Sử dụng hiêu quả sách giáo khoa trong đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử - Pdf 26

MỤC LỤC
Nội dung Số trang
A. MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………………… 2
2. Ý nghóa và tác dụng của vấn đề nghiên cứu……………………………………3
3. Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………… 3
4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………… 3
II.PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
1. Cơ sở pháp lý………………………………………………………………… 4
2. Cơ sở lý luận……………………………………………………………………5
3. Cơ sở thực tiễn……………………………………………………………… 7
B.NỘI DUNG
I.MỤC TIÊU ĐỀ TÀI……………………………………………………………….8
II. THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI
1. Khái quát phạm vi…………………………………………………………………8
2. Thực trạng đề tài…… …………………………………………………………… 8
3. Nguyên nhânthựctrạng…………………………………………………………….9
III. MÔ TẢ ĐỀ TÀI
1. Cơ sở đề xuất giải pháp……………………………………………………………10
2. Các giải pháp chủ yếu…… ……………………………………………………… 10
3. Khả năng áp dụng………………………………………………………………….18
4. Lợi ích kinh tế – xã hội …………………………………………………………….18
C. KẾT LUẬN
1. Kết luận……………………………………………………………………………. 23
2. Kiến nghò …………….……………………………………………………………. 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………….25
- 1 -
A. MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.

Đối với học sinh, nhằm hình thành kỉ năng làm việc với sách giáo khoa. Đồng
thời rèn luyện, phát triển cho học sinh kỉ năng nghiên cứu tìm tài liệu tham khảo để trả
lời các câu hỏi và hoàn thành các bài tập lòch sử trong sách giáo khoa.
Hiệu quả của một bài học lòch sử phụ thuộc phần lớn vào giáo viên: giáo án, đồ
dùng trực quan, tài liệu tham khảo,… Mặt khác, sự chủ động lónh hội bài học của học
sinh cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả của giờ học. Vì vậy dạy - học lòch sử đòi
hỏi người học sinh tìm hiểu kỹ kiến thức sẵn có trong sách giáo khoa để tạo sự hứng thú
trong tiết học lòch sử.
3. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi tiến hành tham khảo ý kiến, tiếp thu kinh nghiệm
của nhiều giáo viên trong tổ bộ môn, đồng thời dựa vào kinh nghiệm của bản thân và
hiệu quả thực tế của các tiết dạy có hướng dẫn học sinh tự học qua sách giáo khoa, đặc
biệt là học sinh khối lớp 12.
Về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chỉ đơn cử ở một số bài học lòch sử trong
chương trình lớp 12.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đóng một vai trò hết sức quan trọng. Để thực hiện đề
tài này, tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Giáo viên dựa trên thực tiễn kinh nghiệm giảng dạy phong phú của mình.
- Kiểm tra năng lực thực hành của học sinh qua các tiết dạy thực tế trên lớp, cho
bài tập về nhà nghiên cứu, sưu tầm tư liệu… ở các lớp 12 A2, 12 A3.
- Nghiên cứu phương pháp dạy học lòch sử, trên cở sở đó nắm vững cơ sở khoa
học lòch sử để xác đònh một cách rõ ràng kiến thức cơ bản, từ đó lựa chọn phương pháp
thích hợp nhất.
- 3 -
II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.
1.1. CỞ SỞ PHÁP LÝ.
Hiện nay, giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng, trong đó có bộ
môn Lòch sử đang được đổi mới thực sự nhằm thực hiện có hiệu quả công cuộc công

chứng về tính chính xác, tính cụ thể, phong phú của sự kiện lòch sử học sinh cần thu
nhận, nó giúp các em khắc phục việc "hiện đại hoá" lòch sử, hoặc "hư cấu" sai sự thực.
Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu nói trên, đồng thời với những
điều kiện thực tế của nhà trường, chúng tôi nêu ra một số biện pháp thích hợp để sử
dụng sách giáo khoa hiệu quả hơn trong đổi mới dạy học lòch sử.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN.
1.2.1 Sách giáo khoa lòch sử ở trường THPT
Sách giáo khoa thể hiện những yêu cầu, nội dung của chương trình. Kiến thức
được trình bày trong sách giáo khoa phải đạt yêu cầu chuẩn mực cho việc truyền thụ,
giáo dục, cho các hình thức đánh giá; kiểm tra học sinh.
Mục tiêu của sách giáo khoa không phải là phát hiện những điều mới về nghiên
cứu lòch sử như một công trình sử học, mà phải giải quyết tốt việc cung cấp những kiến
thức cơ bản, hiện đại cho học sinh, phù hợp với mục tiêu đào tạo và nội dung chương
trình đã quy đònh. Sách giáo khoa không chỉ cung cấp kiến thức mới, cơ bản cho học
sinh mà còn củng cố những hiểu biết đã có, kiểm tra, đánh giá, tra cứu, tham khảo, ứng
dụng, góp phần hình thành phát triển các kỉ năng phương pháp giảng dạy của giáo viên
và học tập của học sinh.
Sách giáo khoa gồm hai phần: kênh chữ và kênh hình.
- Kênh chữ là những thông tin thành văn nhằm để trình bày nội dung tri thức của
môn học, chỉ dẫn về phương pháp học tập và kiểm tra đánh giá về phương pháp học
tập.
- Kênh hình bao gồm những ảnh chụp, tranh vẽ, sơ đồ, đô thò. Có thể chia kênh
hình thành các loại:
+ Loại minh hoạ để cụ thể hoá nội dung một sự kiện quan trọng.
- 5 -
+ Loại cung cấp thông tin (thường là tranh ảnh, tư liệu lòch sử).
+ Loại vừa cung cấp thông tin vừa minh họa cho kênh chữ.
+ Loại dùng để rèn luyện kỉ năng thực hành, kiểm tra kiến thức.
Kênh chữ trong sách giáo khoa phải đáp ứng các yêu cầu sau:
 Phản ánh đúng nội dung, đối tượng nghiên cứu, phù hợp với nội dung trình

Hiệu quả của bài học lòch sử phụ thuộc phần lớn vào công việc của giáo viên:
chuẩn bò bài học (giáo án, đồ dùng trực quan, tài liệu tham khảo…), tổ chức điều khiển
giờ học. Sự chủ động lónh hội bài học của học sinh cũng ảnh hưởng đến kết quả giờ
học, quan trọng nhất là tinh thần kỷ luật, hứng thú học tập, tổ chức ở các khâu của quá
trình lên lớp. Trong thực tế giảng dạy lòch sử, nhiều giáo viên có kinh nghiệm đã thể
hiện linh hoạt trong cấu trúc bài học, thể hiện sự sáng tạo và tránh được công thức rập
khuôn trong phương pháp lên lớp, kết hợp hiệu quả giữa hệ thống câu hỏi với việc sử
dụng đa dạng, phong phú các tài liệu như đoạn trích các tác phẩm lòch sử, văn học, … có
tác dụng tốt để tạo sự hứng thú học tập của học sinh. Song bên cạnh đó cũng có những
trường hợp giáo viên thể hiện lối dạy học nhồi nhét kiến thức, không xác đònh được
kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, trình bày một cách khô cứng, không gây cảm
xúc cho học sinh, tạo tâm lí cho học sinh cảm thấy học nhiều, chán nãn môn học.
Từ thực tế trên, tìm hiểu thực trạng này có ý nghóa thiết thực đặc biệt đối với
giáo viên còn ít kinh nghiệm trong giảng dạy. Qua đóù còn góp phần tự nâng cao, hoàn
thiện năng lực, trình độ chuyên môn để đáp ứng những yêu cầu thực tiễn của nền giáo
dục nước ta hiện nay.
- 7 -
B. NỘI DUNG
I. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Cấu trúc của sách giáo khoa trước đây ở hầu hết các môn ở THPT nói chung,
môn Lòch sử nói riêng còn đơn giản, không có phần tra cứu các khái niệm, thuật
ngữ,các sự kiện, các nhân vật,… thực tế đó chưa tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh khi có
nhu cầu tra cứu, tự học hoặc có rất ít nội dung hướng dẫn người học tiếp cận với phương
pháp học tập, nghiên cứu.
Trong những năm gần đây việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa, điều đó
phần nào góp phần giúp giáo viên và học sinh chuyển từ cách dạy thụ động, áp đặt,
sang cách dạy học tích cực, chủ động, sáng tạo, năng lực tự học của học sinh. Tuy vẫn
còn nhiều vấn đề bất cập khi sử dụng sách giáo khoa mới, nhất là nhiều giáo viên cho
rằng chương trình quá tải, sách giáo khoa viết nhiều, còn đối với học sinh lại ngại đọc
sách mà vẫn còn thói quen ỷ lại kiến thức giáo viên cung cấp trên lớp.

3. NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG.
Nguyên nhân của thực trạng trên là do bản thân một số giáo viên vẫn còn quen
với lối dạy một chiều, ngại khó, chưa khai thác tối đa kiến thức hoặc không xác đònh
kiến thức cơ bản ở sách giáo khoa để cung cấp cho học sinh nên khi sử dụng không
phát huy hết tác dụng, giáo viên cũng ngại hướng dẫn học sinh tự học ở nhà….
Xuất phát từ thực trạng việc dạy học lòch sử hiện nay- đa phần học sinh coi Lòch
sử là môn phụ, học chống đối không thích học lòch sử, sợ sử và chán sử…chúng ta cần
nhận thức mới về bộ môn đó là phải đem lại niềm say mê học tập, khơi dậy niềm đam
mê của học sinh kích thức sự tò mò, hứng thú, sáng tạo để các em có thể tự tìm kiếm
những gì không chỉ trong phạm vi kiến thức ở trong sách giáo khoa mà còn cả kiến thức
ngoài xã hội, để các em thấy rằng mỗi bài học lòch sử đều có ích.
Chính vì những thực tế trên,không nên làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy
học môn lòch sử, học sinh tỏ ra nhàm chán khi đến tiết học lòch sử. Đặc biệt là ở khối
lớp 12, học sinh đã bắt đầu có xu hướng học lệch, ngại học môn lòch sử.
- 9 -
III. MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
1. CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP.
Giáo dục tình cảm, thái độ, tư tưởng là một nhiệm vụ quan trọng của giáo dục
Lòch sử trường phổ thông. Ba mặt chuẩn kiến thức, kỉ năng và hướng thái độ được thể
hiện trong việc biên soạn SGK. Trên các mặt lựa chọn và trình bày sự kiện, các loại
kênh hình, câu hỏi, bài tập … tuy phân biệt về mặt kênh hình, kênh chữ trong SGK, song
các bộ phận này gắn chặt, kết hợp vào nhau góp phần giúp cho học sinh nắm được kiến
thức cơ bản (sự kiện, nhân vật lòch sử, đòa điểm, thời gian, khái niệm, nguyên lý, quy
luật, hiểu biết về phương pháp học tập của học sinh…) và năng lực vận dụng kiến thức.
Vì vậy, nhận thức đúng về SGK mới có thể đổi mới phương pháp sử dụng SGK
của thầy (giảng dạy) và học sinh (học tập mà chủ yếu là tự học). Trên cơ sở đó, tôi
mạnh dạn đề xuất một số biện pháp để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng hiệu quả
SGK trong đổi mới phương pháp dạy học lòch sử.
2. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU.
2.1 Đọc kó, nghiền ngẫm các sự kiện cơ bản trong sách giáo khoa

mang tính 2 cực như ở châu u, nhất là không có sự đối đầu theo ý thức hệ giữa các
nước châu Á.
Đối với bài 3 “Trung Quốc ” xác đònh kiến thức trọng tâm, chúng ta cần tập
trung vào những nội dung chính sau:
- Sự ra đời của nước CHND Trung Hoa, ý nghóa của sự kiên này. Không cần đi
sâu vào diễn biến của cuộc nội chiến.
- Tập trung vào thời kì cải cách - mở cửa của Trung Quốc 1978.
Nói về Tình hình cách mạng nước ta sau Hiệp đònh Giơnevơ năm 1954, Mó đã
thực hiện mưu đồ thay chân Pháp, lấp chỗ trống ở miền Nam, chúng dựng lên chính
quyền tay sai Ngô Đình Diệm, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc đòa kiểm mới. Vì
vậy, ngay sau Hiệp đònh Giơnevơ, nhân dân miền Nam phải tiến hành cuộc đấu tranh
chống chế độ Mó – Diệm, giữ gìn, phát triển lực lượng cách mạng.
- 11 -
Để làm rõ nhiệm vụ của cách mạng miền Nam, học sinh đọc kó sách giáo khoa,
giáo viên đặt vấn đề: Trước bối cảnh mới ta chủ trương chuyển từ đấu tranh vũ trang
chống Pháp sang đấu tranh chính trò chống chế độ Mó – Diệm. Vậy tại sao ta chủ trương
đấu tranh chính trò chống Mó – Diệm chứ không phải đấu tranh vũ trang như hồi chống
Pháp ?
Giáo viên nhận xét ý kiến của học sinh và chốt ý:
- Sau năm 1954, kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân ta là Mó – Diệm (mạnh và
tàn bạo)
- Lực lượng kháng chiến miền Nam còn non yếu (vì phải tập kết ra Bắc)
- Ta còn thời gian thi hành Hiệp đònh (điều khoản hiệp thương tuyển cử đến
tháng 7/1956 mới được diễn ra) . Vì vậy ta phải kiên trì đấu tranh hoà bình đòi hiệp
thương tổng tuyển cử bảo vệ hoà bình, giữ gìn lực lượng, chống khủng bố, đàn áp,
chống chiến dòch “tố cộng, diệt cộng”, chống trò hề ‘trưng cầu dân ý”, “bầu cử quốc
hội” của Ngô Đình Diệm,…
Qua đây giáo viên có thể mở rộng, chiến dòch “tố cộng, diệt cộng” được coi là
chính sách cơ bản của Mó và chính quyền Sài Gòn, là quốc sách bao trùm tất cả các
hoạt động nhằm chống lại cách mạng và nhân dân ta. Mó – Diệm lập ra những ban chỉ

sinh sẽ được tái hiện lại sự kiện lòch sử của không khí ngày 2/9/1945, đồng thời học
sinh có tình cảm mạnh mẽ về lòng yêu mến lãnh tụ Hồ Chí Minh, tình yêu đối với Tổ
quốc, sự căm thù bọn xâm lược và chiến tranh.
Hình ảnh và xem đoạn phim có nội dung lòch sử là phương pháp dạy học lòch sử
đạt hiệu quả cao. Tuy vậy, việc minh họa tranh ảnh hay trình chiếu một đoạn phim
không đơn thuần các em được quan sát hay làm sinh động tiết học. Nếu như vậy thì
việc sử dụng tranh ảnh, đoạn phim cũng chưa thể phát huy hết tác dụng. Vậy để giúp
hiểu sâu về nội dung của bài học, sau khi các em được xem ảnh, phim, giáo viên có thể
tổ chức trao đổi thông qua các nhóm bằng bài tập nhỏ, hoặc đặt ra những câu hỏi để
phát huy khả năng tư duy nhận thức, khai thác hiệu quả nội dung kiến thức cơ bản của
bài học. Khi đề cập đến nội dung: “Nguyễn i Quốc và việc truyền bá chủ nghóa Mác
– Lênin về trong nước”. Giáo viên cho học sinh xem bức ảnh Nguyễn i Quốc tại đại
- 13 -
hội của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua 12/1920. Sự kiện này đã đánh dấu quá trình
Nguyễn i Quốc đi từ chủ nghóa yêu nước đến chủ nghóa Mác – Lênin. Đến đây, chủ
nghóa yêu nước Việt Nam thấm nhuần chủ nghóa Mác – Lênin và chủ nghóa quốc tế vô
sản mà lãnh tụ Nguyễn i Quốc là đại diện xuất sắc nhất. Sự nghiệp cách mạng của
dân tộc Việt Nam gắn chặt với sự nghiệp cách mạng thế giới. Công lao to lớn đó thuộc
về Chủ tòch Hồ Chí Minh vó đại, lãnh tụ của dân tộc Việt Nam. Sau khi lưu ý học sinh
sự kiện này, giáo viên đặt một số câu hỏi như: “Vì sao Nguyễn i Quốc quyết đònh
đứng về Quốc tế cộng sản, trở thành người cộng sản ?”,…
Hoặc khi đề cập đến nội dung về chủ trương của ta trong chiến dòch biên giới thu
– đông 1950. Đảng và chính phủ huy động mọi lực lượng chuẩn bò cho chiến dòch (ở
đây giáo viên cho học sinh xem ảnh: dân công phục vụ chiến dòch). Trong chiến dòch
này Bác Hồ đã đi sát mặt trận để giúp đỡ ban chỉ huy chiến dòch và động viên bộ đội
chiến đấu (giáo viên sử dụng bức ảnh Chủ tòch Hồ Chí Minh đang quan sát mặt trận
Đông Khê), đồng thời đọc bài thơ nói lên ý chí của Người:
“Chống gậy lên non xem trận đòa
Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây
Quân ta khí mạnh nuốt ngưu đẩu

sinh tự mình lập dàn ý ghi chép, hiểu lôgic phát triển của lòch sử.
Mặt khác, nhằm hệ thống hóa các sự kiện quan trọng theo thứ tự thời
gian, đồng thời nêu mối liên hệ giữa các sự kiện cơ bản trong một thời kì để giúp học
sinh không những ghi nhớ những sự kiện chính, mà còn nắm được các mốc thời gian
đánh dấu mối quan hệ của các sự kiện quan trọng. Tuy nhiên công việc này không phải
hoàn toàn giáo viên thực hiện mà có thể hướng dẫn các em về nhà tự xây dựng niên
biểu. Chẳng hạn như giáo viên hướng dẫn học sinh về nhà xây dựng niên biểu về “các
thành tích của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp từ 1951 đến 1954” như
sau:
Thành tích Quân sự Chính trò – ngoại
giao
Kinh tế Văn hóa –
giáo dục
Thời gian
1951 - Chiến dòch trung - Đại hội đại biếu - Ban hành sắc lệnh về thuế - Giáo dục
- 15 -
du.
- Chiến dòch đường
số 18.
- Chiến dòch
Quang Trung.
- Chiến dòch Hòa
Bình.
toàn quốc lần thứ II
của Đảng.
- Hợp nhất mặt trận
Việt Minh và Liên
Việt.
- Khối liên minh
Việt Miên Lào được

- Triệt để giảm tô, thực hiện
giảm tức, cải cách ruộng
đất.
- Công nghiệp quốc phòng
đẩy mạnh.
2.4 Trả lời được các câu hỏi ở cuối mỗi bài
Trong SGK, ở mỗi cuối đề mục, cuối mỗi bài đều có câu hỏi. Câu hỏi đó có thể
bám sát kiến thức cơ bản trong bài và có những câu hỏi bài tập cuối bài mang tính gợi
mở, mà đòi hỏi học sinh phải vân dụng kiến thức tổng hợp khái quát, thậm chí tham
khảo thêm tài liệu ngoài sách giáo khoa mới có thể hoàn thành yêu cầu trên. Ví dụ, sau
khi kết thức bài “cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thức (1953-
1954)”, giáo viên yêu cầu học sinh làm bài tập: Hãy chứng minh: Chiến thắng Điện
Biên Phủ là thắng lợi quân sự lớn nhất của ta trong kháng chiến chống Pháp và là thắng
lợi quyết đònh buộc thực dân Pháp phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Đông Dương.
2.5 Hướng dẫn học sinh tập tóm tắt nội dung chính từng bài đã học theo kiểu đề
cương vắn tắt.
- 16 -
Việc hướng dẫn học sinh tập tóm tắt nội dung chính từng bài đã học theo kiểu đề
cương vắn tắt cũng là một hình thức tự học. Trong việc tự học, không chỉ chú ý đến việc
học sinh tự đọc sách, làm việc không có thầy giáo và bạn bè. Có thể học sinh tự học
sách giáo khoa, song vẫn thụ động, chỉ biết thuộc lòng mà không biết cách đặt vấn đề,
tìm hiểu sâu hơn những kiến thức trong sách. Có thể học sinh ngồi nghe giáo viên giảng
bài mà vẫn không tiến hành những hoạt động tư duy độc lập trong việc lựa chon những
điều nghe được để ghi chép, nảy sinh những vấn đề mới cần giải quyết, có nhu cầu tìm
hiểu sâu hơn những điều giáo viên trình bày. Vì vậy, thông qua việc hướng dẫn của
giáo viên sử dụng SGK để tự học ở nhà để trình bày những kiến thức thực sự của mình
đã làm chủ, biết sử dụng ngôn ngữ của mình để diễn đạt kiến thức và có những ý kiến
nhận xét, phán đoán riêng. Qua đó học sinh tự nắm vững kiến thức lòch sử một các
chính xác,vững chắc, được suy nghó nhận thức sâu sắc và có thể vận dụng một cách
thành thạo.

3. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG.
Khi sử dụng SGK trong dạy học bộ môn lòch sử, giáo viên cần phải rèn luyện kỉ năng
lời nói, bởi nó có ý nghóa giáo dục rất lớn, tác động đến tư tưởng tình cảm cho học sinh.
Ngoài ra khi sử dụng SGK lòch sử, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh không
chỉ biết cách sử dụng trên lớp mà còn biết tự học ở nhà nắm các sự kiện cơ bản trong
bài học một cách vừa sức.
Như đã nói trên, Việc sử dụng SGK trong dạy học lòch sử là một trong những
phương pháp hiệu quả nhằm để cung cấp kiến thức mới, nắm chắc những kiến thức cơ
bản có trong sách giáo khoa và tạo thêm sự hứng thú trong học tập môn lòch sử của học
sinh, từ đó để nâng cao hiệu quả, chất lượng trong dạy học lòch sử. Vì vậy, trong quá
trình dạy học lòch sử bản thân tôi cũng phải có sự phối hợp với giáo viên trong tổ, nhóm
để tích cực hơn nữa trong việc tự bồi dưỡng, tham khảo tài liệu lòch sử để cung cấp cho
học sinh.
4. LI ÍCH KINH TẾ - XÃ HỘI
* Đối với giáo viên :
- 18 -
Để làm cơ sở cho việc xây dựng đề tài, bản thân tôi tiến hành thực hiện giảng
dạy ở một số lớp 12 tôi đang trực tiếp giảng dạy cụ thể là ( 12A2, 12A3) có sự tham dự
của đồng nghiệp trong tổ chuyên môn. Qua các tiết dạy chúng tôi trao đổi và rút kinh
nghiệm giờ dạy để đánh giá những ưu và khuyết điểm trong việc sử dụng hiệu quả sách
giáo khoa trong đổi mới phương pháp dạy môn lòch sử , từ đó thống nhất việc sử dụng
như thế nào có hiệu quả tốt nhất. Đồng thời phát huy việc sử dụng sách giáo khoa
trong đổi mới phương pháp giảng dạy ở các lớp mà chất lượng học sinh ở mức độ Khá
– Giỏi chiếm 70% tổng số học sinh của lớp là một điều rất cần thiết và bản thân tôi
nhận thấy rằng học sinh rất hào hứng tiếp nhận thông tin kiến thức bài giảng.
Đây là một trong những yếu tố cần thiết cho mỗi giáo viên dạy Lòch sử, vì
phương pháp dạy học hiện nay là tránh dạy học theo lối “ Thầy đọc trò chép” hoặc
“dạy chay” và lâu nay theo quan niệm của một số người học thì môn Lòch sử rất khô
khan và nhàm chán. Nếu chúng ta biết vận dụng một số “thủ thuật” nhỏ trong dạy học
như sử dụng tài liệu tham khảo để minh họa, chứng minh, lý giải…một vấn đề nào đó thì

hôm nay giáo viên phải rèn cho học sinh cách tự học, tự tìm kiếm tri thức.
Bảng 2 : Thống kê số liệu điều tra giờ học lòch sử mà giáo viên yêu cầu học sinh
chuẩn bò nội dung bài học thông qua bài soạn ở nhà :
Lớp Só số
Các mức độ khác nhau
Hứng thú Bình thường
12a2 43 35 81,4% 8 18.6%
12a3 43 33 76,7% 10 23,3%
Vậy qua bảng thống kê cho chúng ta thấy hứng thú trong giờ học mà giáo viên yêu cầu
học sinh chuẩn bò bài thông qua bài soạn ở nhà là điều rất cần thiết và bổ ích cho học
sinh trong học tập. Qua đó giúp học sinh hiểu thêm hơn sự kiện lòch sử và ham thích
học môn lòch sử chứ không phải lâu nay như nhiều người quan niệm học Lòch sử rất khô
khan và nhàm chán. Từ đó giúp cho giới trẻ có nhận thức đúng đắn hơn về Lòch sử dân
tộc Việt Nam.
Bảng 3 : Thống kê số liệu về kết quả của Bài kiểm tra một tiết trong học kỳ 2 như sau :
- 20 -
Lớp Só số
Kết quả đạt được
GIỎI TL KHÁ TL TB TL YẾU TL
12a2 43 19 44.2% 17 39.5% 7 16.3% 0
12a3 43 18 41.9% 19 44.2% 6 13.9% 0
Qua bài kiểm tra nhận thức của học sinh ta thấy kết quả học sinh đạt điểm khá,
giỏi chiếm trên 80% và không có học sinh yếu kém. Điều đó cho ta thấy từ sự hứng thú
trong học tập đã góp phần nâng cao chất lượng học tập của bộ môn Lòch sử.
Nói tóm lại, việc sử dụng sách giáo khoa để đổi mới phương pháp giảng dạy là
điều rất cần thiết trong giảng dạy và học tập của bộ môn lòch sử ở trường THPT.
C. KẾT LUẬN
1. KẾT LUẬN.
Lòch sử là một môn khoa học xã hội có một dung lượng kiến thức lớn, trong mỗi
tiết học đòi hỏi học sinh không chỉ có kó năng phát hiện nhanh mà còn cần có khả năng

- 22 -
Với ý nghóa trên, việc nghiên cứu về phương pháp sử dụng hiệu quả SGK trong
dạy học lòch sử cần phải được tiếp tục phát huy, từ đó có thể giúp giáo viên ý thức tự
bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn và đồng thời có thể xây dựng và tiến hành
tốt bài giảng của mình.
Trong hội đồng sư phạm nhà trường, tổ chuyên môn thường xuyên có buổi sinh
hoạt chuyên đề về phương pháp giảng dạy, để qua đó giáo viên có điều kiện để tích
lũy kinh nghiệm.
PHẦN ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CÁC CẤP
- 23 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status