Tiểu luận phương pháp nghiên cứu khoa học User’s perceptions and uses of financial reports of small and medium companies (SMCs) in transitional economies - Pdf 26

Phương pháp nghiên cứu khoa học
MỤC LỤC
Lời mở đầu
XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 3
ĐO LƯỜNG 6
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 9
NHẬN XÉT 11
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, hầu hết các công ty lớn đặc biệt là các công ty đã niêm yết trên sàn
chứng khoán đều có các báo cáo tài chính minh bạch và rõ ràng. Ở Việt Nam, doanh
nghiệp vừa và nhỏ chiếm một số lượng lớn, tỉ trọng đóng góp nguồn thu ngân sách
nhà nước không nhỏ nhưng lại còn nhiều hạn chế về mặt này. Điều này đã gây ra
không ít khó khăn cho các đối tác cũng như những người cần sử dụng báo cáo tài
chính như những nhà đầu tư, ngân hàng hay các tổ chức Chính phủ. Chính vì thế, bài
Nhóm 9 1
Phương pháp nghiên cứu khoa học
nghiên cứu “User’s perceptions and uses of financial reports of small and medium
companies (SMCs) in transitional economies” là thật sự cần thiết.
Đọc một nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận những thông tin do
nghiên cứu cung cấp, mà còn phải nhận định phương pháp cũng như cách tiến hành
nghiên cứu đó. Thông thường để hiểu sâu hơn về bài viết cũng như có những phân
tích và nhận định đúng đắn về những kết quả nghiên cứu của đề tài, ta sẽ xem xét đề
tài thông qua những nội dung dưới đây:
- Vấn đề nghiên cứu: lý do, mục tiêu nghiên cứu.
- Cơ sở lý thuyết
- Thiết kế nghiên cứu
- Đo lường
- Kết quả & thảo luận
- Kết luận

tài chính giúp họ dễ dàng hơn trong việc chọn lựa phương pháp kế toán
phù hợp.
- Lý thuyết “quan hệ quản lý” (agency theory): giải thích mối quan hệ giữa
cổ đông và người quản lý Tuy nhiên tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì
mối quan hệ này chưa được quan tâm thoả đáng vì tại các doanh nghiệp
vừa và nhỏ việc phân chia quyền sở hữu và quản lý là không phổ biến.
Chính vì vậy tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ một vấn đề đặt ra là "ai nên
lập các báo cáo, báo cáo những gì, cho ai và tại sao"
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
- Dữ liệu cần thu thập: dữ liệu sơ cấp (bảng câu hỏi – tự thu thập) và thứ
cấp (những bài nghiên cứu trước ở nước ngoài, báo chí): Lý thuyết "quyết
định hữu ích" (Staubus, 1961, 1977) lần đầu tiên được thông qua bởi các
ấn phẩm của các Trueblood Report tại Hoa Kỳ (AICPA, 1973) (với quan
điểm rằng mục tiêu báo cáo tài chính là cung cấp thông tin làm cơ sở cho
Nhóm 9 3
Phương pháp nghiên cứu khoa học
các quyết định kinh tế), nhu cầu và sử dụng thông tin tài chính của các
công ty nhỏ hơn của người sử dụng (Stanga và Tiller, 1983; 1984; Berry
et al, 1987; Keasey và Watson, 1988; Marriott và Marriott, 2000; Collis
và Jarvis, 2002), một số nghiên cứu (Trang, 1984; Barker và Noonan,
1996; Collis và Jarvis, 2000), …
- Phương pháp nghiên cứu: bài nghiên cứu này dựa trên phương pháp
nghiên cứu định tính. Đặc điểm của bài nghiên cứu này đó là một nghiên
cứu sâu nhằm đưa ra luận chứng về nhận thức và cách sử dụng của người
sử dụng thông tin, qua đó để xác định mối quan hệ giữa các vấn đề nổi
cộm dựa trên các dữ liệu. Thiết kế khung nghiên cứu định tính được sử
dụng trong các hình thức tìm hiểu, khám phá vấn đề tự nhiên và là một
phần của quá trình định nghĩa khái niệm, cụ thể như khung khái niệm
(Llewelyn, 2003) hoặc lý thuyết nền tảng (Glaser và Strauss, 1967;
Strauss và Corbin, 1998).

11 văn
phòng
chính phủ
Phương pháp nghiên cứu khoa học
này sau đó đã được liên lạc qua điện thoại để sắp xếp các cuộc phỏng vấn.
Tuy nhiên, trong quá trình liên lạc, tác giả gặp một số khó khăn và không
thể thực hiện phỏng vấn như sau:
o Các công ty được chọn phỏng vấn đã rời khỏi thị trường;
o Người được phỏng vấn đã quá bận rộn;
o Người được phỏng vấn không quan tâm đến nghiên cứu;
o Một số người trả lời phỏng vấn tiềm năng bước đầu được đề nghị
các cuộc hẹn, nhưng sau đó họ thay đổi ý định.
Cuối cùng, 11 cuộc phỏng vấn với chủ sở hữu / giám đốc và kế toán
trưởng của công ty cũng đã được tiến hành.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Phương pháp GT kèm theo xử lý dữ
liệu là phần mềm Nvivo 2.0 để hỗ trợ phân tích định tính. Trong quá trình
phỏng vấn, tác giả sử dụng các công cụ ghi âm dưới sự đồng ý của người
tham gia phỏng vấn. Điều này giúp tác giả có thể xử lý dữ liệu dễ dàng,
sâu sắc và chính xác
- Thiết kế chọn mẫu
Nhóm 9 5
Phương pháp nghiên cứu khoa học
Trong phần này tác giả đã cho chúng ta thấy được nguồn và loại dữ liệu cần
thiết kế cho nghiên cứu, thấy được cách thức thu thập dữ liệu và phương pháp phân
tích dữ liệu. Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến chi phí, nguồn lực để thực hiện nghiên
cứu.
Trong phần thiết kế chọn mẫu, tác giả chưa giải thích được vì sao lại chọn cỡ
mẫu như thế và cũng không chứng minh được tính đại diện của mẫu. Mặt khác, việc
chọn mẫu ngẫu nhiên theo nguyên tắc cứ 5 công ty theo thứ tự trong danh sách thì
chọn một công ty ở vị trí thứ 5 cũng sẽ làm cho người đọc có nhiều câu hỏi liên quan

o Ý kiến của người sử dụng đối với chất lượng thông tin;
o Cân nhắc giữ chi phí và lợi ích đối với việc sử dụng và tạo thông tin.
c. Từ 5 vấn đề chính này tác giả xây dựng bảng câu hỏi đóng và dữ liệu
được thu thập trình bày trong bảng câu hỏi dưới đây:
Có Không
Không
biết
1.Định nghĩa về SMC
- Không biết về SMC 19 0 0
- Đưa ý kiến cá nhân về SMC 14 3 2
2.Những người sử dụng và nhu cầu thông tin của
họ
- Cơ quan chính phủ là người sử dụng chính 19 0 0
- Người sử dụng khác (nhà đầu tư, ngân hàng, tổ
chức tín dụng, người chủ sở hữu khác)
6 13 0
- Bảng cân đối kế toán và doanh thu hàng năm là
quan trọng
14 4 1
- Thông tin về dòng tiền là quan trọng 16 2 1
- Các thông tin khác 14 3 2
- Sử dụng các phương pháp thông tin liên lạc
thay thế
8 11 0
3.Truy cập và sử dụng thông tin
- Truy cập hợp pháp là phương pháp chính để lấy
thông tin
19 0 0
- Một dạng báo cáo thay thế khác được sử dụng
phổ biến

chất lượng thông tin
14 5 9
- Lệ phí kiểm toán là vấn đề cân nhắc chính để sử
dụng các dịch vụ này
2 17 0
- Những kế toán viên có thể cung cấp dịch vụ
kiểm toán
1 14 0
d. Nhận xét:
- Trong bài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp thang đo tần số
“frequency scale” thông qua việc tổng hợp số lượng trả lời cùng ý nhằm
mục đích đưa ra các vấn đề chính cần làm rõ. Thực chất thang đo định tính
mà tác giả sử dụng ở đây chính là thang đo định danh.
- Độ giá trị của thang đo này được xem là đáng tin cậy, mặc dù tác giả sử
dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên nhưng có chủ ý khi sắp xếp thành
2 nhóm đối tượng rõ ràng giữa người sử dụng và người tạo báo cáo tài
chính, đồng thời bảng câu hỏi đóng còn được xem xét và đánh giá bởi các
chuyên gia trong lĩnh vực kế toán tài chính.
6. Mô hình đề tài
Mô hình đề tài đã được tác giả đúc kết lại qua các số liệu thu được, thể hiện
mối liên hệ chặt chẽ giữa người tạo ra báo cáo, chất lượng báo cáo, người sử dụng báo
cáo, đồng thời thể hiện luôn được tiện ích và vai trò của các bảng báo cáo này.
Nhóm 9 8
Phương pháp nghiên cứu khoa học
Mô hình cụ thể
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
7. Kết quả
Kết quả nghiên cứu đã trả lời được 3 câu hỏi nghiên cứu đặt ra ở trên. Tác
giả đưa ra các dẫn chứng sau để trả lời cho từng câu hỏi.
Câu hỏi 1: Yêu cầu về thông tin của người sử dụng được đáp ứng như thế nào ở

Cùng với những nghiên cứu trước đây ở Việt Nam, nghiên cứu nhận thấy rằng
cục thuế và cơ quan nhà nước là đối tượng sử dụng BCTC thường xuyên. Ngân hàng
cũng là nhóm sử dụng thông tin tài chính. Tuy nhiên, giới hạn về phạm vi hoạt động
kinh doanh và quan điểm tiêu cực về tính phức tạp trong thủ tục vay mượn từ các
ngân hàng là lý do làm cho các doanh nghiệp không muốn cung cấp thông tin tài
chính cho các ngân hàng. Những người sử dụng BCTC đều cho rằng cần phải bổ sung
thêm chỉ số đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong BCTC. Thông tin
về dòng tiền và dự báo dòng tiền cũng không kém phần quan trọng đối với nhân viên
tín dụng ngân hàng nhưng những thông tin này không có giá trị sử dụng và mang tính
chất quảng cáo nhiều hơn.
Trái ngược với kết quả nghiên cứu của Drury và Tayles 1995, nhưng lại
tương tự với kết quả nghiên cứu Carsber et al 1985 và Keasey – Short 1990, những
người được phỏng vấn trong bài nghiên cứu cho rằng thiếu sự cân đối giữa chi phí và
lợi ích của các báo cáo tài chính. Tất cả giám đốc/chủ đầu tư và kế toán cho rằng họ
Nhóm 9 10
Phương pháp nghiên cứu khoa học
duy trì hệ thống kế toán bởi vì đó là quy định bắt buộc của pháp luật. Họ cũng không
thấy mối quan hệ giữa chi phí và lợi ích báo cáo tài chính.
Trái ngược với nghiên cứu của Abu-Nassar và Rutherford 1996, nghiên cứu
cho thấy rằng giám đốc SMC xem ý kiến chuyên viên kế toán là rào cản lớn nhất
trong việc dùng thông tin tài chính và quan điểm của họ về chức năng BCTC cũng
được bình luận như là yếu tố then chốt trong việc cải thiện chất lượng thông tin và chu
kì cung cấp BCTC cho người sủ dụng. Giám đốc SMC hầu như không thấy lợi ích từ
các BCTC hiện tại vì họ không hiểu thông tin cũng như chất lượng thông tin được
cung cấp trong BCTC . Do đó, giám đốc SMC đánh giá thấp chi phí –lợi ích của
BCTC. Trong số những người dùng BCTC, họ thường nghi ngờ độ tin cậy của những
thông tin do SMC cung cấp. Một vài mẫu cung cấp thông tin khác nhau giữa người
dùng và công ty báo cáo được triển khai nhằm cứu vãn tình hình, nhưng nó không thể
thay thế được vì không được công nhận chính thức và không thường xuyên được sử
dụng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng định nghĩa SMC không được mọi người đón nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status