I. Đ ẶT VẤN ĐỀ:
1. Cơ sở lí luận
Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh các kĩ năng sinh sản ngôn bản. Nó
có vị trí đặc biệt quan trọng trong dạy học tiếng mẹ đẻ bởi vì:
- Thứ nhất, đây là phân môn sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các
kiến thức và kĩ năng tiếng Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác: Học vần, Tập
Viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu đã hình thành.
- Thứ hai, phân môn TLV rèn cho học sinh kĩ năng sinh sản ngôn ngữ, nhờ
đó tiếng Việt không chỉ được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà
trở thành một công cụ tổng hợp để giao tiếp. Như vậy, phân môn TLV đã thực hện
mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy HS sử dụng
được tiếng Việt để giao tiếp, tư duy, học tập.
Trong chương trình tiểu học mới,các bài làm văn gắn với chủ điểm của đơn
vị học. Song song với các tiết làm văn luyện nói, luyện viết thì tiết Tập làm văn trả
bài có một vị trí quan trọng vì: giờ trả bài có mục đích rèn cho học sinh kĩ năng kiểm
tra, đánh giá, tự điều chỉnh bài viết. Đây là kĩ năng quan trọng trong hoạt động giao
tiếp. Kĩ năng kĩ năng đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp
và yêu cầu diễn đạt, sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt. Để có kĩ năng này ,
học sinh phải cần tập nhận xét văn bản nói hay viết của bạn, tự sửa chữa bài viết ở
lớp, rút kinh nghiệm và tự chữa( hoặc viết lại) bài văn đã được GV chấm, luyện tập,
hình thành kĩ năng và thói quen tự điều chỉnh, tự học tập dể luôn luôn tiến bộ.Đây
chính là khâu cuối cùng để hoàn thiên kĩ năng làm văn của học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn
Trong sách giáo khoa và sách giáo viên phần phân môn tập làm văn, phương
pháp nêu ra mới chỉ là chung chung, chưa cụ thể, chưa là vai trò chủ thể, chủ động
nắm vững kiến thức của học sinh.
1
Bên cạnh đó thực tế dạy học nhiều năm với những đối tượng khác nhau (lớp
bốn, lớp năm). Tôi thấy chất lượng bài Tập làm văn của các em có nâng cao đôi chút,
có một số tiến bộ đáng kể nhưng mới chỉ là ở một số ít.
Thêm vào đó người dạy còn chung chung, nặng về thuyết trình, áp đặt học
châm "Coi học sinh là nhân vật trung tâm", thầy chỉ là người tổ chức hướng dẫn. Vì
vậy đứng trước tình hình và nhiệm vụ mà xó hội giao phó, bản thân tôi là người giáo
viên tiểu học, tôi luôn học hỏi kinh nghiệm và chịu khó đào sâu suy nghĩ để tìm ra
phương pháp giảng dạy tốt nhất giúp trò tiếp thu kiến thức dễ dàng nhất.
Đứng trước tình hình đổi mới phương pháp như vậy nhưng thực trạng hiện
nay là gì?
1) Về sách giáo khoa và sách giáo viên phương pháp nêu ra mới chỉ là chung
chung chưa cụ thể.
Một vài năm gần đây có xuất hiện một số cuốn sách in những bài văn hay,
những bài văn mẫu và có đôi ba lời nhận xét ưu điểm và hạn chế. Song tiết trả bài
vẫn chưa được quan tâm đúng mức, chưa có phương pháp hay. Đó chính là một
trong những vấn đề bức xúc đối với người dạy và người học.
2) Qua thực tế dạy học: Tôi thấy chất lượng bài Tập làm văn của các em có
nâng cao đôi chút, có một số tiến bộ đáng kể nhưng mới chỉ là số ít. Qua đó tôi thấy
còn một số tồn tại.
+ Đa số học sinh sau khi đọc tham khảo các bài văn mẫu, các bài văn hay,
các em cũng thấy hay song không chỉ ra được cái hay để học tập vận dụng.
+ Một số học sinh, các em còn phải phụ thuộc vào các bài văn mẫu của thầy,
của sách, dựa vào các đoạn, các ý trong cuốn: " Để học tốt môn Văn - Tiếng Việt ", "
Tập làm văn " hoặc " Các bài văn hay " thậm chí có em còn sao chép và nắp ghép
một cách gượng gạo, gò ép.
3
+ Các em viết câu, dùng từ diễn đạt yếu, chưa biết sắp xếp ý, không biết lựa
chọn những chi tiết, những hình ảnh hay để rồi hiểu và sử dụng đúng, hợp lý, lôgic;
tức là các em chưa biết biến những kiến thức đã tiếp thu trong bài, trong giờ học vào
một bài viết cụ thể vào " sản phẩm " của mình.
3) Thêm vào đó người dạy còn chung chung, nặng nề về thuyết trình, áp đặt
học sinh và chưa thực sự quan tâm đặc biệt là giờ trả bài. Thậm chí chưa nắm chắc
yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của tiết học theo chuẩn.
Thực tế qua khảo sát các giờ trả bài Tập làm văn hầu như các giáo viên ít đầu
như thế nào? Khi dạy tiết này có thuận lợi và khó khăn gì?
Sau đó tôi đã phỏng vấn học sinh hai lớp 5C, 5D kết quả như sau.
+ Số học sinh rất thích học môn tiếng việt chiếm 3% ( tập trung vào những
em khá giỏi và có năng khiếu).
+ Số học sinh thích học môn Tiếng Việt chiếm 28%.
+ Số học sinh nắm phương pháp học môn Tiếng Việt còn hời hợt không
thuộc, hoặc thuộc rất ít thơ văn, chất lượng bài viết chưa cao chiếm 69% ( những em
này thể hiện sự học thiên lệch về môn toán và học trung bình, yếu kém ở các môn ).
Tôi xem vở tập làm văn của bốn lớp năm: 5A, 5B, 5C, 5D thì thấy chất
lượng bài viết của các em chưa đạt kết quả như mong muốn, số lượng bài đạt điểm
khá giỏi chưa nhiều, đặc biệt nhiều em diễn đạt còn lủng củng, còn sai lỗi chính tả
đặc biệt là lỗi chính tả thông thường.
Tôi dự giờ của hai lớp 5A, 5C thì thấy giáo viên chưa thực sự đầu tư thời
gian nhiều cho tiết dạy, thầy dạy còn chung chung, nặng về thuyết trình, chưa gây
được không khí sôi nổi cho tiết học.
Đồng thời tôi tiến hành khảo sát chất lượng của hai lớp: 5C và 5D.
+ Lớp 5D là lớp thực nghiệm
+ Lớp 5C là lớp đối chứng
5
Tôi cho cả hai lớp cùng làm chung một đề văn.
Đề bài: Em hãy tả ngôi trường thân yêu đã gắn bó với em trong nhiều năm
qua. Kết quả:
Lớp Sĩ số
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % S.L %
5C 20 1 5 5 25 11 55 3 15
5D 25 1 4 7 28 13 52 4 16
Chất lượng khảo sát đầu năm của lớp 2 là tương đương nhau.
Đặc biệt qua bài viết của các em tôi còn nhận thấy:
*) Về nội dung bài Tập làm văn
tiết dạy trả bài của một số giáo viên còn chưa đúng mức.
Để khắc phục những tồn tại trên, giúp các em thấy được đúng sai, vấn đề
chấm, trả bài Tập làm văn cần phải được tiến hành ngay, nghiêm túc từ ban đầu, từ
bài đầu tiên. Tức là giờ trả bài thầy phải nêu ra được cái đúng, cái sai cụ thể của các
em. Đặc biệt là phải dứt điểm từng loại lỗi.
Tóm lại việc khảo sát chất lượng đầu năm để phân loại học sinh là biện pháp
cần làm ngay để từ đó giáo viên có biện pháp cụ thể, chi tiết, sát đối tượng hơn nữa
trong giảng dạy nói chung, trong mục đích tiến hành giờ trả bài Tập làm văn nói
riêng.
B- Phương pháp giải quyết:
Để một giờ trả bài thành công tôi xin nêu ra 3 vấn đề cụ thể cần giải quyết:
+ Chấm bài
+ Thiết kế bài dạy.
+ Lên lớp
a. Chấm bài
Tuy chấm bài không nằm trong quá trình lên lớp 40 phút trả bài, nhưng nó lại
là yếu tố quan trọng làm cơ sở cho giờ trả bài. Giờ trả bài có thành công hay không ?
7
Học sinh có thấy được đúng sai trong bài làm của em đó hay không ? Đều được bắt
đầu bằng việc chấm. Đó chính là phần chuẩn bị của giáo viên.
Song song với việc chấm bài kỹ là sổ chấm bài. Sổ chấm bài có tác dụng
thống kê các loại lỗi để tìm ra lỗi phổ biến, ghi chép những sai, đúng cụ thể của từng
học sinh làm tư liệu để phục vụ cho việc nhận xét và hướng dẫn chữa lỗi Nhưng
trước hết muốn ghi chép đúng thì giáo viên phải chấm kỹ, bám sát yêu cầu mà chuẩn
kiến thức và kĩ năng đã đề ra, đưa ra một biểu điểm để đảm bảo tính khoa học ,
khách quan, vô tư. Từ đó thấy được ưu và nhược điểm của bài viết. Đồng thời sổ này
giúp giáo viên so sánh đối chiếu những bài sau so với những bài trước xem sự dứt
điểm của từng loại lỗi đã làm được chưa ? Làm đến đâu ? Sự tiến bộ của các em đạt
đến mức độ nào? Số được trình bày theo bảng sau:
Loại sai Tên học sinh Dẫn chứng Hướng sửa
- Kỹ năng
- Giáo dục
Trong bước 3 (bài mới) được tiến hành theo các bước sau:
1. Giáo viên nhận xét bài làm của học sinh:
- Ghi đề bài lên bảng phải làm đầu tiên trong tiết học, việc làm này nhắc lại,
gợi nhớ lại đề bài các em đã làm tiết trước, nó tác động đến bộ nhớ của các em về
vấn đề cần giải quyết trong tiết học.
- Giúp học sinh xác định lại yêu cầu của đề bài để tự đối chiếu với kết quả bài
viết xem đã thực hiện được đến đâu.
Sau khi chép xong đề lên bảng thì tiến hành bước xác định đề mang tính trực
quan nối tiếp. Một lần nữa giúp các em nắm chắc yêu cầu của đề bài. Từ đó các em
có thể so sánh và đã có thể hình dung ra mình đúng như thế nào ? Mình thiếu những
gì? Để từ đó mà các em dễ dàng nắm được ưu và nhược điểm của bản thân.
- Nêu rõ ưu khuyết điểm của học sinh trong việc thực hiện yêu cầu của đê bài
( dẫn chứng cụ thể qua bài viết được giáo viên chấm và theo dõi qua sổ thống kê lỗi
9
của giáo viên); kết hợp với nhận xét về chữ viết và cách trình bày bài văn, công bố
kết quả điểm số và biểu dương học sinh có bài làm tốt hoặc bài làm có tiến bộ. Giáo
viên nên công bố tên học sinh có ưu điểm, không cần thiết nêu tên học sinh có
khuyết điểm.
2. Hướng dẫn học sinh chữa bài:
Căn cứ vào kết quả bài làm của học sinh, giáo viên có thể tiến hành việc
hướng dẫn học sinh chữa bài sao cho linh hoạt và đạt hiệu quả thiết thực theo các
cách sau:
1) Trả bài làm cho học sinh, yêu cầu học sinh đọc thầm lại toàn bộ bài làm,
lời nhận xét chung và những chỗ lưu ý cụ thể của giáo viên trong bài viết.
2) Hướng dẫn học sinh chữa lỗi chung về nội dung( sai, thiếu ý hoặc chi tiết,
sự việc ) và hình thức( về bố cục, về cách dùng từ, đặt câu, lỗi chính tả )
3) Tổ chức cho học sinh tự chữa bài làm của cá nhân, sau đó đổi bài để kiểm
tra, giúp đỡ nhau về việc chữa lỗi.
- Học sinh đọc cô ghi và lại hỏi tiếp
+ Em có nhận xét gì về câu (đoạn) văn em vừa đọc
+ Em định trình bày ý gì? Nội dung gì? Nội dung ấy đã toát lên chưa?
+ Theo em phải sửa lại như thế nào?
- Nếu học sinh đó vẫn chưa làm được thì giáo viên tiếp tục hỏi học sinh
khác, kết hợp với sự gợi ý của giáo viên. Làm như vậy kết hợp hỏi, gợi tìm với giáo
cụ trực quan (ghi bảng) nó tác động vào tư duy của các em, bắt buộc tư duy phải hoạt
động. Làm việc như vậy các em sẽ nhớ rất lâu. Các em thấy cách viết ấy là sai, và
phải biết sửa lại như thế nào?
Qua việc dự hội giảng của một số giáo viên tôi thấy chỉ dừng lại ở chỗ sửa.
Học sinh tỏ ra lúng túng và hoang mang. Vì thế các em chỉ biết là cô bảo sai, nhưng
11
sai như thế nào? Chữa lại ra sao? Tại sao như thế? Thì các em rơi vào bế tắc. Đây
cũng chính là điều tôi tiến hành làm, gợi mở để các em tự sửa lỗi cho mình rồi nhận
xét, tổng kết lại.
Ví dụ: Với từng loại lỗi cụ thể giáo viên gợi mở để giúp các em tìm ra cách
sửa.
* Chữa lỗi về lµm bµi kh«ng đúng yêu cầu ( lạc đề):
Ví dụ: Tả hoạt động của người em yêu mến. Học sinh lại đi sâu tả hoạt ngoại
hình mà không chú ý tới tả hoạt động. Loại lỗi này học sinh ít mắc. Nhưng với học
sinh mắc lỗi, tôi thường giúp xác định lại yêu cầu của đề rồi viết lại bài văn đó theo
yêu cầu đã nhận ra
* Chữa lỗi về bố cục:
Trước tiên giáo viên hỏi về bố cục thông thường của một bài văn, sau đó cho
học sinh đối chiếu với bài của mình xem đã đủ về bố cục chưa? Nếu chưa đủ thì còn
thiếu phần nào? Em cần sửa ra sao? Giáo viên hướng dẫn học sinh chữa lỗi về mở
bài, kết bài (Theo cách đã học), về thân bài( sắp xếp ý theo trình tự đã học một cách
hợp lis0. sau đó tổ chức cho học sinh tiến hành sửa lỗi cá nhân và trao đổi bài cho
nhau để cùng kiểm tra trao đổi kinh nghiệm.
Ngoài ra,ở phần này học sinh thường không biết tách giữa mở bài với thân
Các lỗi về câu thường gặp ở tiểu học là câu thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ, câu
què, câu chỉ có thành phần phụ chỉ địa điểm hoặc thời gian, nguyên nhân, kết quả
Thiếu thành phần chính ( tức là cả cụm chủ vị ), nêu ý chưa chọn vẹn (câu cụt), câu
có nhiều từ ngữ thừa, rườm rà, lủng củng. Cách chữa: giáo viên kẻ bảng thành ba
cột.
CÂU SAI LỖI NGỮ PHÁP CÂU ĐÃ ĐƯỢC SỬA
THÀNH CÂU ĐÚNG
Ví dụ 1: Học sinh đọc câu lủng củng của mình lên.
13
Trong nhà em có một người mà em rất yêu mến, đó là bà em rất kính yêu.
Em có nhận xét gì về cách diễn đạt nội dung? ( diễn đạt nội dung rườm rà).
Em có thể sửa như thế nào?
( Trong nhà em, bà là người thật đáng kính).
Ví dụ 2:
Đứng trước cảnh đẹp hùng vĩ của dãy núi Yên Phụ. Em cảm thấy trong lòng
đang cố gắng đưa quê hương Kinh Môn giàu đẹp hơn.
- Đoạn văn của em đã được chưa? Sai ở đâu?
( Chấm câu sai, sau từ "Yên Phụ" thay bằng dấu phẩy).
- Còn sai ở đâu nữa? (dùng từ chưa sát nghĩa " em cảm thấy ").
Cụm từ " em cảm thấy " Cần phải thay bằng cụm từ nào cho sát nghĩa hơn?
( Cần phải thay bằng cụm từ: " em càng thêm yêu quê hương đất nước và
quyết tâm học tốt để đưa quê hương Kinh Môn ngày một giàu đẹp hơn")
Em hãy nhận xét câu đã được sửa và câu chưa sửa?
2. Giáo viên có thể thay đổi hình thức sửa bằng cách cho hai em đổi vở cho
nhau để tìm ra lỗi sai kết hợp cùng giáo viên để tìm ra cách sửa sai.
- Với hình thức này, tôi cho học sinh tạo thành nhóm đôi theo năng lực ( giỏi, khá,
trung bình) hoặc đôi bạn cùng tiến. Các em đổi vở, đọc bài của bạn, phát hiện lỗi,
nêu lỗi và hướng sửa, trao đổi xem bạn có đồng ý với cách sửa như vậy không ,
ngoài ra còn có thể phát hiện thêm một số lỗi giáo viên bỏ sót. Sau đó cùng trao đổi,
kiểm tra, chia sẻ kinh nghiệm làm bài và chữa lỗi với bạn.
Ví dụ 1: Khi tả mái tóc, khuôn mặt:
- Mái tóc dài mượt mà buông thả thướt tha như dòng suối.
- Mái tóc đen nhánh mượt mà như dòng suối ôm lấy khuôn mặt trái xoan
hồng hào của cô, thật dễ mến.
15
Hoặc khi tả hàm răng, nước da, giọng nói tính hình thì giáo viên hướng dẫn
các em:
- Hàm răng trắng đều như hạt bắp.
- Nước da trắng như trứng gà bóc- Cô hiền như cô Tấm trong truyện cổ tích
- Giọng cô nói êm dịu như lời mẹ ru.
Ví dụ 2: Khi tả về vẻ đẹp của dòng sông quê hương:
- Nhìn từ xa, dòng sông như một dải lụa hiền hoà ôm ấp làng xóm quê em.
- Dòng sông Kinh Thầy chảy hiền hoà, chở nặng phù sa…
Nói tóm lại : Muốn nâng cao chất lượng học Tiếng Việt mà chất lượng văn
lại là chính chất lượng bài Tập làm văn của học sinh thì ta cần phải coi trọng đặc biệt
là giờ trả bài. Vấn đề chữa lỗi giáo viên phải coi trọng nguyên tắc " thầy chủ đạo, trò
chủ động " phải kết hợp một cách linh hoạt các phương pháp của quá trình dạy học.
C- Khảo sát bằng số liệu thống kê:
Với kinh nghiệm đã trình bầy ở trên tôi tiến hành khảo sát chất lượng trên hai
lớp: Lớp thực nghiệm 5D; Lớp đối chứng 5C.
Quá trình thực nghiệm theo các bước sau:
* Bước một: Tôi ra đề bài tập làm văn ở tuần 20 trong chương trình lớp 5 (các
em đang học thể loại văn này).
Đề bài: Hãy tả hoạt động của nghệ sĩ hài mà em yêu thích.
* Bước 2: Chấm hai tập vở của 2 lớp 5C và 5D. Kết quả được đánh giá như
sau:
Lớp sĩ số
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
5C 20 2 10 6 30 10 50 2 10
+ Lớp 5C (đối chứng ) giảng theo phương pháp cũ.
Kết quả cho thấy:
- Học sinh lớp 5D các em hoạt động nhịp nhàng giữa thầy và trò, học sinh
tiếp thu bài một cách chủ động. Biết tìm ra lỗi sai của mình và chỉ ra được cách sửa.
Ngược lại học sinh lớp 5C các em thụ động ngồi nghe cô giảng. Khi yêu cầu
các em tìm ra cái sai trong bài của mình thì các em tỏ ra lúng túng và hoang mang.
Khi cô chỉ ra được cái sai, yêu cầu các em sửa thì các em lại rơi vào bế tắc. Do các
em chưa hiểu mình sai như thế nào? Chữa lại ra sao? Tại sao lại như thế?
III. KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
A- Kết quả:
Qua việc thực hiện tiến trình cải tiến bài giảng, thiết kế bài dạy, chấm bài và
lên lớp, với sự vận dụng linh hoạt và phương pháp phát huy trí tuệ và trí lực của học
sinh đã nêu, đối chiếu với kết quả khảo sát đầu năm thì chất lượng được tăng lên rõ
rệt.
- Số bài đạt điểm khá giỏi tăng 36 %
- Không còn bài đạt điểm dưới 5.
Đồng thời đối chiếu kết quả bài làm giữa hai lớp đối chứng và thực nghiệm
thì chất lượng của lớp thực nghiệm được nâng lên rõ rệt (nhìn vào bảng thống kê kết
quả, khảo sát ta sẽ thấy rõ).
17
Tôi tiếp tục đối chiếu với các bài viết hàng tháng và qua các bài khảo sát chất lượng
định kì các lần kiểm tra môn Tiếng Việt thì bài làm của lớp 5D tôi chủ nhiệm đã có
nhiều tiến bộ.
Cụ thể: - Đầu năm - 88%
- Cuối kỳ I - 96%
- Gữa kỳ II - 100%
Về chất lượng bài viết trong năm so với lúc đầu năm khảo sát tôi thấy kết quả
đã được nâng lên. Chứng tỏ việc áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy của tôi đã
đạt chất lượng tốt. Việc vận dụng phương pháp nêu vấn đề kết hợp với phương pháp
gợi mở và cách tổ chức giờ học khoa học linh hoạt, phù hợp với đặc điểm, khả năng
dạy học của giáo viên.
B- Những khó khăn trong việc giải quyết nội dung:
1 - Học sinh
- Vốn kiến thức của các em về môn Tiếng việt còn hạn chế nên các em chưa
có thể tự sửa đựoc cái sai của mình.
- Ngôn ngữ của các em còn chưa nhiều, chưa sâu, chưa rộng nên các em ngại
phát biểu và nhận xét bài của bạn. Đồng thời chưa biết chỉ ra những ưu điểm, tồn tại
ở bài làm của bạn một cách khoa học.
- Các em chưa được quan sát, gặp và chứng kiến trực tiếp đối tượng được nêu
trong đề bài.
2 - Giáo viên.
- Do bản thân và đồng nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm, chính vì vậy chưa
hướng dẫn các em làm được những bài văn hay.
- Với mỗi tiết trả bài giáo viên cần phải đầu tư thời gian nhiều cho việc chấm
bài, thiết kế bài dạy.
- Về nhận thức: Đa số giáo viên chưa coi trọng giờ trả bài. Chưa có nhận thức
đúng đắn về tiết học này.
19
3 - Nhà trường
- Chưa có đủ sách, đặc biệt là sách tham khảo cho giáo viên và học sinh để có
thêm tư liệu phục vụ cho việc dạy và học.
4 - Gia đình
- Một số ít gia đình chưa quan tâm chăm sóc con cái, chưa đầu tư thời gian
cho com em học ở nhà, chưa mua sắm đầy đủ sách vở đặc biệt là sách tham khảo cho
con em mình.
C- Điều kiện thực hiện:
1 - Học sinh.
- Có đầy đủ sách giáo khoa, sách tham khảo.
- Có vở để ghi chép lại những lỗi sai của mình thường hay mắc phải , từ đó
tìm ra cách sửa.
Sau khi dạy tiết Tập làm văn trả bài tôi tự rút ra bài học sau:
1 - Đối với giáo viên:
- Phải phân loại được các đối tượng học sinh, nắm được lỗi điển hình của
từng em, lỗi điển hình của lớp. Từ đó có hướng cụ thể, đề ra biện pháp cụ thể.
- Phải làm tốt khâu chấm bài, chỉ ra những lỗi sai của từng câu, từng bài thể
hiện trong bài làm của học sinh.
- Phải khen thưởng, động viên kịp thời những em có bài văn hay, để cho lớp
học tập bạn. Từ đó nhân điển hình của lớp lên.
- Thiết kế bài dạy phải có đổi mới. Trong bước bài mới phải thực hiện đúng
tiến trình như đã nêu, nhằm đảm bảo tính khoa học.
- Đặc biệt phải trú trọng đến tình hình chữa lỗi cho các em, phải biết kết hợp
các phương pháp dạy học với hệ thống câu hỏi mang tính gợi mở để thực hiện tốt
phần này.
- Sau mỗi bài viết, nghĩa là sau mỗi tiết trả bài phải chỉ rõ lỗi mắc của học
sinh, có hình thức thưởng phê bình thích đáng, công minh.
21
2 - Đối với học sinh: Cần tích cực học tập, tích cực đào sâu suy nghĩ để chủ
động tiếp thu tri thức
3 - Đối với các cấp lãnh đạo: cần kiểm tra kĩ giáo án phần Tập làm văn cụ
thể ở tiết trả bài vì đây là vai trò cuối cùng của phần giảng dạy môn Tập làm văn.
Trong nhà trường vào những buổi chuyên đề cần đưa phân môn Tập làm văn
vào nhất là tiết trả bài, cần phải thống nhất cho tất cả mọi giáo viên phải cụ thể khi
lên lớp giờ này. Bên cạnh đó nhà trường, gia đình, xã hội cần phải quan tâm tới tài
liệu cho phân môn này. Nhất là nhà trường cần phải trang bị thêm các tài liệu tham
khảo cho thư viện, tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh có thời gian tham khảo.
Hàng năm cần tổng kết đợt viết sáng kiến kinh nghiệm và phổ biến rộng rãi
các kinh nghiệm sáng kiến hay tới từng giáo viên.
E- Đề xuất hướng giải quyết:
Đề tài của tôi mới là đổi mới một số vấn đề về dạy tiết trả bài cho học sinh
lớp 5 - nếu có điều kiện những năm tiếp theo tôi sẽ trở lại vấn đề này và nghiên cứu
MỤC LỤC
Trang
I.
II
Đặt vấn đề
1. Cơ sở lí luận
2. Cơ sở thực tiễn
3. Những vấn đề mới và khó
Giải quyết vấn đề
1
1
1
2
4
24
III
A- Điều tra thực trạng
B- Phương pháp giải quyết
C- Khảo sát bằng số liệu thống kê
Kết quả và bài học kinh nghiệm
A- Kết quả
B- Những khó khăn trong việc giải quyết nội dung
C- Điều kiện để thực hiện
D- Bài học kinh nghiệm
E- Đề xuất hướng tiếp tục giải quyết
G- Kết luận
4
6
12
13