Dạy nghề cho lao động nông thôn ở tỉnh Ninh Bình
Giang Tuấn Anh
Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS. Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Dũng
Năm bảo vệ: 2014
Abstract. Luận văn đã nêu lên được những nội dung về dạy nghề cho lao động nông thôn
như: lao động nông thôn, tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn, tiêu chí đánh giá chất
lượng dạy nghề cho lao động nông thôn; vai trò của quản lý nhà nước đối với dạy nghề cho
lao động nông thôn và kinh nghiệm của một số địa phương trong dạy nghề cho lao động
nông thôn (Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa) từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về dạy nghề
cho lao động nông thôn ở Ninh Bình.
Với phương pháp nghiên cứu một cách khái quát kết hợp phân tích và minh họa bằng số liệu
cụ thể thực trạng về lao động nông thôn và dạy nghề cho lao động nông thôn ở Ninh Bình
trong thời gian qua (chủ yếu từ năm 2008 đến năm 2012) đã nêu được những thành tựu đạt
được trong công tác dạy nghề của tỉnh. Đồng thời, luận văn cũng đã phân tích rõ những tồn
tại, hạn chế của công tác dạy nghề và những nguyên nhân của những tồn tại, bất cập, yếu
kém về số lượng, chất lượng, cơ cấu đào tạo, sử dụng và quản lý đào tạo nghề
Xuất phát từ chủ trương đổi mới, luận văn đã đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng,
nhiệm vụ và xác định mục tiêu phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn
tỉnh.
Theo đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển công tác dạy nghề cho lao động
nông thôn, trong đó có những nhóm giải pháp như: nâng cao nhận thức của chính quyền và
người dân về dạy nghề; hoàn thiện mạng lưới dạy nghề ở Ninh Bình; nâng cấp hệ thống cơ
sở vật chất phục vụ cho dạy nghề; nâng cao chất lượng các chương trình dạy nghề; nâng cao
công tác quản lý dạy nghề; phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề và gắn đào
tạo nghề với nhu cầu của doanh nghiệp cũng như thị trường lao động.
Ngoài những nội dung chính nêu trên, luận văn cũng đề xuất một số kiến nghị đối với Đảng,
nông thôn đã được nhiều cấp ủy Đảng, chính quyền của các tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo
tổ chức triển khai thực hiện.
Ngày 27/11/2009, Chính phủ phê duyệt đề án “Dạy nghề cho lao động nông thôn đến
năm 2020” (Gọi tắt là đề án 1956). Đề án đã nêu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta: Dạy
nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của các cấp, các ngành và
xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Ninh Bình là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, với nhiều lợi thế về tự nhiên, kinh tế -
xã hội, lịch sử, văn hóa và cách mạng. Là tỉnh đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và xây dựng nông thôn mới, các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Ninh Bình rất chú trọng
công tác dạy nghề cho người lao động. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến chất lượng dạy nghề
cho lao động nông thôn nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy
nhiên, tỷ lệ lao động qua dạy nghề còn thấp, mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển không đồng
đều, quy mô nhỏ, chất lượng dạy nghề chưa cao, chưa bổ sung kịp thời các nghề mới theo
nhu cầu của thị trường lao động. Vì vậy, dạy nghề nói chung, dạy nghề cho lao động nông
thôn của tỉnh Ninh Bình nói riêng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mang tính cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Dạy nghề cho lao động nông
thôn ở tỉnh Ninh Bình” làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Kinh tế Chính trị. Nội dung của
luận văn liên quan chặt chẽ với vai trò của Nhà nước trong việc quản lý, tổ chức nâng cao chất
lượng dạy nghề và nâng cao hiệu quả công tác dạy nghề.
2. Tình hình nghiên cứu
Dạy nghề cho lao động nông thôn là vấn đề đang được Đảng, Nhà nước và các cấp, các
ngành, các địa phương quan tâm. Vấn đề này cũng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tiếp
cận dưới nhiều góc độ khác nhau:
Tổng cục Dạy nghề (2000), Một số luận cứ khoa học để xây dựng chiến lược dạy nghề
giai đoạn 2001 -2010, Đề tài cấp Bộ, mã số CB-19-2000. Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận về
dạy nghề, đi sâu khảo sát kết quả dạy nghề ở nước ta, đề ra chiến lược dạy nghề 2001 -2010;
Mạc Văn Tiến (2000), Thông tin thị trường lao động qua dạy nghề, Nhà xuất bản lao
động – Xã hội, Hà Nội. Nội dung cuốn sách cung cấp kiến thức cơ bản về thị trường lao
động, thông tin thị trường lao động trong lĩnh vực giáo dục kỹ thuật và dạy nghề.
công tác giáo dục, dạy nghề;
“Việc làm và thu nhập cho lao động bị thu hồi đất trong quá trình CNH-HĐH và đô
thị hoá”, Đề tài độc lập cấp nhà nước mã số KX.01 do Trường Đại học Kinh tế quốc dân
thực hiện năm 2005. Đề tài đã lý giải tính tất yếu của việc thu hồi đất (THĐ) trong quá trình
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa (CNH-HĐH) và Đô thị hóa (ĐTH), cho rằng đây vừa là cơ
hội, vừa là thách thức đối với nước ta trong quá trình phát triển. Cơ hội đó là: tạo điều kiện
để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng hiện đại. Thách thức là: người
dân mất đất không có việc làm và thu nhập, đời sống của họ tiềm ẩn sự bất ổn bên trong. Đề
tài này cũng đưa ra các dự báo nhu cầu THĐ và đưa ra khung chính sách đồng bộ bao gồm:
Chính sách đền bù, bồi thường thiệt hại; Chính sách tạo việc làm; Chính sách tái định cư;
Chính sách về trách nhiệm và nghĩa vụ của các đơn vị được nhận đất thu hồi sử dụng vào các
mục đích phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị và các chính sách xã hội liên quan để
đảm bảo việc làm và thu nhập cho đối tượng bị thu hồi đất.
“Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các
Khu công nghiệp (KCN), Khu đô thị (KĐT), xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu
công cộng và lợi ích quốc gia”, Đề tài độc lập cấp nhà nước, tháng 12/2005. Sau khi phân tích
đánh, giá thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi ở 7 tỉnh/TP: Hà
Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Cần Thơ, Bình Dương. Đề tài đề xuất
các quan điểm, phương hướng, giải pháp và các điều kiện giải quyết thu nhập, đời sống, việc
làm của người có đất bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị , xây dựng
kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia những năm tới.
Sách: “Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các
KCN, KĐT, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ cho lợi ích
quốc gia” do GS.TSKH Lê Du Phong chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội năm
2007. Trong công trình này, các tác giả nêu lên một số vấn đề lý luận, thực trạng về thu
nhập, đời sống, việc làm của người dân có đất bị thu hồi để xây dựng các KCN, KĐT, kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ cho lợi ích quốc gia trong
thời gian qua ở nước ta, đồng thời cho thấy những khó khăn tồn tại. Qua đó, các tác giả đã
đưa ra những quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm giải quyết việc làm (GQVL), đảm bảo
thu nhập và đời sống của người dân bị THĐ thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, các
số giải pháp về: công tác đào tạo nghề, chính sách hỗ trợ việc làm, thị trường lao động, tạo
việc làm mới cho người lao động.
“Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị mất đất ở bốn huyện phía tây Hà
Nội”, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Kim Cam, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thực
hiện năm 2009. Luận văn lý giải tầm quan trọng của việc làm đối với mỗi cá nhân và xã hội
từ đó làm rõ ý nghĩa GQVL đối với sự phát triển xã hội. Tác giả phân tích những biến động
kinh tế, thực trạng THĐ nông nghiệp, việc làm và GQVL cho nông dân bị THĐ ở bốn quận,
huyện phía tây Hà Nội, làm rõ thành tựu, hạn chế và nguyên nhân tồn tại. Qua đó, tác giả
đưa ra các giải pháp GQVL cho người nông dân bị THĐ ở bốn huyện phía tây Hà Nội đến
năm 2020.
Luận văn thạc sỹ “Các giải pháp đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên tại Thành
phố Đà Nẵng” (2011) của tác giả Phan Thị Thúy Linh, đã phân tích rõ một số cơ sở lý luận
và thực tiễn về đào tạo nghề và tạo việc làm, đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo nghề và tạo việc làm hiệu quả cho thanh niên thành phố Đà
Nẵng đến năm 2020.
Các công trình, đề tài trên đã đề cập đến một số lĩnh vực về dạy nghề như: Đổi mới,
sắp xếp hệ thống các cơ sở dạy nghề; nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp,
giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề; quản lý về dạy nghề. Tuy nhiên, cho đến nay chưa
có công trình nào làm rõ thực trạng công tác dạy nghề, đề xuất các giải pháp khắc phục
những khó khăn, bất cập của công tác dạy nghề cho lao động nông thôn của tỉnh Ninh Bình.
Vì vậy, đề tài: “Dạy nghề cho lao động nông thôn ở tỉnh Ninh Bình” là một đề tài mới,
chuyên biệt, chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, độc lập. Trong quá trình thực hiện đề
tài, với việc kế thừa có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu đã đạt được của các công trình
nghiên cứu về dạy nghề, tôi chú trọng tham khảo, kết hợp khảo sát những vấn đề mới nảy sinh
trong thực tiễn, đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn từ năm 2008 đến năm 2012.
Qua đó, đánh giá khẳng định kết quả công tác dạy nghề cho lao động nông thôn của tỉnh
Ninh Bình, đồng thời làm rõ những khó khăn, hạn chế, bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm
chủ yếu trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp khắc phục
khó khăn trong công tác dạy nghề cho lao động nông thôn của tỉnh Ninh Bình.
Câu hỏi nghiên cứu của luận văn là:
do các chủ thể khác thực hiện (người dân truyền nghề cho con em họ, người lao động dạy
nghề cho nhau…).
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các phương pháp của kinh tế học
hiện đại để nghiên cứu. Phương pháp luận này đòi hỏi phải xem xét vấn đề dạy nghề cho lao
động nông thôn một cách khách quan, theo các quy luật; chịu sự tác động của nhiều nhân tố:
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và không ngừng vận động, biến đổi.
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được cụ thể bằng một số
phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: trừu tượng hoá khoa học; phân tích và tổng hợp; lô
gích và lịch sử; thống kê…
- Phương pháp lô gích được sử dụng để xây dựng khung khổ lý thuyết về dạy nghề cho
lao động nông thôn. Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu kinh nghiệm của một
số quốc gia và địa phương trong tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn. Sử dụng kết hợp
phương pháp lô gích và phương pháp lịch sử được thể hiện tập trung nhất ở chương 1.
- Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp được sử dụng trong toàn bộ đề tài.
Ở chương 2, để làm rõ thực trạng dạy nghề cho lao động nông thôn ở Ninh Bình trong những
năm qua, một số phương pháp nghiên cứu khác được sử dụng: thống kê, phân tích định
lượng Ở chương 3, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ
yếu. Đồng thời một số phương pháp khác được sử dụng: lô gich, so sánh, khái quát hóa.
- Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến các chuyên gia về thực trạng hoạt động dạy
nghề cho lao động nông thôn tại Ninh Bình.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: lấy ý kiến các đối tượng thụ hưởng và các đối tượng có
liên quan trong tổ chức thực hiện công tác dạy nghề cho lao động nông thôn tại Ninh Bình.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: lựa chọn 1 - 2 mô hình điển hình đã thành công
trong công tác dạy nghề cho lao động nông thôn tại Ninh Bình để rút ta bài học kinh nghiệm.
5.2 Nguồn tư liệu
Thu thập Số liệu/ thông tin thứ cấp
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI của Đảng
Chương 3: Quan điểm và giải pháp đẩy mạnh hoạt động dạy nghề cho lao động nông
thôn ở Ninh Bình trong thời gian tới.
References.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến (1995), Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam –
Lý luận và thực tiễn, NXB Thống kê, Hà Nội.
2. Nguyễn Hữu Chí (2003), Nâng cao chất lượng dạy nghề ở thủ đô Hà Nội hiện nay, Luận
văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
3. Nguyễn Văn Đại (2012), Dạy nghề cho lao động nông thôn vùng đồng bằng Sông
Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Luận án Tiến sỹ Kinh tế.
4. Bùi Huy Đáp, Nguyễn Điền (1998), “Nông nghiệp Việt Nam bước vào thế kỷ XXI”,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5. Phạm Ngọc Đỉnh (1999), Quản lý giáo dục nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh.
6. Nguyễn Hữu Đống, Đào Thanh Bằng, Lâm Quang Dụ, Phan Đức Trực (1997), Đột biến
– Cơ sở lý luận và ứng dụng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
7. Trần Khánh Đức (2002), Giáo dục kỹ thuật – nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân
lực, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
8. Nguyễn Thị Gấm (1996), Phát hiện và đánh giá một số dòng bất dục đực cảm ứng
nhiệt độ, Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt
Nam, Hà Nội.
9. Nguyễn Hải Hữu (2000), Thực trạng chính sách dạy nghề và tạo việc làm cho thanh
niên, định hướng và giải pháp 2001-2020, Đề tài cấp Bộ, Trung ương Đoàn thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh.
10. Lưu Đình Mạc (1990), Một số kiến nghị về kiểu cách đầu tư cho các loại hình đào
tạo, loại hình trường theo cơ cấu hệ thống giáo dục đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy
nghề mới, Đề tài cấp Bộ, mã số 52.VNN.02.06, Viện nghiên cứu giáo dục đại học và giáo
dục chuyên nghiệp.