983): chất lượng chăm sóc, điều trị
bệnh nhân là phải đảm bảo mỗi bệnh nhân về cả hai mặt, về mặt sức
khoẻ: bệnh nhân được thực hiện tất cả các thao tác kỹ thuật cần thiết để
chẩn đoán và điều trị nhằm đem lại kết quả sức khoẻ tốt nhất, về mặt thứ
hai: phải thích ứng với sự phát triển khoa học y học, với giá cả hợp lý
nhất để cho ra kết quả tốt đồng thời bệnh nhân phải được sự hài lòng cao
nhất về kết quả điều trị, về sự tiếp xúc với hệ thống chăm sóc và quy trình
điều trị.
Lượng giá chất lượng chăm sóc điều trị cho bệnh nhân bao gồm
nhiều loại lượng giá chi tiết. Theo Avedis Donabedian để đo lường phần
lớn chất lượng điều trị phải lượng giá chất lượng của 3 lĩnh vực lớn: cơ
cấu tổ chức chăm sóc, quy trình chăm sóc kết quả chăm sóc. Trong lĩnh
vực kết quả, việc lượng giá sự hài lòng của bệnh nhân là một yếu tố quan
trọng và coi sự hài lòng của bệnh nhân là một chỉ số đánh giá chất lượng
điều trị.
Sự hài lòng của bệnh nhân cũng có thể sử dụng để lượng giá tiến
trình chăm sóc, điều trị chứ không chỉ kết quả cuối cùng. Do đó, việc đo
lường sự hài lòng của bệnh nhân là một công cụ quan trọng cho lĩnh vực
nghiên cứu, lĩnh vực quản lý, lĩnh vực lập kế hoạch.
Về phương pháp nghiên cứu, qua những tài liệu chúng tôi có được,
thì những nghiên cứu này được phân thành hai nhóm chính: nghiên cứu
định tính, với câu hỏi mở và nghiên cứu định lượng, với câu hỏi đóng.
Mô thức nghiên cứu cũng rất đa dạng từ nghiên cứu phỏng vấn sâu,
nghiên cứu cắt ngang, nghiên cứu bệnh chứng, cho đến nghiên cứu tổng
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phi Linh[20], khảo sát sự hài lòng
của bệnh nhân tại các bệnh viện Thành phố Hồ Chí Minh, 1997, cho thấy
tỷ lệ hài lòng chung rất cao 99,6%. Các lĩnh vực liên quan đến bệnh nhân
nằm viện là: tiếp đón, thông tin, cấp cứu, điều kiện sinh hoạt khoa phòng,
bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý, xét nghiệm, thuốc men – trang thiết bị, các vấn
đề khác, xuất viện – viện phí, hài lòng chung, ý định quay trở lại hay giới
thiệu bệnh viện. Có mối tương quan giữa tuổi bệnh nhân (tuổi càng lớn,
tỷ lệ hài lòng càng giảm), địa chỉ (người dân ở tỉnh khác, ngoại thành dễ
hài lòng hơn người dân ở nội thành), trình độ học vấn (trình độ thấp dễ
hài lòng hơn trình độ cao), kiểu bệnh viện (mức độ hài lòng giảm dần từ
bệnh viện chuyên khoa lẻ và y học dân tộc > bệnh viện sản nhi > bệnh
viện chuyên khoa > bệnh viện đa khoa) và tình trạng sức khoẻ xuất viện
(tình trạng cải thiện rõ dễ hài lòng hơn không cải thiện) với các lĩnh vực
hài lòng chung.
Theo nghiên cứu của một số tác giả khác thì mức độ hài lòng chung
của bệnh nhân có tỷ lệ gần như nhau: nghiên cứu của Phan Thanh Giản
năm 2005 tại Quảng Trị là 95%[12], của Nguyễn Văn Bồng năm 2007 tại
Bến Tre là 95,7%[6] và Hoàng Văn Hoá năm 2008 tại huyện Trảng Bôm,
Đồng Nai là 95%[13].
Tuy nhiên, nghiên cứu của Lê Thành Ni năm 2003[17] tại Bệnh viện
Chợ Rẫy chỉ có 79,9% bệnh nhân hài lòng.
1.3. Vài nét về huyện Phú Tân tỉnh Cà Mau
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
Huyện Phú Tân được tái thành lập vào đầu năm 2004, là một huyện
ven biển, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Cà Mau. Phú Tân có hệ thống
sông ngòi chằng chịt, giao thông đi lại cón khó khăn, đời sống của người
dân chủ yếu là nuôi trồng thuỷ sản và nông nghiệp. Huyện có 8 xã và 1
thị trấn. Thị trấn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của
huyện, nhưng nằm ven biển nên các xã còn lại có khoảng cách ngày càng
xa trung tâm huyện lỵ Do đó với điều kiện địa lý có thể phân huyện gồm
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân điều trị nội trú tại các trạm y tế trong huyện Phú Tân từ
15 tháng 04 năm 2011 đến 15 tháng 05 năm 2011.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân đang nằm điều trị nội trú hoặc thân nhân người bệnh
trong trường hợp bệnh nhân không tự trả lời phỏng vấn được, tại các trạm
y tế trong huyện Phú Tân từ 15 tháng 04 năm 2011 đến 15 tháng 05 năm
2011.
- Bệnh nhân hoặc thân nhân bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân là nhân viên của trạm y tế đang phỏng vấn
- Bệnh nhân không có khả năng trả lời bảng câu hỏi phỏng vấn
- bệnh nhân dưới 18 tuổi.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Dùng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên mẫu đã chọn
2.2.2. Cỡ mẫu
Tất cả bệnh nhân điều trị nội trú tại các trạm y tế trong huyện Phú
Tân từ 15 tháng 04 năm 2011 đến 15 tháng 05 năm 2001.
2.2.3. Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn tất cả bệnh nhân điều trị nội trú tại các trạm y tế trong thời
gian tiến hành nghiên cứu.
2.3. Biến số nghiên cứu
2.3.1. Các yếu tố liên quan đến dân số - xã hội
2.3.1.1. Tuổi
Là biến số định tính gồm:
- Nhóm tuổi lao động: từ 18 đến 59 tuổi
- Nhóm tuổi phụ thuộc: từ 60 trở lên
+ Thuốc men và trang thiết bị
+ Vệ sinh buồng bệnh, nhà vệ sinh
+ Các dịch vụ ngoài chuyên môn như: CSVC, nhà ăn, giữ xe
Sự hài lòng được đánh giá qua cảm nhận chủ quan của bệnh nhân.
Sự phân chia mức độ hài lòng được dựa trên thang điểm Likert.
Thang điểm Likert là một câu hỏi đóng có một mệnh đề và 5 lựa chọn.
Thang điểm phân loại mức độ hài lòng:
- Rất hài lòng: 5 điểm
- Hài lòng: 4 điểm
- Tạm hài lòng: 3 điểm
- Không hài lòng: 2 điểm
- Rất không hài lòng: 1 điểm
Mức độ I II III IV V
Điểm 5 4 3 2 1
Đây là thang xếp hạng được xây dựng trên cách xác định và lựa chọn
vấn đề sức khoẻ ưu tiên bằng cách cho điểm vấn đề. Dựa vào đó, mức độ
hài lòng càng cao thì điểm càng cao.
Hai giá trị hài lòng và không hài lòng được chia thành các mức độ
cao thấp khác nhau
- Hài lòng bao gồm:
+ Rất hài lòng (I)
+ Hài lòng (II)
+ Tạm hài lòng (III)
- Không hài lòng bao gồm:
+ Không hài lòng (IV)
+ Rất không hài lòng (V)
Ở các khâu khảo sát, mỗi nội dung được xác định bằng 4 biến số
thành phần (tương đương 4 câu hỏi cụ thể). Mỗi biến số thành phần đều
có 5 giá trị chọn lựa với mức độ từ cao đến thấp. Tương ứng với mỗi mức
độ là giá trị điểm số từ 5 đến 1.
+ Rất hài lòng (I)
+ Hài lòng (II)
+ Tạm hài lòng (III)
- Không hài lòng bao gồm:
+ Không hài lòng (IV)
+ Rất không hài lòng (V)
2.4. Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp thu thập số liệu được tiến hành bằng phương pháp
phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân, thông tin thu thập được ghi vào mẫu soạn
sẳn.
- Bệnh nhân được giải thích rõ mục đích của cuộc phỏng vấn, mục
tiêu nghiên cứu. Sau khi bệnh nhân đồng ý thì người khảo sát sẽ tiến hành
phỏng vấn.
- Để khách quan và bệnh nhân thật sự thoải mái trong khi trả lời,
trong mẫu phỏng vấn, tên bệnh nhân chúng tôi chỉ ghi chử cái đầu tiên.
- Điều tra viên là cán bộ trung tâm y tế huyện, sau khi được tổ chức
tập huấn.
2.5. Công cụ thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu là bảng câu hỏi được in sẳn
Bảng câu hỏi gồm 3 phần:
- Phần giới thiệu: về mục đích của nghiên cứu
- Phần hành chính: thu thập các thông tin về dân số - xã hội học
- Các câu hỏi đóng: với các nội dung về sự hài lòng hoặc không hài
lòng của bệnh nhân. Mỗi câu hỏi có 5 khả năng trả lời tương ứng với 5
mức độ.
- Câu hỏi mở: chỉ dành cho các câu hỏi về nguyên nhân không hài
lòng.
2.6. Kiểm soát sai lệch thông tin
- Các câu hỏi được soạn rõ ràng, ngắn gọn. Mỗi câu trả lời chỉ mang
một ý nghĩa.
- Rà soát và chỉnh đốn công tác quản lý khám, chữa bệnh tại các
trạm y tế trong địa bàn huyện.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
3.1.1. Đặc điểm về dân số nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc điểm dân số của mẫu
Nội dung Đặc tính Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Giới
Nam 164 49,0
Nữ 171 51,0
Nhóm tuổi
Tuổi lao động 264 78,8
Tuổi phụ thuộc 71 21,2
Dân tộc
Kinh 327 97,6
Khmer 7 2,1
Hoa 1 0,3
Nghề nghiệp
LĐ chân tay 261 77,9
LĐ trí óc 74 22,1
Trình độ học
vấn
Phổ thông 322 96,1
Cao đẳng/ĐH 13 3,9
Kinh tế gia
đình
Không nghèo 278 83,0
Nghèo 57 17,0
Bảo hiểm y tế
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ hài lòng chung của bệnh nhân đối với trạm y tế
Nhận xét: Tỷ lệ hài lòng chung của bệnh nhân đối với các trạm y tế
là 95,2%. Trong khi đó vẫn còn 4,8% là không hài lòng.
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ từng mức độ hài lòng
Nhận xét:Tỷ lệ hài lòng ở mức độ II chiếm cao nhất (49,2%) ; tạm
hài lòng là 38,8%. Trong khi đó, rất không hài lòng chiếm 1,5%.
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ hài lòng và không hài lòng trong các nội dung
khảo sát
Nhận xét: Trong 7 nội dung khảo sát, thì khâu chăm sóc, điều dưỡng
được bệnh nhân hài lòng cao nhất (97,9%); kế đến là khâu KCB. Bên
cạnh đó, các dịch vụ khác (cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà nấu ăn, nơi
giữ xe, xuồng và buôn bán) có tỷ lệ không hài lòng cao nhất chiếm
62,7%; kế tiếp là công việc hộ lý chiếm 11,6%.
3.2.2. Mức độ hài lòng về thủ tục nhập viện
Bảng 3.3: Tỷ lệ từng mức độ hài lòng đối với khâu thủ tục nhập viện
Thủ tục nhập
viện
Mức độ hài lòng (n = 335)
I II III IV V
n % n % n % n % n %
Thủ tục hành
chính
70 20,9 173 51,6 89 26,6 3 0,9 0 0
Thời gian chờ
đợi
47 14,0 182 54,3 100 29,9 6 1,8 0 0
Cách đón tiếp 108 32,2 171 51,0 56 16,7 0 0 0 0
Đánh giá chung
Mức độ hài lòng (n = 335)
I II III IV V
n % n % n % n % n %
Giờ giấc làm việc 83 24,8 155 46,3 95 28,4 2 0,6 0 0
Cách hướng dẫn,
thông báo
63 18,8 204 60,9 66 19,7 2 0,6 0 0
Giải thích về bệnh
và phương pháp
điều trị
109 32,5 181 54,0 44 13,1 1 0,3 0 0
Việc công khai
thuốc trong điều
trị
67 20,0 212 63,3 56 16,7 0 0 0 0
Hướng dẫn CSSK,
phòng bệnh
82 24,5 188 56,1 63 18,8 2 0,6 0 0
Đánh giá chung về
thông tin, hướng
dẫn
58 17,3 211 63,0 50 14,9 16 4,8 0 0
Nhận xét:
- Về thông tin, hướng dẫn, hài lòng mức độ I đạt tỷ lệ cao nhất là
cách giải thích về bệnh và phương pháp điều trị (32,5%). Tỷ lệ không hài
lòng (mức độ IV), các khâu: Giờ giấc làm việc; cách hướng dẫn, thông
báo; hướng dẫn CSSK, phòng bệnh chiếm tỷ lệ bằng nhau (0,6%).
- Đánh giá chung toàn bộ về thông tin hướng dẫn, thì tỷ lệ hài lòng (I
+II + III) là 95,2%; tỷ lệ không hài lòng (IV + V) là 4,8%.
Bảng 3.6: Nguyên nhân không hài lòng về khâu thông tin hướng dẫn
về nội dung
KCB
67 20,0 216 64,5 43 12,8 8 2,4 1 0,3
Nhận xét:
- Đối với khâu KCB, hài lòng mức độ I đạt tỷ lệ cao nhất là việc
KCB và kết quả điều trị (40% và 40,6%). Tỷ lệ không hài lòng chiếm cao
nhất là chữ viết của y, bác sĩ (6,9%). Thậm chí có 0,3% bệnh nhân rất
không hài lòng (mức độ V) về vấn đề này.
- Đánh giá chung toàn bộ về khâu KCB, thì tỷ lệ hài lòng (I + II +
III) là 97,3%; tỷ lệ không hài lòng (IV + V) là 2,7%.
Bảng 3.8: Nguyên nhân không hài lòng về KCB
Nguyên nhân
Không hài lòng
n %
Công tác tổ chức KCB 3 33,4
Quá trình khám và điều trị 2 22,2
Kết quả điều trị 1 11,1
Tinh thần, thái độ của nhân viên y tế 2 22,2
Mặt hàng thuốc bảo hiểm còn hạn chế 1 11,1
Tổng 9 100
Nhận xét: Trong các nguyên nhân không hài lòng, thì công tác tổ
chức KCB có tỷ lệ cao nhất (33,4%). Kế đến là quá trình khám và điều trị
chiếm 22,2%.
3.2.5. Mức độ hài lòng về chăm sóc, điều dưỡng
Bảng 3.9: Tỷ lệ từng mức độ hài lòng đối với khâu chăm sóc, điều
dưỡng
Nội dung
Mức độ hài lòng (n = 335)
I II III IV V
n % n % n % n % n %
Tinh thần, thái độ 1 14,3
Tổng 7 100
Nhận xét: Trong các nguyên nhân không hài lòng, thì thiếu phương
tiện chăm sóc có tỷ lệ cao nhất (42,8%). Kế đến là giờ giấc cấp/bán thuốc
chiếm 28,6%. Vấn đề tiêm truyền, thay băng, và tinh thần thái độ cũng có
14,3% bệnh nhân không hài lòng.
3.2.6. Mức độ hài lòng về công tác hộ lý
Bảng 3.11: Tỷ lệ từng mức độ hài lòng đối với khâu công tác hộ lý
Nội dung
Mức độ hài lòng (n = 335)
I II III IV V
n % n % n % n % n %
Vệ sinh buồng
bệnh
51 15,2 94 28,1 147 43,9 40 11,9 3 0,9
Nhà vệ sinh 46 13,7 68 20,3 127 37,9 77 23,0 17 5,1
Nhân viên hộ
lý
59 17,6 170 50,7 94 28,1 8 2,4 4 1,2
Đánh giá
chung về công
tác hộ lý
41 12,2 101 30,2 154 46,0 34 10,1 5 1,5
Nhận xét:
- Đối với công tác hộ lý, mức độ tạm hài lòng (mức độ III) đều có tỷ
lệ cao ở tất cả các khâu. Trong đó cao nhất là vấn đề vệ sinh buồng bệnh,
(43,9% ). Tỷ lệ không hài lòng cao nhất là nhà vệ sinh 23% (mức độ IV),
và 5,1% (mức độ V).
- Đánh giá chung toàn bộ về công tác hộ lý, thì tỷ lệ hài lòng (I + II
+ III) là 88,4%; tỷ lệ không hài lòng (IV + V) là 11,6%.
Viện phí quá cao 7 63,6
Thủ tục thanh toán không hợp lý 1 9,1
Không được hướng dẫn, giải thích 2 18,2
Chứng từ không rõ ràng 1 9,1
Tổng 11 100
Nhận xét: Trong các nguyên nhân không hài lòng, thì viện phí cao có
tỷ lệ cao nhất (63,6%). Kế đến là không được hướng dẫn giải thích chiếm
18,2%.
3.2.8. Mức độ hài lòng về cơ sở vật chất và các dịch vụ ngoài
chuyên môn
Bảng 3.15: Tỷ lệ từng mức độ hài lòng đối với cơ sở vật chất và các
dịch vụ ngoài chuyên môn
Nội dung
Mức độ hài lòng (n = 335)
I II III IV V
n % n % n % n % n %
Cơ sở vật chất 58 17,3 93 27,8 134 40,0 46 13,7 4 1,2
Nhà nấu ăn 11 3,3 31 9,3 83 24,8 161 48,0 49 14,6
Buôn bán, giử
xe, xuồng
15 4,5 44 13,1 97 29,0 132 39,4 47 14,0
Đánh giá
chung về cơ sở
vật chất và
dịch vụ ngoài
chuyên môn
16 4,8 28 8,3 81 24,2 163 48,7 47 14,0
Nhận xét:
- Tỷ lệ HL của BN rất thấp đối với cơ sở vật chất và các dịch vụ
ngoài chuyên môn. Sự hài lòng chủ yếu là mức độ III và đều có tỷ lệ cao
p
Hài
lòng
Không HL
Giới
Nam 159 5 164 0,60
0,44
Nữ 163 8 171
Nhóm tuổi
Tuổi lao động 256 8 264 2,4
0,1
Tuổi phụ thuộc 66 5 71
Nghề
nghiệp
LĐ chân tay 252 9 261 0,5
0,4
LĐ trí óc 70 4 74
Trình độ
học vấn
Phổ thông 310 12 322 0,5
0,4
Cao đẳng/ĐH 12 1 13
Kinh tế gia
đình
Không nghèo 272 6 278 12,9
0,0001
Nghèo 50 7 57
Bảo hiểm y
tế
Nam 159 5 164 2,1
0,14
Nữ 160 11 171
Nhóm tuổi
Tuổi lao động 255 9 264 5,1
0,02
Tuổi phụ thuộc 64 7 71
Nghề nghiệp LĐ chân tay 249 12 261 0,08
LĐ trí óc 70 4 74
Trình độ học vấn
Phổ thông 307 15 322 0,2
0,6
Cao đẳng/ĐH 12 1 13
Kinh tế gia đình
Không nghèo 271 7 278 18,3
0,0001
Nghèo 48 9 57
Bảo hiểm y tế
Không 189 5 194 4,9
0,02
Có 130 11 141
Nhận xét:
- Nhóm tuổi lao động có tỷ lệ hài lòng về thông tin, hướng dẫn của
cán bộ TYT cao hơn nhóm tuổi phụ thuộc. (x
2
=5,1; p = 0,02).
- Những bệnh nhân thuộc diện kinh tế gia đình không nghèo, có xu
hướng hài lòng đối với thông tin, hướng cao hơn những bệnh nhân nghèo.
(x
2
Kinh tế gia đình
Không nghèo 274 4 278 9,7
0,002
Nghèo 52 5 57
Bảo hiểm y tế
Không 192 2 194 4,8
0,02
Có 134 7 141
Nhận xét:
- Nhóm trình độ học vấn phổ thông có tỷ lệ hài lòng về KCB cao
hơn nhóm trình độ CĐ/ĐH. (x
2
=8,3; p = 0,004).
- Những bệnh nhân thuộc diện kinh tế gia đình không nghèo, khi
KCB sẽ hài lòng cao hơn những bệnh nhân nghèo. (x
2
=9,7; p = 0,0002).
- Những bệnh nhân không có BHYT, có tỷ lệ hài lòng với nội dung
KCB cao hơn những bệnh nhân có BHYT. (x
2
=4,8; p = 0,02).
- Các đặc điểm: Giới, nhóm tuổi, nghề nghiệp không có sự khác biệt
về tỷ lệ hài lòng đối với KCB.
Bảng 3.20: Liên quan giữa đặc điểm dân số mẫu với mức độ hài
lòng về chăm sóc, điều dưỡng
Nội dung
Chăm sóc,
điều dưỡng
Hài
lòng
=8,1; p = 0,004). Các đặc
điểm còn lại, không có sự khác biệt về tỷ lệ hài lòng đối với khâu CSĐD.
Bảng 3.21: Liên quan giữa đặc điểm dân số mẫu với mức độ hài
lòng về công tác hộ lý
Nội dung Hộ lý
Hài
lòng
Không
HL
Giới
Nam 145 19 164 0,001
0,9
Nữ 151 20 171
Nhóm tuổi
Tuổi lao động 233 31 264 0,01
0,9
Tuổi phụ thuộc 63 8 71
Nghề nghiệp
LĐ chân tay 233 28 261 0,9
0,3
LĐ trí óc 63 11 74
Trình độ học vấn
Phổ thông 284 38 322 0,2
0,6
Cao đẳng/ĐH 12 1 13
Kinh tế gia đình Không nghèo 246 32 278 0,02
Nghèo 50 7 57
Bảo hiểm y tế
Không 176 18 194 2,5
0,1
Không nghèo 274 4 278 17,5
0,0001
Nghèo 50 7 57
Bảo hiểm y tế
Không 193 1 194 11,1
0,001
Có 131 10 141
Nhận xét:
- Những bệnh nhân thuộc diện kinh tế gia đình không nghèo, có tỷ lệ
hài lòng về thanh toán viện phí, cao hơn những bệnh nhân nghèo.
(x
2
=17,5; p =0,0001).
- Những bệnh nhân không có BHYT, có tỷ lệ hài lòng cao hơn
những bệnh nhân có BHYT, về thanh toán viện phí tại các TYT.
(x
2
=11,1; p= 0,001).
- Các đặc điểm: Giới, nhóm tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn
không có sự khác biệt về tỷ lệ hài lòng đối với khâu thanh toán viện
phí.
Bảng 3.23: Liên quan giữa đặc điểm dân số mẫu với mức độ hài
lòng về cơ sở vật chất và các dịch vụ ngoài chuyên môn
Nội dung
Dịch vụ
khác
Tổng
x
2
lòng chung
Bảng 3.24: Mối liên quan giữa giới tính và mức độ hài lòng chung
Giới
Hài lòng
n (%)
Không hài lòng
n (%)
Tổng
OR
(KTC 95%)
x
2
P
Nam 159 (97) 5 (3) 164 2,1
(0,7 – 6,4)
2,1
0,1
Nữ 160 (93,6) 11 (6,4) 171
Tổng 319 16 335
Nhận xét: Nam giới khi điều trị tại TYT, có mức độ hài lòng cao gấp
2,1 lần so với nữ giới. Tuy nhiên, mối liên quan này không có ý nghĩa
thống kê (p=0,1).
Bảng 3.25: Mối liên quan giữa nhóm tuổi và mức độ hài lòng chung
Nhóm tuổi
Hài lòng
n (%)
Không hài
lòng n (%)
Tổng
2
P
LĐ chân tay 246 (94,3) 15 (5,7) 261 0,2
(0,02 – 1,7)
2,4
0,1
LĐ trí óc 73 (98,6) 1 (1,4) 74
Tổng 319 16 335
Nhận xét: Những bệnh nhân thuộc thành phần lao động chân tay, khi
điều trị tại TYT, có mức độ hài lòng thấp hơn 0,2 lần so với các thành
phần lao động trí óc. Tuy nhiên, mối liên quan này không có ý nghĩa
thống kê (p=0,1).
Bảng 3.27: Mối liên quan giữa trình độ học vấn và mức độ hài lòng
chung
Trình độ
học vấn
Hài lòng
n (%)
Không hài
lòng n (%)
Tổng
OR
(KTC 95%)
x
2
P
THPT 306 (95) 16 (5) 322 0,9
(0,92 – 0,97)
0,6
có mức độ hài lòng khi nằm điều trị, cao gấp 3,2 lần so với nhóm kinh tế
gia đình nghèo (OR=3,2; p=0,02).
Bảng 3.29: Mối liên quan giữa bảo hiểm y tế và mức độ hài lòng
chung
Bảo hiểm y tế
Hài lòng
n (%)
Không hài
lòng
n (%)
Tổng
OR
(KTC
95%)
x
2
P
Không có 187 (96,4) 7 (3,6) 194 1,8
(0,6 – 5)
1,3
0,2
Có 132 (93,6) 9 (6,4) 141
Tổng 319 16 335
Nhận xét: Những bệnh nhân không có BHYT, khi điều trị tại TYT,
có mức độ hài lòng cao hơn 1,8 lần so với bệnh nhân có BHYT. Tuy
nhiên, mối liên quan này không có ý nghĩa thống kê (p=0,2).
Chương 4
BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Văn Bồng, nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Giồng Trôm tỉnh
Bến Tre là 95,7%[6]; Phan Quí Nam, nghiên cứu tại Bệnh viện Nguyễn
Tri Phương Thành phố Hồ Chí Minh là từ 82,6 đến 98,4%[15].