Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 3
1. Sự cần thiết phải xây dựng đề án 3
2. Căn cứ pháp lý 4
2.1 Các văn bản của Chính phủ về việc lập quy hoạch 4
2.2. Các văn bản khác về việc lập quy hoạch 4
2.3 Các quy hoạch khác có liên quan: 5
3. Đối tượng, phạm vi quy hoạch, phương pháp nghiên cứu 5
3.1. Đối tượng 5
3.2. Phạm vi quy hoạch 7
3.3. Phương pháp nghiên cứu 8
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY HOẠCH
TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DƯỢC LIỆU VIỆT NAM 9
1. Bối cảnh quốc tế 9
1.1. Tổng quát về việc sử dụng sản phẩm từ tự nhiên 9
1.2. Hợp tác Việt Nam với các nước trong lĩnh vực dược liệu 9
1.3. Nhu cầu sử dụng dược liệu, thuốc từ dược liệu trên thế giới 10
2. Bối cảnh trong nước 11
2.1. Giới thiệu chung về tình hình phát triển của ngành Dược Việt Nam 11
2.2. Tiềm năng nguồn dược liệu Việt Nam 13
3. Dự báo nhu cầu dược liệu trong nước và trên thế giới trong thời gian tới 17
3.1. Dự báo về thị trường và khả năng cạnh tranh của dược liệu và các sản phẩm từ
dược liệu trong nước và thế giới 17
3.2. Dự báo khả năng công nghệ 19
3.3. Dự báo nhân lực, vật lực cho phát triển dược liệu 20
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DƯỢC LIỆU Ở VIỆT NAM 24
1. Quản lý nhà nước 24
1.1. Cơ cấu tổ chức 24
1.2. Hệ thống văn bản pháp qui 25
2. Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường 82
CHƯƠNG 6: CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH 83
PHÁT TRIỂN DƯỢC LIỆU 83
1. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách phát triển dược liệu 83
2. Nhóm giải pháp về đầu tư, tài chính và tín dụng 83
3. Nhóm giải pháp về nghiên cứu, chuyển giao và tiếp nhận KH công nghệ 84
4. Nhóm giải pháp về phát triển và đào tạo nguồn nhân lực 85
5. Nhóm giải pháp về hợp tác quốc tế 85
CHƯƠNG 7: TỔ CHỨC THỰC HIỆN 86
1. Các đơn vị thực hiện 86
1.1. Trách nhiệm của Bộ Y tế 86
1.2. Trách nhiệm của các Bộ nghành khác 86
2. Tổ chức thực hiện 88
2.1. Giai đoạn đến 2015 88
2.2. Giai đoạn đến năm 2020 89
2.3. Giai đoạn đến năm 2030 89
BỘ Y TẾ
2
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Sự cần thiết phải xây dựng đề án
Việt Nam vốn được đánh giá là nước có nguồn dược liệu tự nhiên phong
phú và đa dạng về chủng loại lẫn công dụng làm thuốc. Đất đai và khí hậu phù
hợp với nhiều loài cây trồng, trong đó có nhiều loài cây thuốc quý xuất xứ từ các
nguồn khác nhau.
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên dược liệu tự nhiên đang ngày một cạn kiệt,
nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, cây dược liệu nuôi trồng đang bị
thu hẹp hoặc phát triển một cách tự phát mất cân đối. Sự giảm sút nguồn dược
liệu có nhiều nguyên nhân, có thể chủ quan lẫn khách quan như chiến tranh, sự
tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Y tế Việt Nam giai
đoạn đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020;
- Quyết định số 43/2007/QĐ-TTg ngày 29 tháng 3 năm 2007 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Phát triển công nghiệp dược và xây dựng mô
hình hệ thống cung ứng thuốc của Việt Nam giai đoạn 2007-2015 và tầm nhìn
đến năm 2020”;
- Chỉ thị 24/CT-TW ngày 04 tháng 7 năm 2008 của Ban Bí thư Ban chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nền đông y Việt nam và
Hội Đông y trong tình hình mới;
- Quyết định số 2166/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ Tướng Chính phủ
về việc ban hành kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y, dược cổ
truyền Việt Nam đến năm 2020;
2.2. Các văn bản khác về việc lập quy hoạch.
- Luật Đầu tư năm 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22 /9/2006
của Chính phủ quy định một số điều chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Đầu tư;
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê
duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;
- Nghị định 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP;
BỘ Y TẾ
4
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
- Căn cứ Quyết định số 281/2007/QĐ-BKH ngày 26/3/2007 của Bộ Kế
hoạch Đầu tư về việc ban hành định mức chi phí cho lập, thẩm định quy hoạch và
điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành và quy
hoạch các sản phẩm.
2.3 Các quy hoạch khác có liên quan:
- Quyết định số 61/2007/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2007 của Thủ
trồng các cây thuốc bắc nhập nội (Bạch Chỉ, Bạch Truật, Đương quy, Huyền sâm,
Đỗ trọng, Hoàng bá, Xuyên khung, Tam thất ), cây thuốc nhập nội làm nguyên
liệu cho Công nghiệp Dược (Artisô) và cây thuốc bản địa có tính chất ôn đới
(Thảo quả, Tục đoạn, Táo mèo ).
- Một số tỉnh thuộc vùng núi thấp như Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh,
Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi, trồng một số cây
đặc sản có giá trị xuất khẩu cao như: Hồi, Quế, Thảo quả, Sa nhân,
- Ở các tỉnh vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ và khu 4 cũ: Là nơi sản
xuất đại trà một số cây thuốc bắc nhập nội nhưng hạt giống lấy từ vùng núi cao
như: Bạch Chỉ, Đương quy, Địa hoàng, Ngưu tất, Cát cánh, Trạch tả ; Là nơi
trồng chủ yếu của các loài cây như Hòe, Bạc hà và nhiều loại cây thuốc nam
truyền thống khác.
- Tại một số tỉnh ở Miền trung, Tây nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long:
Từng là nơi trồng sản xuất nhiều loài cây thuốc có tinh dầu như: Bạc hà, Sả,
Hương nhu trắng
c. Hệ thống sản xuất chế biến, bào chế và chiết xuất dược liệu phục vụ sản xuất
thuốc.
Nghiên cứu một số cơ sở sản xuất dược liệu và thuốc dược liệu thuộc các
doanh nghiệp lớn trên cả nước: Tổng Công ty dược (có Nông trường dược liệu
Eakao (Đắc Lắc); Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp
Mười (Long An); Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất dược liệu Long Thành (Đồng
Nai); Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất dược liệu Tuy Hòa (Phú Yên); Trung tâm
giống dược liệu Đà Lạt (Lâm Đồng); Công ty TNHH Traphaco;
d. Hệ thống kinh doanh (buôn bán, xuất nhập khẩu) dược liệu.
BỘ Y TẾ
6
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
Nghiên cứu hệ thống kinh doanh dược liệu tại một số thành phố lớn (Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, ), các cơ sở sản xuất đăng ký hộ kinh doanh thuốc
- Vùng Tây Nam Bộ: An Giang, Thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu
Giang, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang.
- Vùng Đông Nam Bộ: Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng
Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.3. Phương pháp nghiên cứu.
- Khảo sát điều tra thu thập số liệu bằng các hình thức: đi khảo sát thực tế;
dùng phiếu điều tra; văn bản đề nghị báo cáo và cung cấp thông tin;
- Tổng hợp các tài liệu tham khảo: Nghiên cứu các chính sách, luật, báo cáo
nghiên cứu, khảo sát và các tài liệu khác có liên quan đến phát triển ngành dược
của Việt Nam và một số nước trên thế giới;
- Dự báo về phát triển thị trường, tiềm năng và các nguồn lực cho ngành dược
nói chung và dược liệu nói riêng: Thông qua các chỉ tiêu tăng trưởng về kinh tế, xã
hội; Nghiên cứu thị trường dược liệu; Tình hình xuất nhập khẩu dược; Hoạt động
sản xuất của một số doanh nghiệp; Từ đó đưa ra các dự báo về nhu cầu, thị
trường, tốc độ phát triển, hướng phát triển của ngành dược trong giai đoạn tới;
- Thu thập các ý kiến chính thức và không chính thức của các bên liên quan,
đặc biệt là cán bộ và chuyên gia của cơ quan nhà nước thuộc các bộ, ngành liên
quan, cán bộ quản lý của Bộ Y tế, chuyên gia trong nước: Thông qua tổ chức các
hội nghị báo cáo đề án, gửi tài liệu xin ý kiến các bộ ngành, chuyên gia, Trên cơ
sở ý kiến đóng góp của các bên, nhóm thực hiện đề án tổ chức thảo luận để tiếp thu
các ý kiến đóng góp;
- Tổ chức các cuộc thảo luận của các nhóm công tác trên cơ sở đề xuất các
vấn đề và ý kiến thảo luận, thu thập ý kiến đóng góp cho các chủ đề chính: Trong
quá trình xây dựng Đề án, nhóm tổ xây dựng đề án thường xuyên tổ chức thảo luận
thống nhất ý kiến để thống nhất hoàn chỉnh các nội dung có trong đề án.
BỘ Y TẾ
8
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY
BỘ Y TẾ
9
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
trong lĩnh vực trồng và chế biến dược liệu với một nước láng giềng rộng lớn và
giàu tiềm năng, có kinh nghiệm và sử dụng YHCT có truyền thống như Trung
Quốc (Nhập nội giống cây con làm thuốc, học tập kinh nghiệm, trao đổi chuyên
gia, nhập khẩu dược liệu ).
Với Nhật Bản: Từ những năm 1990 Nhật Bản bắt đầu quan tâm đưa cây
thuốc vào trồng ở Việt Nam thông qua hợp tác giữa Bộ Y tế với Công ty dược
phẩm của Nhật Bản. Hàng chục giống dược liệu được nhập nội từ Nhật, có nhiều
cây đã trồng thành công ở Việt Nam để thành hàng hoá xuất khẩu đi Nhật Bản
như: Đương quy Nhật Bản, Lão quan thảo, Chè xanh, Long đờm thảo, Đương
quy dại, Sâm nhật
Với Ấn Độ: Bằng nhiều con đường khác nhau mà hiệu quả nhất là trao đổi
sinh viên, đã nhập nội từ Ấn Độ về một số cây quan trọng như củ Nêm, Sả hoa
hồng, Húng chanh, Diếp cá, Rau má
Với các nước khác: Việt Nam đã thông qua nhiều con đường để nhập nội
giống và trao đổi sinh viên cũng như thực tập sinh và nghiên cứu sinh khoa học
với các nước trên toàn thế giới.
Về xuất khẩu nước ta chủ yếu xuất dược liệu thô, ước tính 10.000 tấn/năm
bao gồm các loại như: Sa nhân, Quế, Hồi, Thảo quả, Cúc hoa, Dừa cạn, Hòe, và
một số loài cây thuốc mọc tự nhiên khác. Bên cạnh đó một số hoạt chất được
chiết xuất từ dược liệu cũng từng được xuất khẩu như Berberin, Palmatin, Rutin,
Artemisinin, tinh dầu và một vài chế phẩm đông dược khác sang Đông Âu và
Liên bang Nga.
1.3. Nhu cầu sử dụng dược liệu, thuốc từ dược liệu trên thế giới
Nhu cầu về dược liệu cũng như thuốc từ dược liệu (thuốc được sản xuất từ
nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiện từ động vật, thực vật hoặc khoáng chất) có xu
hướng ngày càng tăng, nhất là ở các quốc gia đang phát triển. Xu thế trên thế giới
Nam đang trên đà phát triển. Bên cạnh thuận lợi về mặt môi trường đầu tư và tiếp
cận công nghệ mới, thì phát triển dược liệu còn có thuận lợi về nguồn nguyên
liệu đa dạng và phong phú sẵn có tại các khu rừng tự nhiên trên cả nước. Trong
những năm gần đây, ngành dược Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi
nhận, đảm bảo đủ thuốc cho nhân dân có chất lượng với giá hợp lý và đảm bảo sử
dụng thuốc an toàn, hợp lý.
BỘ Y TẾ
11
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
Theo thống kê của Cục quản lý dược, năm 2011 giá trị thuốc sản xuất trong
nước ước tính đạt khoảng 1.140 triệu USD, tăng 24,04% so với năm 2010; tổng
giá trị tiền thuốc ước sử dụng năm 2011 là 2.432,5 triệu USD tăng 27,45% so với
năm 2010; nhập khẩu thuốc cả năm 2011 là: 1.337 triệu USD tăng 22,33% so với
năm 2010 (1.038,46 triÖu USD); Trị giá nguyên liệu nhập khẩu: 190 triệu USD
giảm 11,26% so với năm 2010 (214,110 triÖu USD).
Bảng 01: Thống kê sản xuất, nhập khẩu thuốc từ năm 2007- 2011
Năm
Tổng trị giá tiền
thuốc sử dụng
Trị giá SX
trong nước
Trị giá thuốc
nhập khẩu*
Bình quân tiền
thuốc đầu
người
(1.000USD) (1.000USD) (1.000USD) (USD)
2007 1.136.353 600.630 810.711 13,39
2008 1.425.657 715.435 923.288 16,45
201
0
2011
GMP 18 25 31 41 45 57 66 74 89 98 101 109
GLP 0 6 16 26 32 43 60 74 88 98 104 113
GSP 0 3 8 11 30 42 64 79 106 126 137 158
Nguồn: Cục quản lý Dược
Về sản xuất thuốc: các doanh nghiệp dược quan tâm nhiều đến chất lượng
thuốc, đổi mới và cải tiến công nghệ, đưa ra phân phối ngoài thị trường những
thuốc có chất lượng tốt. Dược liệu là thành phần có hoạt tính trong công thức các
BỘ Y TẾ
12
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
thuốc tân dược mặc dù thuốc đông dược chiếm tỷ trọng trong đăng ký thuốc
chiếm
Bảng 03: Phân loại SĐK thuốc tân dược, đông dược sản xuất trong nước
(tính đến 31/12/2011)
Tổng số đăng ký SĐK tân dược Tỷ lệ % SĐK Đông dược Tỷ lệ%
12.588 680 năm 2011 và
1086 hết năm
2010
Nguồn: Cục quản lý Dược
2.2. Tiềm năng nguồn dược liệu Việt Nam.
2.2.1. Tiềm năng dược liệu tự nhiên.
a. Những tiềm năng nổi bật:
Điều kiện tự nhiên ưu đãi cho đất nước và con người Việt Nam một hệ
sinh thái phong phú và đa dạng, có tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc, thể
hiện thông qua:
- Sự đa dạng về chủng loại cây thuốc: Theo số liệu báo cáo của hội nghị
dưới lòng hồ chứa nước của thủy điện Vĩnh Sơn. Bên cạnh đó còn rất nhiều vùng
phân bố tự nhiên của các loài cây thuốc quý như Sâm Ngọc linh, Thiên niên kiện,
Cốt khí củ, Ba kích, Đảng sâm, Hoàng đằng, Ngũ gia bì chân chim cũng bị thu
hẹp do nạn phá rừng và mất rừng.
- Nguồn dược liệu cung cấp cho YHCT và nguyên liệu cho công nghiệp
dược đang bị mất cân đối và tái phụ thuộc ngày càng nhiều vào dược liệu nhập
khẩu. Trong đó là sự suy giảm nghiêm trọng nguồn cây thuốc mọc tự nhiên,
nhiều loài cây có giá trị sử dụng và kinh tế cao trước kia khai thác được nhiều
nhưng hiện đã mất khả năng khai thác, thậm chí một số loài như Hà thủ ô đỏ, Sa
nhân, Vàng đắng, đã phải nhập khẩu.
- Sự giảm sút nhanh chóng khả năng khai thác những loài cây thuốc và
động vật làm thuốc có nhu cầu sử dụng cao: Việc khai thác ồ ạt, nạn phá rừng
làm nương rẫy dẫn đến tình trạng nguồn cây thuốc ở Việt Nam ngày càng cạn
kiệt, theo thống kê gần đây của Viện Dược liệu (2007), trong nước có 144 loài
cây thuốc thuộc diện quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo tồn (trong
đó có các loài cây thuốc quý như Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang,
Hoàng liên, Bách hợp, Biến hóa núi cao, Thanh mộc hương, Đảng sâm )
BỘ Y TẾ
14
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
- Công tác điều tra cơ bản dược liệu ở Việt Nam đã được thực hiện trên
phạm vi toàn quốc từ năm 1961 đến 1965. Từ năm 1986 đến nay công tác điều
tra vẫn được tiếp tục tiến hành ở những vùng trước kia chưa tiến hành điều tra và
tiến hành phúc tra ở các tỉnh mới được tái lập hoặc chia tách mới.
Có thể nói rằng tiềm năng và hiện trạng nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt
Nam là phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, sự phong phú này cũng chỉ có giới
hạn. Chúng chỉ có thể thực sự trở thành tiềm năng lâu dài nếu biết giữ gìn và khai
thác một cách hợp lý.
2.2.2. Tiềm năng dược liệu nuôi trồng
tỉnh Thanh Hóa xây dựng được 7 quy trình trồng 7 cây thuốc tạo nguyên liệu cho
sản xuất thuốc: Angelin từ Đương qui Nhật Bản, Morantin từ Mướp đắng; Xây
dựng vùng trồng Hòe xen canh với cây nông nghiệp ở Tây Nguyên; xây dựng
vùng trồng Tràm để chưng cất tinh dầu ở Đồng Tháp Mười; xây dựng vùng trồng
Artisô và Chè dây tại SaPa – Lào Cai; Lâm Đồng,; trồng Kim tiền thảo tại Bắc
Giang,
- Tổng sản lượng dược liệu trồng hàng năm trên cả nước ước tính khoảng
3.000 – 5.000 tấn. Trong đó đáng kể nhất là Thanh hao hoa vàng gần 500 tấn
/năm, Quế trên 300 tấn/năm, Kim tiền thảo gần 300 tấn/năm, Artisô khảng 850
tấn/năm, Nghệ khoảng 1000 tấn/năm, Gừng 500 tấn/năm, Tỏi 100 tấn/năm, Gấc
3000 tấn/năm…. Về diện tích trồng một số cây truyền thông như Quế, Cúc hoa,
Hồi, Hòe, Kim tiền thảo gần đây đã tăng lên khá nhiều.
b. Những hạn chế, khó khăn, thách thức, cơ hội
- Tình trạng nuôi trồng và khai thác dược liệu ở nước ta hiện nay còn tự
phát, qui mô nhỏ, chưa có định hướng nên dẫn đến sản lượng dược liệu không ổn
định, giá cả biến động.
- Dược liệu không được sản xuất theo quy trình, quy hoạch cụ thể: Dược
liệu được trồng lẫn với vùng trồng lúa và hoa màu; Kỹ thuật trồng và chăm sóc các
cây dược liệu chủ yếu theo kinh nghiệm; Việc sử dụng giống, phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật, nguồn nước tưới… còn tùy tiện. Điều này không những gây ảnh
hưởng tới môi trường mà còn ảnh hưởng tới chất lượng dược liệu.
- Vùng trồng dược liệu liệu trong cộng đồng hiện đã bị thu hẹp đáng kể,
thậm chí một số vùng trồng cây thuốc truyền thống đã không còn. Nhiều cây
thuốc Nam như Hương nhu tía, Đậu ván trắng, Ngải máu,… đang có xu hướng bị
lãng quên. Nhiều giống, loài cây thuốc nước ngoài đã từng được đưa vào sản xuất
BỘ Y TẾ
16
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
đại trà ở nước ta, nay trở lại tình trạng phụ thuộc vào nhập khẩu như Bạch chỉ,
trên 2 tỷ USD vào năm 2013 theo dự đoán của hãng nghiên cứu thị trường
Business Monitor International Ltd (BMI) của Anh Quốc.
BỘ Y TẾ
17
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
BMI dự báo, trong 5 năm tới thị trường dược phẩm Việt Nam sẽ là mảnh
đất giàu tiềm năng cho các công ty nước ngoài do thị trường bắt đầu mở cửa rộng
hơn cho các doanh nghiệp và thị trường Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng: 17%-
19%/năm và tiền thuốc tăng gấp đôi sau 5 năm
Theo cam kết của WTO, các công ty dược phẩm nước ngoài có quyền mở
chi nhánh tại Việt Nam và được tham gia nhập khẩu trực tiếp dược phẩm, mặc dù
chưa được quyền phân phối. Thêm vào đó, Việt Nam sẽ giảm thuế cho sản phẩm
y tế là 5% và 2,5% cho thuốc nhập khẩu trong vòng 5 năm sau khi gia nhập
WTO.
Biểu đồ 02: Dự báo nhu cầu sử dụng thuốc của Việt Nam
Biểu đồ 03: Biểu đồ Dự báo thị trường dược phẩm Việt Nam
(Dự báo quy hoạch)
- Dự báo về cung cầu thị trường dược liệu trong nước, khả năng xuất khẩu
dược liệu của Việt Nam đến các thị trường Quốc tế:
Nhu cầu trong nước: Với trên 86 triệu dân Việt Nam, hứa hẹn cho dược liệu
một thị trường tiềm năng khi nhu cầu sử dụng mặt hàng này của mặt hàng này
ngày càng lớn, có tốc độ tăng trưởng bình quân cao 11,7%/năm. Không chỉ là
BỘ Y TẾ
18
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
thuốc, xu thế mỹ phẩm dùng nguyên liệu từ thiên nhiên thay thế nguyên liệu tổng
hợp đã chiếm 90% tổng số mỹ phẩm được sản xuất.
Khả năng xuất khẩu dược phẩm: Trong những năm gần đây cũng có nhiều
19
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
doanh nghiệp dưới nhiều hình thức, để trong một thời gian hợp lý có thể nâng cao
tiềm lực nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực dược liệu.
- Dự báo về công nghệ và thiết bị nhằm phục vụ quá trình sơ chế, chế biến
dược liệu sau thu hoạch trong thời gian tới.
Hiện nay một vài doanh nghiệp nắm bắt được sự phát triển của thị trường đã
bắt đầu đầu tư các nhà máy chiết xuất ở các vùng nguyên liệu. Tuy nhiên, phần lớn
các trang thiết bị của các nhà máy này vẫn chỉ dùng để “nấu cao” ở quy mô lớn có
sự hỗ trợ của máy móc. Một số cơ sở nhỏ có thiết bị hiện đại hơn (chiết có gia
nhiệt với các dung môi cồn, cồn – nước, cô thu hồi dung môi dưới áp suất giảm…)
nhưng lại thiếu những quy trình chiết, các sản phẩm chiết có chất lượng cao đặc
trưng cho cơ sở, có sản lượng đủ lớn cạnh tranh với nước ngoài. .
Giai đoạn tới cần tập trung đầu tư thiết bị sấy khô dược liệu để có sản
phẩm dược liệu đạt chất lượng tốt; đầu tư cho chưng cất các loại tinh dầu; công
nghệ sản xuất bao bì; công nghệ cao hơn như chiết xuất dược liệu bằng dung môi
xăng cho các nhà sản xuất lớn;
- Dự báo khả năng đầu tư xây dựng mới các xưởng chế biến, chiết xuất
dược liệu trong vùng nguyên liệu.
Theo số liệu thống kê, hiện nay các cơ sở sản xuất dược tập trung ở Khu
vực Đông nam bộ và đồng bằng sông Hồng, chỉ có một cơ sở sản xuất dược
phẩm ở khu vực Tây Bắc.
Chính vì thế trong giai đoạn thực hiện đề án, cần chú trọng xây dựng một
số nhà máy chế biến dược phẩm đạt chuẩn GMP ở khu vực Tây Bắc, Đông Bắc,
Tây Nguyên để giảm thiểu chi phí vận chuyển nguyên liệu và đảm bảo chất
lượng nguyên liệu sản xuất. Bên cạnh đó, tại các vùng nguyên liệu cần bố trí các
nhà máy sơ chế dược liệu sau khi thu hái để đảm bảo chất lượng đầu vào cho
nguyên liệu sử dụng bào chế thuốc. Đồng thời khuyến khích và kêu gọi đầu tư
(trong nước và nước ngoài) xây dựng nhà máy sản xuất các dạng bào chế với
và tầm nhìn đến năm 2030”
Bảng 05: Thống kê lượng dược sĩ đại học tại các địa phương
Năm
DSĐH (1) 9.458 9.075 12.777 13.846 13.741 15.313
DS sau ĐH (2) 963 1.089 1.146 1.330 1.409 1.562
Bình quân số
DSĐH/vạn dân
1,2 1,19 1,5 1,77 1,76 1,92
(Nguồn: Tổng hợp theo báo cáo của 63 Sở Y tế)
Cho đến nay trong cả nước đạt tỷ lệ bình quân số DSĐH/vạn dân là 1,92
(ước tính khoảng 86 triệu dân) cao hơn so với năm 2010. Bên cạnh đó, theo báo
cáo của các Sở Y tế, trong năm vừa qua số lượng dược sỹ ĐH, dược sỹ sau ĐH
đều tăng hơn so với năm 2010, do nhu cầu thực tế về nhân lực dược tại địa
phương thiếu trầm trọng nhiều năm nay, nên trong giai đoạn vừa qua các
trường đại học đã mở rộng hình thức, quy mô và số lượng đào tạo DS ĐH
Nhân lực ngành dược tại Việt Nam hiện phân bố không đồng đều giữa
các vùng/miền, tỉnh/thành; chủ yếu nhân lực dược tập trung ở các thành phố lớn
như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, tình trạng thiếu dược sĩ đang xảy ra khá trầm
trọng ở nhiều tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa. Điều này tạo ra sự mất cần
bằng về nguồn lực phục vụ cho các địa phương.
Nhân lực dược còn có sự phân bổ không đều giữa giữa cơ quan quản lý
nhà nước và các cơ sở sản xuất kinh doanh. Nhiều dược sĩ có trình độ không
muốn làm việc ở những nơi độc hại mà thường chọn những doanh nghiệp có
thu nhập cao để làm việc bởi chế độ chính sách tiền lương và thu nhập hiện
hành trong khối các cơ quan Nhà nước chưa thỏa đáng, không có chính sách
khuyến khích, thu hút cán bộ có năng lực làm việc lâu dài trong các cơ sở y
tế công lập đặc biệt trong các cơ sở kiểm nghiệm của nhà nước.
Để phát triển ngành dược, từ nay đến năm 2020 dự báo sẽ cần thêm khoảng
trên 10.000 nhân lực dược và 1/3 trong số đó sẽ phục vụ trực tiếp cho ngành dược
liệu ở Việt Nam.
ngành nghề khác nhau thì vẫn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, khi nguyên liệu này được lưu thông trên thị trường (không
sử dụng để làm thuốc) thì thuộc thẩm quyển quản lý của Bộ Công Thương, chỉ
khi nguyên liệu đó được sử dụng vào mục đích chữa bệnh, sản xuất thuốc chữa
bệnh dùng cho người theo quy định của Luật dược được gọi chung là “Dược
liệu” thì thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế.
Như vậy, hiện nay việc quản lý nhà nước về dược liệu vẫn đang có sự
chồng chéo chức năng nhiệm vụ giữa Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và phát triển
BỘ Y TẾ
24
Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030”
nông thôn và Bộ Công Thương, điều này đã gây rất nhiều khó khăn, bất cập trong
công tác quản lý nhà nước về dược liệu nói chung và hiện chưa có Bộ ngành nào
nhận trách nhiệm làm đầu mối để quản lý dược liệu thống nhất trong cả nước.
Hệ thống văn bản pháp qui đã ban hành nhưng chưa cụ thể hóa bằng hành
động do thiếu các văn bản dưới luật để cụ thể hóa và phối hợp thực hiện trong
thực tế. Đồng thời thiếu các văn bản pháp qui hỗ trợ về tài chính, thuế, hỗ trợ sản
phẩm mới từ thiên nhiên.
Do vậy, cần thiết và đòi hỏi phải có sự phối hợp liên ngành chặt chẽ, thống
nhất giữa Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp phát triển Nông thôn, Bộ Tài chính (Tổng
Cục Hải quan), Bộ Công Thương (Cục Quản lý thị trường), Bộ Quốc phòng (Bộ
đội Biên phòng). Thực tế hiện nay có nhiều Bộ, ngành theo dõi, quản lý “dược
liệu” như:
1. Bộ Y tế: Quản lý dược liệu dùng làm thuốc (Thuốc từ dược liệu):
2. Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn: Quản lý nuôi trồng cây thuốc,
quản lý rừng (trong đó có động vật, thực vật làm thuốc);
3. Bộ Công Thương quản lý việc buôn bán, xuất nhập khẩu “dược liệu”
dùng cho các lĩnh vực khác thuốc như: Thực phẩm, thực phẩm chức năng, mỹ
phẩm, công nghiệp hóa dược, tinh dầu, chất thơm…