Chuyên đ tt nghip
MC LC
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
Chuyên đ tt nghip
DANH MC TỪ VIẾT TẮT
KCN : Khu công nghiệp
KCNTT : Khu công nghiệp tập trung
KCNC : Khu công nghệ cao
KCX : Khu chế xuất
KKT : Khu kinh tế
CCN : Cụm công nghiệp
BQL các KCN&CX : Ban quản lý các khu công nghiệp và chế xuất
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
Chuyên đ tt nghip
DANH MC BNG BIU
Bảng 2.1: giới thiệu chung về các khu công nghiệp Error: Reference source not
found
Bảng 2.2: diện tích và tỷ lệ lấp đầy các KCN Error: Reference source not found
Bảng 2.3 : Vốn đầu tư của các KCN Error: Reference source not found
Bảng 2.4: Tỷ lệ vốn đầu tư của doanh nghiệp trên 1 ha đất, trên 1 công nhân. .Error:
Reference source not found
Bảng 2.5: số dự án được điều chỉnh và nâng cấp năm 2009, 2010. . .Error: Reference
source not found
Bảng 2.6: kết quả sản xuất kinh doanh của các KCN Error: Reference source not
found
Bảng 2.7: GDP & GDP công nghiệp Hà Nội 32
Bảng 2.8: giá thuê lao động trung bình của các KCN Error: Reference source not
found
Bảng 2.9: thu nhập bình quân đầu người Hà Nội. .Error: Reference source not found
Bảng 2.10: cơ cấu kinh tế Hà Nội Error: Reference source not found
Bảng 2.11: số lao động ước tính trong các KCN Hà Nội tinh tới thời điểm 2010
nghệ cao và quy mô của các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới như: Canon, Toto,
Daewoo- Hanel, Panasonic, Sumitomo Bakelite, Yamaha, …Riêng hai dự án của
Canon và Orion-hanel đã có tổng vốn đầu tư lên đến gần 500 triệu USD. Các KCN
ở Hà Nội ra đời góp phần hình thành các khu đô thị, tăng cường tiếp thu công nghệ
tiên tiến, giải quyết việc làm, đóng góp vào tăng thu ngân sách…góp phần không
nhỏ vào sự phát triển kinh tế của Hà Nội nói riêng và của cả nước nói chung.
Tuy nhiên, sự phát triển của các KCN ở nước ta nói chung và khu vực thủ đô
Hà Nội nói riêng chưa thực sự vững chắc, việc xây dựng cơ sở hạ tầng KCN chưa
đồng bộ, chưa gắn chặt với yêu cầu bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm, vai trò thúc
đẩy chuyển giao công nghệ còn yếu, liên kết kinh tế và hiệu quả kinh doanh của các
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
1
Chuyên đ tt nghip
doanh nghiệp trong KCN chưa cao, khả năng tạo việc làm, thu hút lao động vẫn còn
nhiều hạn chế. Hơn nữa, hướng tới 2020 nước ta phấn đấu cơ bản trở thành một
nước công nghiệp, vì thế vấn đề phát triển bền vững các KCN hiện tại tạo tiền đề cơ
sở vững chắc cho sự phát triển trong tương lai là một vấn đề đáng để quan tâm trên
cả nước cũng như khu vực thủ đô Hà Nội nói riêng. Vì vậy, tôi xin được nghiên cứu
đề tài: “giải pháp phát triển bền vững các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội
giai đoạn 2011 - 2020”.
2. Phạm vi, đi tượng và phương php nghiên cứu
• Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề: Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên
em chỉ xin nghiên cứu 5 KCN lớn tức các KCNTT bao gồm: KCN Nội Bài, KCN
Thăng Long, KCN Sài Đồng B, KCN Hà Nội – Đài Tư, KCN Nam Thăng Long.
• Đối tượng nghiên cứu là: hoạt động của các KCN
• Phương pháp nghiên cứu: phương pháp được sử dụng để nghiên cứu chuyên
đề là phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích số liệu và phương pháp
số sánh.
3. Kt cấu của chuyên đ
Chuyên đề gồm có 3 phần:
đất tương đối rộng, chia nhiều lô và được xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó các xí
nghiệp dễ dàng lựa chọn địa điểm phát triển, thống nhất sử dụng hạ tầng và hưởng
những lợi thế vị trí liền kề nhau.
Theo định nghĩa của Michael E.Porter, giáo sư kinh tế Đại học Havard,
KCN là tập hợp các công ty cùng với các tổ chức tương tác qua lại trong một lĩnh
vực cụ thể. Xung quanh nhà sản xuất hình thành các nhà cung cấp chuyên môn hoá
các phụ kiện và dịch vụ cũng như cơ sở hạ tầng. KCN bao trùm lên cả các kênh
phân phối và khách hàng, và bên cạnh đó là những nhà sản xuất sản phẩm phụ trợ,
các công ty thuộc các ngành liên quan về kỹ thuật, công nghệ hoặc cùng sử dụng
một loại đầu vào. Các KCN còn hình thành cả các tổ chức chính phủ và phi chính
phủ như các trường đại học, các viện công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, hiệp hội
thương mại cung cấp các dịch vụ đào tạo chuyên môn, giáo dục, thông tin, nghiên
cứu và hỗ trợ kỹ thuật.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
3
Chuyên đ tt nghip
Theo Nghị Định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm
2008 quy định về KCN, KCX và KKT thì khái niệm về KCN được hiểu như sau:
- Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các
dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo
điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ.
- Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện
dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác
định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công
nghiệp theo quy định của Chính phủ.
Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ
trường hợp quy định cụ thể.
Trong chuyên đề này, em chỉ xin đề cập tới khu công nghiệp theo nghĩa hẹp
hơn với định nghĩa như sau: khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công
nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới vị trí xác định,
xuất trong KCN cũng rất quan tâm đến việc sản xuất hàng hoá có chất lượng cao
nhằm thay thế hàng nhập khẩu.
- Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị
trường và diễn biến của thị trường quốc tế. Do đó, cơ chế quản lý kinh tế trong
KCN lấy điều tiết của thị trường làm chính.
- KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều
hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
dưới hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài, hợp đồng, hợp tác kinh doanh, doanh
nghiệp liên doanh và doanh nghiệp vốn 100% vốn trong nước.
- Hoạt động trong KCN sẽ là các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và
ngoài nước tiến hành theo các điều kiện bình đẳng.
3. Phân loại KCN
Có nhiều cách phân loại KCN như sau:
- Phân loại KCN theo tính chất ngành nghề: gồm 4 loại
+ KCN chuyên ngành: được hình thành từ các xí nghiệp công nghiệp cùng một
ngành hoặc một số ít ngành công nghiệp khác nhau nhưng cùng sản xuất ra một số
loại sản phẩm, chủ yếu hình thành từ các ngành chủ đạo như hoá chất - hoá dầu,
điện tử - tin học, vật liệu xây dựng, chế tạo và lắp ráp cơ khí (gang thép Thái
Nguyên, hoá chất Việt trì, lọc dầu Dung Quất).
+ KCN đa ngành: gồm nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành công nghiệp khác
nhau. KCN đa ngành cho phép thoả mãn được yêu cầu về lãnh thổ cho sản xuất
công nghiệp, song trong quy hoạch xây dựng cần lưu ý vấn đề môi trường nhằm
hạn chế tác động ảnh hưởng xấu giữa các xí nghiệp khác nhau, tiết kiệm đầu tư hạ
tầng.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
5
Chuyên đ tt nghip
+ KCN sinh thái: là mô hình mang tính cộng sinh công nghiệp. Các ngành
công nghiệp được lựa chọn sao cho các nhà máy có mối liên hệ với nhau, hỗ trợ và
tương tác với nhau tạo nên môi trường sạch và bền vững. Với mô hình này thì phế
6
Chuyên đ tt nghip
4.1. KCN góp phần quan trọng thu hút vn đầu tư
KCN là một trong những kênh quan trọng chủ yếu nhằm thu hút vốn đầu tư
từ nước ngoài của nước ta. Với các lợi thế của mình như: cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh,
đồng bộ, hiện đại, môi trường đầu tư thuận lợi, chính sách ưu đãi,… giúp cho các
nước có KCN có thể thu hút vốn đầu tư từ ngoài nước, tiếp cận vốn đầu tư và công
nghệ tiên tiến cũng như phong cách quản lý hiện đại của các nước phát triển. Việc
phát triển các KCN cũng phù hợp với chiến lược của các công ty xuyên quốc gia
trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận,
tranh thủ thuế quan ưu đãi từ phía nước chủ nhà, khai thác thị trường rộng lớn ở các
nước đang phát triển. Chính vì thế mà nguồn vốn đầu tư vào các địa bàn này không
ngừng tăng lên. Theo thống kê của Ngân hàng thế giới thì các dự án thực hiện trong
KCN hầu hết do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc do liên doanh với nước ngoài thực
hiện. Do vậy KCN đã đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Ví dụ, ở Malaysia và Đài Loan trong những năm đầu phát triển, KCN
đã thu hút khoảng 60% số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Cùng với việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, với thuận lợi về vị trí và
ưu đãi về chính sách, cơ chế thì KCN còn thu hút được các nhà đầu tư trong nước.
Đây là nguồn vốn tiềm tàng rất lớn trong nhân dân chưa được khai thác và sử dụng
xứng đáng. KCN sẽ tạo môi trường và cơ hội phát huy năng lực về vốn cũng như
sản xuất kinh doanh trong cùng một điều kiện ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước
ngoài, các doanh nghiệp trong nước sẽ liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp
nước ngoài. Từ đó, tạo cơ hội để các doanh nghiệp trong nước có điều kiện tiếp thu
kinh nghiệm quản lý, trình độ điều hành sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật và công
nghệ hiện đại của nước ngoài , bồi dưỡng nhân tài, thử các phương án cải cách để
tiến dần đến trình độ thế giới.
Như vậy phát triển các KCN là một kênh quan trọng trong việc thu hút vốn
đầu tư trong và ngoài nước làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.
4.2. KCN tạo ra công ăn vic làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người
nghệ hiện đại để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế
có đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Ngoài ra, các KCN thường được quy hoạch
theo một mô hình tập hợp các doanh nghiệp cùng ngành do vậy, các doanh nghiệp
dễ dàng hợp tác, liên kết với nhau trong việc nhập khẩu, tiếp nhận những công nghệ
tiên tiến, hiện đại trên thế giới, tận dụng, rút ngắn được khoảng cách về khoa học kỹ
thuật với các nước đi trước. Việc các được những lợi thế của nước đi sau doanh
nghiệp liên kết hợp tác với nhau sẽ tiết kiệm được chi phí trong lĩnh vực nghiên cứu
và phát triển (R&D) và quyền sở hữu trí tuệ.
Mặt khác, xuất phát từ các trang thiết bị hịên đại, công nghệ kỹ thuật tiên
tiến thì các cán bộ quản lý, các công nhân kỹ thuật và viên chức làm việc tại các
KCN sẽ được đào tạo lại, đào tạo bổ sung cho thích hợp và trực tiếp tiếp thu tác
phong công nghiệp, kinh nghiệm quản lý, phương pháp kiểm tra chất lượng hiện đại
thích ứng với cơ chế thị trường và đạt hiệu quả cao. Từ đó, sẽ làm cho chất lượng
lao động tăng lên để đáp ứng với môi trường làm việc mới.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
8
Chuyên đ tt nghip
4.4. KCN góp phần quan trọng thúc đẩy chuy!n dịch cơ cấu kinh t
Các KCN là đầu tầu tăng trưởng, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển,
là điều kiện dẫn dắt các ngành công nghiệp phụ trợ, các dịch vụ như tài chính, ngân
hàng, dịch vụ thương mại, lao động, tư vấn, lao động… Đồng thời, KCN phát triển
sẽ đẩy nhanh tốc độ và kim ngạch xuất khẩu…Do đó KCN góp phần quan trọng
làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế.
Các khu công nghiệp phát triển làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa
trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế, đẩy mạnh tốc độ, kim ngạnh xuất
nhập khẩu, các khu công nghiệp là một trong những đầu tàu xuất khẩu hàng hóa và
sản phẩm trong nước ra thị trường thế giới, làm tăng cán cân thương mại, tăng
nguồn thu ngoại tệ cho doanh ngiệp, từ đó các doanh ngiệp có vốn để tái mở rộng
sản xuất kinh doanh, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, làm ăn có hiệu quả hơn…
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về phát triển bền vững, mỗi khái niệm
được đưa ra đều có những điểm hợp lý riêng và nó ngày càng được hoàn thiện theo
thời gian:
Năm 1987, vấn đề về phát triển bền vững được Ngân hàng thế giới (WB)
đề cập lần đầu tiên, theo đó thì “ Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các
nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế
hệ tương lai”.
Ngày nay, quan điểm về phát triển bền vững được đề cập đầy đủ hơn, ngoài
vấn đề môi trường, phát triển bền vững còn xét cả về khía cạnh kinh tế và xã hội.
Tại Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesbug-
Cộng hòa Nam Phi năm 2002 đã xác định “Phát triển bền vững là quá trình phát
triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: tăng
trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường”. Tiêu chí để đánh
giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và
công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên,
bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống.
Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề phát triển bền vững được
thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2010, đó
là “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, gắn sự phát triển kinh tế với giữ
vững ổn định chính trị-xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng”.
1.2. Khi nim v pht tri!n bn vững cc KCN
Trên cơ sở khái niệm phát triển bền vững nói chung, khái niệm về phát triển
bền vững các KCN ta có thể hiểu như sau:
Phát triển bền vững các KCN là sự phát triển đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn
định, có hiệu quả ngày càng cao trong bản thân các KCN (các doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả, tạo ra nhiều giá trị sản xuất công nghiệp, tạo việc làm cho người
lao động, tăng thu ngân sách địa phương…), đồng thời gắn liền với việc bảo vệ và
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
10
khoa học, thực tiễn và hiệu quả trong qui hoạch các yếu tố chủ đạo của KCN như
xác định các lĩnh vực và ngành thu hút đầu tư, đất đai, các khu chức năng, cơ sở hạ
tầng kỹ thuật, điện, nước, thông tin, viễn thông, dịch vụ, nhằm đạt được các mục
tiêu kinh tế, bảo vệ và cải thiện môi trường, và thu hút lao động.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
11
Chuyên đ tt nghip
2.1.3. Diện tích và tỷ lệ lấp đầy các KCN
Tiêu chí này được xem xét căn cứ vào mục tiêu qui hoạch và điều kiện hoạt
động của KCN (vị trí địa lý, yêu cầu của các ngành công nghiệp, khả năng phát
triển và các điều kiện về giao thông vận tải, nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu
thụ (nội địa, xuất khẩu)). Mức độ sử dụng đất KCN đo bằng tỉ lệ diện tích KCN đã
cho các doanh nghiệp thuê so với tổng diện tích KCN.
2.1.4. Tổng số vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện
Tổng số vốn đăng ký và tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện trong tổng số vốn đăng ký
của các doanh nghiệp FDI và trong nước vào KCN, vốn đầu tư bình quân của một
dự án và vốn đầu tư bình quân trên một ha đất.
2.1.5. Kết quả và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN
Các chỉ tiêu cụ thể: tổng doanh thu, tổng giá trị gia tăng, tỷ lệ giá trị gia tăng
so với tổng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu và tỉ trọng trong tổng kim ngạch xuất
khẩu cả nước; thu nhập bình quân tính trên 1 đơn vị lao động, trên 1 ha.
2.1.6. Trình độ công nghệ và ứng dụng công nghệ của các doanh nghiệp trong
KCN
- Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong nước
trong KCN.
- Trình độ công nghệ của từng ngành, nhóm ngành mà các doanh nghiệp FDI
trong KCN tham gia hoạt động (lạc hậu, trung bình, tiên tiến).
- Kỹ năng, năng lực sử dụng công nghệ của các doanh nghiệp trong KCN
- Xuất xứ của công nghệ (năm và nước sản xuất).
2.1.7. Liên kết kinh tế
- Có Báo cáo môi trường của các doanh nghiệp trong KCN.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển bền vững các KCN
2.3.1. Vị trí địa lý
Vị trí địa lý hết sức quan trọng trong quá trình thu hút sự phát triển của các
KCN. Trong các yếu tố quyết định sự thành công của KCN, thì có 2 yếu tố thuộc về
yếu tố địa lý và điều kiện tự nhiên là:
+ Gần các tuyến giao thông đường bộ, hàng không, bến cảng và các điều kiện
thuận lợi khác.
+ Nguồn nước công nghiệp được cung cấp đầy đủ.
KCN phải được xây dựng ở vị trí địa lý thuận lợi, đảm bảo cho giao lưu hàng
hoá giữa KCN với thị trường quốc tế và các vùng còn lại trong nước. Đây là một
trong những điều kiện cần thiết đối với sự thành công và sự phát triển bền vững của
các KCN để đảm bảo cho vận chuyển hàng hoá và nguyên liệu ra vào các KCN
được nhanh chóng và thuận tiện nhất nhằm giảm chi phí lưu thông và tăng khả năng
cạnh tranh của hàng hoá sản xuất ra. Các KCN cần được xây dựng ở gần các khu
vực đô thị, gần các trung tâm văn hoá-xã hội, có hệ thống giao thông thuận lợi.
Ngoài ra, về khí hậu, thời tiết, nhiệt độ, sông, hồ cũng cần phải lưu ý để tránh
gây khó khăn cho quá trình xây dựng và hoạt động sau này.
2.3.2. Quy mô KCN, quy mô vốn đầu tư
Quy mô đất xây dựng KCN cũng có vai trò quan trọng trong việc phát triển
các KCN, vì quy mô lớn sẽ tạo nên một khu vực công nghiệp rộng lớn, tiềm năng
phát triển lớn hơn. Cơ hội liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp trong KCN sẽ cho
hiệu quả thúc đẩy phát triển của các doanh nghiệp.
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
13
Chuyên đ tt nghip
Cũng như quy mô về diện tích, quy mô vốn đầu tư cũng đóng vai trò quan
trọng trong việc phát triển các KCN, muốn các KCN phát triển bền vững thì phải có
đủ được nguồn vốn.
Thứ nhất, có vốn để xây dựng các KCN, để xây dựng cơ sở hạ tầng cho KCN,
cung cấp điện cho hoạt động sản xuất phải đầy đủ, hệ thống cung cấp nước đầy đủ
và hiện đại, bền vững để các doanh nghiệp sản xuất ổn định và năng suất cao. Hệ
thống cống thóat nước phải được quy hoạch đồng bộ có tính toán lâu dài. Các trạm
xử lý nước thải, xử lý rác thải phải được xây dựng nhằm giải quyết các loại chất thải
của các doanh nghiệp sản xuất, đảm bảo môi trường không bị ô nhiễm. Tất cả phải
được xây dựng từ khi quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng. Do đó, cơ sở hạ tầng của
KCN cần phải được quy hoạch và xây dựng hết sức vững chắc ngay từ lúc khởi
công xây dựng KCN, vì sau khi xây dựng cơ sở hạ tầng, các doanh nghiệp vào sản
xuất thì việc nâng cấp cơ sở hạ tầng là rất khó khăn và tốn kém.
2.3.5. Chất lượng nguồn nhân lực
Nguồn lao động phải không những phải đủ về số lượng mà còn phải có chất
lượng tay nghề cao. Nguồn nhân lực có chất lượng là nền tảng cho sự phát triển bền
vững của các doanh nghiệp của KCN.
Theo kinh nghiệm của Đài Loan, là nước được coi là nơi tổ chức KCN thành
công nhất trên thế giới, thì trong 10 yếu tố quyết định sự thành bại của KCN, các
chuyên gia Đài Loan cho rằng yếu tố số một là phải có đội ngũ lao động có tay nghề
đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư.
2.3.6. Các chính sách vĩ mô của nhà nước
Môi trường cơ chế chính sách đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công
hay thất bại của việc phát triển KCN. Vì nếu cơ chế thông thoáng, không gây qua
nhiều trở ngại cho các nhà đầu tư, đồng thời có các chính sách ưu đãi thì sẽ hấp dẫn
được các nhà đầu tư do họ sẽ giảm được chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận kinh
doanh.
Do đó, chính sách đầu tư có mối liên hệ chặt chẽ với việc thu hút đầu tư vào
KCN. Các chính sách ưu đãi như: miễn giảm thuế công ty, thuế xuất nhập khẩu,
thuế lợi tức; không hạn chế việc chuỷển vốn lợi nhuận của các nhà đầu tư ra nước
ngoài; xác định rõ quyền sử dụng đất của các nhà đầu tư,…sẽ hấp dẫn các nhà đầu
tư. Đồng thời phải có quy chế hoạt động của KCN rõ ràng, cụ thể và ổn định. Có
như vậy, các nhà đầu tư mới an tâm đầu tư vào KCN và nước chủ nhà mới có thể
quản lý tốt được hoạt động của cac doanh nghiệp trong KCN.
vọng, nhất là thiếu các KCN công nghệ cao, thiếu các KCN chuyên ngành và cả các
KCN tổng hợp quy mô lớn theo mô hình liên kết đồng bộ giữa công nghiệp – dịch
vụ - đô thị. Đặc biệt là thiếu sự gắn bó hợp tác và liên kết kinh tế giữa các doanh
nghiệp trong một KCN và giữa các KCN với nhau và giữa các KCN với các CNN
vừa và nhỏ, cũng như với các khu kinh tế đặc biệt trên phạm vi địa phương và cả
nước. Các yếu tố thiếu bền vững trong phát triển các KCN còn dược thể hiện ở tình
trạng ô nhiễm môi trường các KCN và khu vực lân cận ngày càng gia tăng trong sự
chậm trễ thờ ơ, thiếu trách nhiệm của các doanh nghiệp và KCN. Điều đó chứng tỏ
phát triển các KCN luôn có tính hai mặt song có thể khẳng định rằng phát triển các
KCN luôn là sự lựa chọn đúng đắn, hiệu quả và tất yếu trong quá trình công nghiệp
hóa – hiện đại hóa đất nước. Vấn đề là ở chổ cần tìm ra, bổ sung và chủ động thực
hiện các giải pháp cần thiết, đồng bộ, hiệu quả để phát triển các KCN theo hướng
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
16
Chuyên đ tt nghip
bền vững nhằm phát huy tối đa các tác dụng tích cực, đồng thời hạn chế, trung hòa,
giảm thiểu các tác động trái chiều của quá trình này.
Trải qua hơn 15 năm hình thành và phát triển tới nay, các KCN ở Việt Nam
nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng đã có rất nhiều đóng góp tích cực cho sự
nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phát triển kinh tế xã hội đất nước. tuy nhiên
bên cạnh những thành quả to lớn đó thì Hà Nội cũng đã phải trả giá cho những mặt
trái của sự hình thành các KCN như: tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải của
các KCN, tình trạng công nhân làm việc trong các KCN không có nhà ở gây ra sự,
lộn xộn và phát sinh các tệ nạn xã hội gây mất trật tự an ninh Chính vì vậy, để
tránh những hậu quả không tốt về sau, Hà Nội cần rút ra những kinh nghiêm cho
mình để tìm được phương án thành công về phát triển KCN nhằm đảm bảo tính bền
vững, ổn đinh tăng trưởng kinh tế, chuển biến kinh tế xã hội theo hướng tích cực và
bảo vệ môi trường sinh thái.
2.5. Kinh nghim pht tri!n cc khu công nghip của một s nưc trên th gii
2.5.1. Kinh nghiệm Nhật Bản
Technopolis với mục đích thành lập các KCN công nghệ cao. Hơn 20 thành phố
công nghệ đã được Chính phủ cho phép thành lập và cạnh tranh lẫn nhau, và chỉ
trong thời gian từ năm 1984 đến 1987, tổng số các xi nghiệp tại 14 thành phố
Techopolis đã tăng lên gấp đôi.
Các KCN Nhật Bản chia thành 4 loại theo vị trí và mục đích khác nhau như sau:
- KCN ven biển: các KCN này có diện tích lớn hơn 1000 ha, tập trung sản xuất
hóa chất và các ngành công nghiệp nặng
- KCN nội địa: các KCN này được thiết lập dọc theo các xa lộ để thuận tiện
cho việc chuyên trở hang hóa, giao thông, có diện tích trung bình khoảng 100 ha.
Nó tập trung công nghiệp lắp ráp chế tạo ô tô, thiết bị điện, cơ khí…
- Khu nghiên cứu: các khu này được thiết lập trong những khu vực có đầu mối
giao thông thuận tiện, gồm các trung tâm nghiên cứu và phát triển, diện tích trung
bình khoản 300 ha.
- Thành phố công nghiệp (Technopolis): có diện tích tương đương với các
KCN nội địa, được thiết lập tại các khu vực riêng biệt và tập trung các ngành công
nghiệp công nghệ cao như chế tọa bán dẫn, công nghệ sinh học… Tiêu chí để lựa
chọn địa điểm xây dựng các KCN công nghệ cao (Technopolis) của Nhật là: khu
vực hiện tập trung không quá đông các cơ sở công nghiệp, nằm gần các thành phố
được coi là trung tâm của hoạt động công nghiệp, nằm gần các trường đào tạo đại
học và các ngành phát triển công nghệ cao, trong hiện tại tập trung nhiều cơ sở kinh
doanh thương mại và gân các đầu mối giao thông, xa lộ.
Về chính sách hỗ trợ phát triển của Nhật: Nhật Bản rất chú trọng tới việc phát
triển cơ sở hạ tầng, nếu như năm 1955 tổng vốn đầu tư Nhà nước cho phát triển cơ
sở hạ tầng công nghiệp là 80 tỉ Yên, chiếm 0,9% GDP, thì tới năm 1970, con số này
là 1870 tỉ Yên, chiếm 2,5% GDP. Chính phủ cũng áp dụng một số biện pháp
khuyên khích, hỗ trợ các xí nghiệp theo các Luật về phát triển công nghiệp vùng và
các qui định của chính quyền địa phương như:
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
18
Chuyên đ tt nghip
dựng cơ sở hạ tầng. Tư nhân có thể đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng cách liên
doanh với Ban quản lý KCN Thái Lan hoặc đầu tư 100% vốn.
Về chính sách ưu đãi, Thái Lan đã dành cho các nhà đầu tư vào các KCN các
ưu đãi khá rộng rãi: đầu tư vào các KCN, khu chế xuất được miễn trừ thuế xuât
SV: Ma Ngọc Duy Lp: Kinh t Pht tri!n 49A
19
Chuyên đ tt nghip
nhập khẩu hàng hóa; đặc biệt là cho phép các nhầ đầu tư nước ngoài được quyền sở
hữu đất trong KCN (trong khi Malaysia bán đất có thời hạn 99 năm, Indonesia cho
thuê đất tối đa là 60 năm, Trung Quốc cho quyền sử dụng đất tối đa là 50 năm
nhưng được quyền chuyển nhượng thế chấp).
Thuế nhập khẩu được áp dụng trong các KCN Thái Lan:
- Đối với hàng hóa nhập khẩu là máy móc thiết bị phụ tùng: các doanh nghiệp
trong KCN tổng hợp được giảm 50% thuế nhập khẩu áp dụng cho cả vùng I và vùng
II, các doanh nghiệp ở vùng III được miễn thuế nhập khẩu các loại thiết bị trên.
Việc miễn thuế này được áp dụng đối với các xí nghiệp sản xuất trong các khu chế
xuất cả 3 vùng.
- Đối với hàng hóa nhập khẩu là nguyên liệu: các doanh nghiệp trong các
KCN tổng hợp được miễn thuế nhập khẩu 1 năm đối với nguyên vật liệu nếu xuất
khẩu ít nhất 30% sản phẩm sản xuất được. Ưu đãi này cũng được áp dụng chung
cho tất cả các doanh nghiệp trong KCN đóng ở vùng I và II, các doanh nghiệp ở
vùng III sẽ được miễn thuế nhập khẩu nguyên vật liệu trong vòng 5 năm nếu xuất
khẩu ít nhất 30% sản phẩm sản xuất và chỉ phải trả 25% thuế khập khẩu với các
nguyên liệu sản xuất ra hàng hóa tiêu dùng nội địa
Với những chính sách trên Thái Lan đã hình thành một mạng lưới các KCN phát
triển tương đối thành công và đáng để các nước trong khu vực học tập.
2.5.3. Bài học kinh nghiệm
Qua bài học phát triển các KCN ở hai nước Nhật Bản và Thái Lan trên đây ta
có thể rút ra một số bài học cơ bản cho sự phát triển các KCN ở nước ta hiện nay
như sau:
21
Chuyên đ tt nghip
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG PHÁT TRIN BỀN VỮNG CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
1. Tổng quan về các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội
Từ khi KCN đầu tiên của Hà Nội được quyết định thành lập (KCN Nội Bài)
năm 1994, đến nay trên địa bàn thành phố Hà Nội đã có 8 KCN. Sau hơn 15 năm đi
vào hoạt động, các KCN đã đóng vai trò quan trong vào sự phát triển của Thủ đô Hà
Nội. 8 KCN của Hà Nội có tổng diện tích tự nhiên là 1325ha, phân bố ở phía đông
Hà Nội, dọc theo quốc lộ 5 có KCN Sài Đồng B và KCN Hà Nội –Đài Tư; và phía
Tây Bắc Hà Nội, dọc theo con đường cao tốc Thăng Long- Nội Bài có KCN Nam
Thăng Long, Thăng Long, Nội Bài và mới nhất là Hà Nội vừa xây dựng được thêm
3 KCN mới là: KCN Thạch Thất – Quốc Oai, KCN Phú Nghĩa, KCN Quang Minh.
Như đã nêu ở trên, vì thời gian và năng lực có hạn nên tôi chỉ xin nghiên cứu chính
5 KCN ra đời trước đã nêu ở trên. Ta có bảng giới thiệu chung về các KCN như sau:
Bảng 2.1: giới thiệu chung về các khu công nghiệp
KCN Nội
Bài
KCN Sài
Đồng B
KCN Nam
Thăng
Long
KCN Hà
Nội – Đài
Tư
KCN
Thăng
Long
TNHH
phát triển
hạ tầng –
Hiệp hội
công
thương
Việt
Nam(100%
vốn trong
nước)
Liên doanh
giữa bên Việt
Nam(công ty
TNHH Nam
Hòa và công
ty TNHH đầu
tư và phát
triển hạ tầng
Nam Đức) và
bên nước
ngoài(công ty
cổ phần hữu
hạn phát triển
Hà Nội – Đài
Tư
Công ty
liên doanh
giữa cơ khí
Đông Anh
và Summit