Trình bày các phương pháp tính thuế giá trị gia tăng - Pdf 26

BÀI TẬP CÁ NHÂN TUẦN
MÔN: LUẬT TÀI CHÍNH
ĐỀ SỐ 7: Trình bày các phương pháp tính thuế giá trị gia tăng? Tại sao
pháp luật lại quy định có sự khác biệt trong phương pháp tính thuế giá trị gia
tăng?
1
Điều 2 Luật thuế GTGT (GTGT) 2008 quy định: “Thuế GTGT là thuế tính
trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất,
lưu thông đến tiêu dùng”. Về bản chất đây là loại thuế gián thu, “các nhà sản
xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng người tiêu dùng
lại thức chất là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ”
1
. Phương
pháp tính thuế là các cách thức mà Nhà nước sử dụng được quy định trong pháp
luật được sử dụng để xác định số thuế phải nộp cho nhà nước. Các phương pháp
tính thuế GTGT có nhiều phương pháp khác nhau, nhưng để lựa chọn sử dụng
phương pháp nào thì còn phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử, kinh tế xã
hội của từng quốc gia. Điều 9 Luật thuế GTGT quy định: “Phương pháp tính
thuế GTGT gồm phương pháp khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực
tiếp trên GTGT”.
Thứ nhất, Phương pháp Khấu trừ thuế GTGT. Phương pháp này được quy
định tại Điều 10 luật thuế GTGT 2008.
+/ Phương pháp khấu trừ thuế được áp dụng cho tất cả các loại hình doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trừ những đối tượng phải nộp thuế theo
phương pháp trực tiếp được quy định trong luật Thuế GTGT.
+/ Xác định Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp khấu trừ
thuế bằng số thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào được
khấu trừ.
Thuế GTGT đầu ra bằng (=) giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế
bán ra nhân với (x) thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó.
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi

dịch vụ mua vào tương ứng.
Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng áp dụng đối với các
trường hợp sau đây: Cơ sở kinh doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh
doanh không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh tại
Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ; Hoạt động
mua bán vàng, bạc, đá quý.
2
Đối tượng này thường là các cá nhân, cơ sở kinh
doanh không có tư cách pháp nhân, những cơ sở kinh doanh hộ gia đình,….và
sử dụng hoà đơn bán hàng thông thường ( không tính thuế ) để hạch toán, các
dịch vụ ăn uống, phòng nghỉ...
Giá thanh toán của hàng hóa dịch vụ bán ra, mua báo gồm giá bán (+)
thuế GTGT, ở đây giá tính thuế của phương pháp trực tiếp không phải là giá
chưa có thuế GTGT, mà là giá đã bao gồm cả thuế GTGT, do đó đã gây ra sự
bất bình đẳng vè nghĩa vụ thuế GTGT theo phương pháp này sẽ ở vào thế bất lợi
hơn, tuy khi đó họ thường là những chủ thể kinh doanh có ít vốn, phạm vi hoạt
động sản xuất kinh doanh nhỏ, ở đây pháp luật thuế GTGT đã không đảm bảo
được nguyên tắc chỉ tính thuế theo phương pháp nào thì các đối tượngcó hoạt
động kinh doanh như nhau áp dụng thuế suất như nhau với một mặt bằng giá
giống nhau thì phải nộp thuế như nhau, tình trạng thuế chồng lên thuế không
được khắc phục triệt để.
2
Xem Khoản 2 Điều 11 Luật thuế GTGT 2008.
3
Nguyên nhân của sự quy định khác biệt giữa hai phương pháp tính thuế:
+/ Sở dĩ luật thuế GTGT quy định hai phương pháp tính thuế như vậy vì
xuất phát từ phạm vi của đối tượng nộp thuế GTGT trong quy định này xét ở
một góc độ nào đó phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, song chưa thực
sự đảm bảo sự bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế GTGT, thể hiện ở chỗ cơ
sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế được

chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia
tăng.
5. Trang web: />thuong mai/2009/8557/Mot-so-van-de-phap-ly-ve-hoan-thue-gia-tri-
gia.aspx
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status