Nghiên cứu điều kiện thích hợp cho lên men sinh tổng hợp chất kháng khuẩn từ chủng xạ khuẩn biển HP411 - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên em xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Phương Nhuệ, Th.S. Phạm Thanh Huyền , Viện Công
nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức, tài liệu quý không chỉ trong quá trình học
tập, nghiên cứu mà trong cả cuộc sống trong gần một năm nay. Tôi xin cảm ơn các
cán bộ Phòng Công nghệ lên men, Viện Công nghệ sinh học đã khuyến khích và tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Em cũng xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Công nghệ sinh học,
cùng các thầy cô trong Hội đồng bảo vệ, Viện Đại học Mở Hà Nội có những nhận
xét quý báu cho khóa luận này, và đã tạo mọi điều kiện cho em được học tập, làm
việc trong môi trường chuyên biệt, định hướng nghề nghiệp cho sinh viên trong
khoa nói chung và bản thân em nói riêng.
Cuối cùng tôi xin gửi tới gia đình và bạn bè, những người thân yêu nhất của
tôi đã luôn đồng hành, động viên, chia sẻ, góp ý và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi
trong cuộc sống và học tập.
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương Thảo
Nguyễn Thị Phương Thảo_KSCNSH 0904 1
Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Nguyễn Thị Phương Thảo_KSCNSH 0904 2
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tên đầy đủ
CKS Chất kháng sinh
CNSH Công nghệ sinh học
DNA Deoxyribose Nucleic Acid
ĐKVVK Đường kính vòng vô khuẩn

Việt Nam có một vùng biển đặc quyền kinh tế khoảng 1.000.000 km
2
của vùng Biển
Đông, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa cũng tạo cho nước ta tính đa dạng về
cảnh quan tự nhiên và nguồn lợi thuỷ sinh vật. Đây là nơi chứa đựng đầy hứa hẹn
các hợp chất kháng sinh mới trong tương lai.
Việc lựa chọn các chủng vi sinh vật biển sinh kháng sinh, xác định thành phần môi
trường lên men, các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình lên men trong phòng thí nghiệm
là cơ sở bước đầu cho việc lên men sản xuất thuốc kháng sinh sau này.
Với những mục tiêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu điều kiện
thích hợp cho lên men sinh tổng hợp chất kháng khuẩn từ chủng xạ khuẩn biển
HP411” với các nội dung chính như sau:
Nguyễn Thị Phương Thảo_KSCNSH 0904 5
Khóa luận tốt nghiệp
1. Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân loại chủng xạ khuẩn HP411.
2. Lựa chọn một số điều kiện thích hợp cho sự sinh trưởng và sinh tổng hợp
chất kháng khuẩn của chủng xạ khuẩn HP411.
3. Sơ bộ nghiên cứu một số điều kiện tách chiết chất kháng sinh thô từ dịch lên
men chủng xạ khuẩn HP411.
Nguyễn Thị Phương Thảo_KSCNSH 0904 6
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CHẤT KHÁNG SINH
1.1.1. Sơ lược về chất kháng sinh
Năm 1942, A.A Waksman người đoạt giải Nobel với công trình phát minh ra
streptomycin, lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ “antibiotic” hay kháng sinh. “Kháng
sinh là một chất do vi sinh vật sản sinh ra có khả năng ức chế sinh trưởng hoặc tiêu
diệt các vi sinh vật khác”. Ngày nay, thuật ngữ kháng sinh được hiểu theo nghĩa
rộng hơn: “Kháng sinh là các hợp chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp có tác
dụng ức chế hoặc tiêu diệt chọn lọc đối với các vi sinh vật gây bệnh, đồng thời

độ chất kháng sinh, cấu trúc hiển vi của tế bào vi sinh vật và điều kiện biểu hiện
chúng. Các chất kháng sinh tác dụng cơ bản đến tế bào thông qua việc ức chế các
phản ứng tổng hợp khác nhau của tế bào vi sinh vật gây bệnh. Chúng liên kết vào
các vị trí chính xác hay các phân tử đích của tế bào vi sinh vật để tạo ra các phản
ứng làm thay đổi quá trình trao đổi chất [2, 9, 18]. Có 6 mức tác dụng khác nhau đối
với tế bào vi khuẩn hoặc vi nấm: thành tế bào,màng sinh chất, quá trình sao chép,
phiên mã, dịch mã và trao đổi chất trung gian (Hình 1.1).
Ghi chú: PABA: paraminobenzoic acid; DHFA: dihydrofolic acid;THFA:
tetrahydrofolic acid
Hình 1.1. Cơ chế tác động của kháng sinh
1.1.2. Chất kháng sinh từ vi sinh vật biển
Nguyễn Thị Phương Thảo_KSCNSH 0904 8
Khóa luận tốt nghiệp
Hệ sinh thái biển có một số tính năng đặc biệt khiến nó khác biệt với các hệ
sinh thái thủy sinh khác, yếu tố đó chính là do sự hiện diện của các hợp chất hòa tan
trong nước biển,đặc biệt là natriclorua (NaCl). Môi trường biển là một hệ sinh thái
rộng lớn chưa được khám phá hết, thách thức các nhà khoa học tìm kiếm các loại
kháng sinh mới. Đã có trên 1000 loại thuốc có nguồn gốc từ vi sinh vật trên cạn
nhưng tiềm năng này đã giảm đi từ gần 10 năm trở lại đây. Các nhà dược học đã tìm
kiếm các loài vi sinh vật trên cạn có khả năng tạo ra thuốc nhưng kết quả thu được
rất khiêm tốn [11].
Trong những năm gần đây, một số loài vi sinh vật ưa mặn có khả năng sinh
tổng hợp các hợp chất thứ cấp đã được mô tả. Một chủng vi khuẩn ưa mặn là
Bacillus licheniformis 603 được các nhà khoa học Nga tìm thấy ở vùng nước nóng ở
độ sâu 2100m, chủng này có thể sinh trưởng được ở nồng độ muối 15%, nhiệt độ
15-55
0
C, pH 5,1-9,8 và sinh ra chất antiadhesin. Gần đây, một chất kháng sinh mới
là 7-O-Malonyl Macrolactin thuộc nhóm macrolactin mới được phát hiện từ chủng
Bacillus subtilis có khả năng ức chế chủng Staphylococus aureus kháng methicillin,

Proximicins là kháng sinh được tạo ra bởi xạ khuẩn Verrucosispora sp. MG37
và Verrucosispora maris AB-18-032, chúng được phân lập từ các mẫu trầm tích
dưới độ sâu 250m ở Raune Fjord, Na-uy và ở biển Nhật Bản độ sâu 289m.
Proximicins (A, B, C) có khả năng kìm hãm sự sinh trưởng của tế bào ung thư biểu
mô dạ dày và ung thư biểu mô gan [14].
Nguyễn Thị Phương Thảo_KSCNSH 0904 10
Khóa luận tốt nghiệp
Mechercharmycins được sản xuất bởi xạ khuẩn Thermoactinomyces sp. YM3-
251; được phân lập từ bùn ở Macherchar nước cộng hòa Palau (Bắc Thái Bình
Dương). Mechercharmycin A có khả năng gây độc cho tế bào ung thư tuyến biểu
mô phổi dòng A549 và tế bào ung thư bạch cầu [14].
Hình 1.3. Cấu trúc của Proximicins và Mechercharmycin A
1.1.2.3. Nhóm kháng sinh phức hợp polyketide-nonribosomal peptide
Hình 1.4. Cấu trúc của
salinosporamide
Salinosporamide A
(NPI-0052) là kháng sinh
mới có cấu trúc β-lactone-γ-
lactam (C15H20O4NCl)
tách từ dịch lên men của xạ
khuẩn biển Salinispora
tropica được phân lập từ các mẫu trầm tích biển ở độ sâu 1m tại biển Chab Cay,
Bahamas. NPI-0025 là chất ức chế proteasome 20S gây ra hiện tượng apoptosis
trong tế bào u tủy và kháng lại tế bào ung thư ruột kết. NPI-0025 đã được thử
nghiệm lâm sàng bởi hãng dược phẩm Nereus Pharmaceuticals vào năm 2006 và có
tiềm năng là một chất kháng ung thư có giá trị trong tương lai [14, 22, 26].
Lajollamycin là kháng sinh được tạo thành từ chủng xạ khuẩn S. Nodosus
NPS007994 phân lập từ các mẫu trầm tích biển ở Scripps Canyon, La Jolla,
California. Lajollamycin có khả năng kìm hãm sự sinh trưởng của tế bào u melanin
Nguyễn Thị Phương Thảo_KSCNSH 0904 11

năng chống lại tế bào khối u ruột kết, u melanin, u phổi, u vú, u tuyến tiền liệt và u
tuyến thận; ngoài ra chất kháng sinh này còn có khả năng kháng khuẩn và nấm [14].
Helquinoline (C12H15O3N) là kháng sinh hình thành từ Janibacter limosus.
Chất kháng sinh này có khả năng kháng Bacillus subtilis, Streptomyces
virdochromogenes Tu57 và Staphylococcus aureus [19, 22].
Hình1.7. Cấu trúc của Diazepinomicin và Chandrananimycin
1.2. TỔNG QUAN VỀ XẠ KHUẨN VÀ SỰ HÌNH THÀNH CHẤT KHÁNG
SINH TỪ XẠ KHUẨN
1.2.1. Đặc điểm chung của xạ khuẩn
Xạ khuẩn (Actinomycetales) là nhóm vi sinh vật đơn bào hay vi khuẩn thật,
phân bố rộng rãi trong tự nhiên: trong đất, trong nước ao hồ, nước biển, một phần
trong bùn, lớp trầm tích và trong các chất hữu cơ khác. Ví dụ như sự có mặt của xạ
khuẩn trong các trầm tích biển: loài Actinomyces Mortivalis, Actinomyces halophia,
Streptomycesantibioticus, Streptomyces sp. Streptomyces nodosus,
Micromonospora sp… [19, 26]. Một vài loài có thể gây bệnh cho động thực vật [4].
Nguyễn Thị Phương Thảo_KSCNSH 0904 13
Khóa luận tốt nghiệp
Phần lớn xạ khuẩn là các tế bào Gram (+), hoại sinh, có cấu tạo sợi phân
nhánh. Xạ khuẩn được nghiên cứu một cách sâu sắc vì chúng có ý nghĩa quan trọng
trong tự nhiên: tích cực tham gia vào các quá trình chuyển hóa nhiều hợp chất trong
đất, trong nước, chúng có vai trò quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất của
tự nhiên. Chúng sản sinh ra nhiều sản phẩm trao đổi chất quan trọng khác nên đã
được dùng để sản xuất nhiều loại enzym như: protease, amilase, cellulase,
glucoizomerase, vitamin và các axit hữu cơ. Nhưng đặc điểm quan trọng bậc nhất
của xạ khuẩn là khả năng sinh chất kháng sinh, trong đó 60-70% xạ khuẩn phân lập
được từ đất có khả năng này [6, 15]. Trong số khoảng 8000 chất kháng sinh hiện đã
được biết đến trên thế giới thì trên 80% là do xạ khuẩn. Đây là kết quả của quá trình
đối kháng giữa các vi sinh vật và thúc đẩy quá trình tiến hóa của xạ khuẩn [4].
1.2.2.Đặc điểm sinh học của xạ khuẩn
a) Đặc điểm hình thái

trì hình dạng khuẩn ty và bảo vệ tế bào. Thành tế bào được cấu tạo từ các lớp
glucopeptid, gồm các gốc N-acetylglucozamin liên kết với acid N-acetylmuzamic
bằng liên kết 1,4-glucozit, gồm 3 lớp: lớp ngoài dày 60-120 Å, khi già có thể dày
tới 150Å, lớp giữa rắn chắc dày 50Å và lớp trong dày 50Å. Thành tế bào chứa
nhiều enzym tham gia vào quá trình trao đổi chất và quá trình vận chuyển vật chất
qua màng tế bào. Trên thành tế bào xạ khuẩn còn có các lỗ cho phép các hợp chất
có phân tử lượng lớn như các chất kháng sinh, acid amin, enzym và nhiều hợp chất
khác đi qua một cách dễ dàng, đồng thời các hợp chất dinh dưỡng từ môi trường
bên ngoài cũng được thẩm thấu qua một cách có chọn lọc [4, 6]. Căn cứ vào kết cấu
hóa học người ta chia thành tế bào xạ khuẩn thành 4 nhóm:
- Nhóm CW I: có chứa L, L-DAP (diaminopimelat) và glycin. Gồm các chi
Streptomyces, Streptoverticillium, Sporichthya, Nocardioides.
- Nhóm CW II: có chứa mezo-DAP (meso- diaminopimelat) và glycin.
Thuộc nhóm này có Micromonospora, Actinoplanes, Ampullariella.
- Nhóm CW III: có chứa mezo-DAP. Gồm các chi Dermatophilus,
Geodermatophilus, Frankia, …
Nguyễn Thị Phương Thảo_KSCNSH 0904 15
Khóa luận tốt nghiệp
- Nhóm CW IV: có chứa mezo-DAP, arabionose và galactose. Gồm các chi
Nocardia, Promicromonospora, Pseudonocardia, Rhodococcus,… [6].
Dưới lớp màng tế bào là màng nguyên sinh chất có vai trò quan trọng trong
trao đổi chất của tế bào và quá trình hình thành bào tử của xạ khuẩn.
Do chất nhân chưa có màng bao bọc nên một trong những điểm đáng chú ý ở
xạ khuẩn là chúng không ổn định về mặt di truyền và thường xuyên xảy ra sự sắp
xếp lại trong phân tử ADN. Điều này tạo nên tính đa dạng về hình thái cũng như
tính kháng thuốc của xạ khuẩn do sự xuất hiện của dị vòng. Hơn nữa, những biến dị
này còn ảnh hưởng tới hiệu suất sinh hóa của các chủng xạ khuẩn, chúng ảnh hưởng
tới sự hình thành chất kháng sinh. Khi nuôi cấy trên môi trường rắn của cùng 1
chủng, người ta thu được những khuẩn lạc mà một trong số đó sinh ra một lượng
lớn kháng sinh, những khuẩn lạc khác lại không sinh ra hoặc chỉ sinh một lượng

kiềm, ở môi trường pH thấp hoặc quá kiềm xạ khuẩn không phát triển hoặc phát
triển kém. Các chủng xạ khuẩn phát triển được ở nồng độ muối 3-5%, còn ở nồng
độ cao hơn có thể bị ức chế hoặc bị tiêu diệt [4, 6, 21 ].
Trong môi trường dịch thể, quá trình sinh trưởng phát triển của xạ khuẩn chia
làm 4 pha:
- Pha lag: sinh khối tăng không đáng kể.
- Pha log: lượng sinh khối tăng theo hàm log, ở cuối pha này có sự tổng hợp
nên các sản phẩm bậc hai như chất kháng sinh.
- Pha cân bằng: ở pha này sinh khối không tăng, hầu hết các chất dinh dưỡng
còn lại trong môi trường đều được sử dụng để tổng hợp chất kháng sinh.
- Pha suy tàn: sinh khối giảm nhanh, lượng chất kháng sinh cũng giảm.
Nguyễn Thị Phương Thảo_KSCNSH 0904 17
Khóa luận tốt nghiệp
Tế bào xạ khuẩn phân chia theo kiểu phân bào vô sắc - đó cũng là tính chất đặc
trưng của vi khuẩn. Thời gian phân đôi của tế bào xạ khuẩn nuôi cấy trong môi
trường lỏng khoảng 90 phút (trong khi đó ở vi khuẩn khoảng 20-40 phút). Xạ khuẩn
sinh sản bằng cách tạo bào tử.
1.2.4. Sự hình thành chất kháng sinh từ xạ khuẩn
Chất kháng sinh là sản phẩm trao đổi chất bậc hai, thông thường được hình
thành ở cuối pha sinh trưởng, trong pha cân bằng. Ở xạ khuẩn, sinh tổng hợp chất
kháng sinh có quan hệ nghịch với sự hình thành bào tử, đó là điểm cần lưu ý trong
khi nghiên cứu sinh tổng hợp chất kháng sinh từ xạ khuẩn.
Trong số 8000 chất kháng sinh đã biết đến trên thế giới thì hơn 45% là do xạ
khuẩn thuộc chi Streptomyces sinh ra, chỉ hơn 21% là của nấm [4, 10]. Chi
Streptomyces là chi được nghiên cứu nhiều nhất trong nhóm xạ khuẩn, với 500 loài
đã được miêu tả, chi này có nhiều loài có khả năng sinh chất kháng sinh, một trong
những loại kháng sinh rất quan trọng là streptomycin do Streptomyces griseus sinh
ra. Khả năng sinh kháng sinh là kết quả của quá trình đối kháng giữa các vi sinh vật
và thúc đẩy quá trình tiến hóa của xạ khuẩn [4].
Đối với sinh tổng hợp chất kháng sinh từ xạ khuẩn, người ta thường mô tả hai

085
Kháng nấm, kháng tế
bào ung thư
Actinofuranones A
(B)
Streptomyces
sp.CNQ766
Kháng tế bào ung thư
Trioxacarcins
Streptomyces sp.
B8652
Kháng khuẩn, kháng
ung thư, kháng trùng
sốt rét.
IB-00208
Actinomadura sp.
BL42PO13-046
Kháng ung thư
Non-
ribosomal
peptide
Mechercharmycins Thermoactinomyces sp. Kháng tế bào ung thư
Thiocoraline
Micromonospora sp.
L-13-ACM2-092
Kháng tế bào ung thư
Proximicins
Verrucosispora
sp.MG37
Verrucosispora maris

Kháng tế bào ung thư
Marinones Xạ khuẩn chủng Kháng tế bào ung thư
Nguyễn Thị Phương Thảo_KSCNSH 0904 20
Khóa luận tốt nghiệp
Isoprenoid
CNH099
T-Muurolol Streptomyces sp. M491 Kháng tế bào ung thư
Glaciapyrroles
Streptomyces sp.
NPS8187
Kháng khuẩn
Chloro-
dihydroquinones
Xạ khuẩn chủng
CNQ525
Kháng khuẩn, kháng
ung thư
Các chất
kháng
sinh khác
Chandrananimycins Actinomadura sp.M048
Kháng khuẩn, kháng
nấm, kháng ung thư
Caboxamycin
Streptomyces
sp.NTK937
Kháng tế bào ung thư
Butenolides
Streptoverticillium
luteoverticillatum

nghiên cứu lên men sản xuất chất kháng sinh từ vi sinh vật, người ta nhận thấy
glucose là nguồn cacbon thích hợp cho sự phát triển của xạ khuẩn nhưng lại là yếu
tố cản trở sự sinh kháng sinh [8, 25]. Các polysaccaride và oligosaccaride lại tốt hơn
cho sự sinh tổng hợp kháng sinh. Như vậy, tùy thuộc vào yêu cầu sử dụng của từng
giai đoạn mà lựa chọn thành phần cacbon trong môi trường lên men cho phù hợp.
Quá trình sinh tổng hợp chất kháng sinh từ xạ khuẩn cần cả nguồn nitơ vô cơ và
hữu cơ. Trong đó nguồn nitơ vô cơ cho khả năng sinh chất kháng sinh không cao,
còn nguồn nitơ hữu cơ lại có ảnh hưởng khá tốt đến khả năng này, do nó cung cấp
các nguồn acid amin quan trọng, dễ dàng đi vào chu trình tổng hợp để tạo thành sản
phẩm. Tùy vào từng chủng xạ khuẩn mà sử dụng nguồn nitơ vô cơ khác nhau như
các muối amoni, các muối nitrate: (NH
4
)
2
SO
4
, NaNO
3
, KNO
3
… hay các nguồn nitơ
hữu cơ: cao ngô, cao nấm men, bột đậu tương… [4, 15, 31].
Nguồn photpho vô cơ là yếu tố điều chỉnh quá trình sinh tổng hợp chất kháng
sinh từ xạ khuẩn. Nồng độ photphat thích hợp cho sinh tổng hợp phần lớn chất
kháng sinh không quá 10µg/ml [9]. Nồng độ photphat ban đầu cao sẽ làm tăng
lượng acid nucleic trong khuẩn ty xạ khuẩn, làm kéo dài pha sinh trưởng và rút
ngắn pha tổng hợp, làm tăng ATP trong tế bào dẫn đến làm giảm hoặc ngừng sinh
tổng hợp chất kháng sinh [8, 15].
Các chất khoáng cũng là yếu tố cần thiết cho quá trình sinh trưởng không chỉ
của vi sinh vật mà còn là yếu tố không thể thiếu của xạ khuẩn. Cần bổ sung các

hợp ra.Thông thường, lượng giống cấy truyền vào môi trường lên men để hiệu quả
nhất là từ 2-10%, tuổi giống thường là 24 giờ [16].
Công nghệ lên men: Trong sinh tổng hợp chất kháng sinh, phương pháp nuôi
cấy cũng là một trong những yếu tố quyết định. Có các hình thức lên men: lên men
bề mặt, lên men trên môi trường xốp, lên men chìm. Herold và ctv (1956) đã phát
triển công nghệ lên men chất kháng sinh trong điều kiện không vô trùng còn gọi là “
lên men phòng ngừa”. Chất kháng sinh lên men trên môi trường xốp làm thức ăn bổ
sung cho động vật nuôi [4].
1.2.6. Tình hình nghiên cứu về VSV biển sinh kháng sinh trong và ngoài nước
Hiện nay, vi sinh vật biển là đề tài quan trọng trong nhiều nghiên cứu mới về
vi sinh vật ở nhiều nước trên thế giới; đặc biệt là các đề tài tìm kiếm các chất có
Nguyễn Thị Phương Thảo_KSCNSH 0904 23
Khóa luận tốt nghiệp
hoạt tính sinh học từ vi sinh vật biển như các chất kháng khuẩn, kháng virus, kháng
tế bào ung thư, kháng nấm, chống đông hoặc là kháng trùng sốt rét… Những hợp
chất có hoạt tính này góp phần không nhỏ hạn chế hiện tượng kháng thuốc, trở
thành nguồn dược phẩm quan trọng để chữa bệnh trong tương lai, phát triển các sản
phẩm mới mang lại hiệu quả kinh tế cao.
M. Krishnaraj và N. Mathivanan (Ấn Độ-2009) đã phân lập được 137 chủng
xạ khuẩn có hoạt tính kháng vi sinh vật từ 40 địa điểm khác nhau ở vịnh Bengal.
Trong tất cả 137 chủng xạ khuẩn đều có khả năng kháng các vi khuẩn gây bệnh ở
người như Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Bacillus sp. và 10
chủng có khả năng kháng nấm Rhizoctonia solani và Fusarium oxysporum gây bệnh
ở thực vật [24].
Năm 2010, Rofiq Sunaryanto và Bambang Marwoto đã phân lập ở Anyer,
Banten (Indonesia) được 29 chủng vi khuẩn trong đó có một chủng A11 có đặc tính
kháng được các chủng vi khuẩn G- và G+ (E. coli, Staphylococcus aureus, P.
aeruginosa, B. subtilis). Bằng phương pháp giải trình tự gene 16S rRNA và so sánh
trình tự với dữ liệu của Genebank đã xác định được chủng A11 chính là xạ khuẩn
Streptomyces sp. Bằng phương pháp sắc ký đã tách được một hợp chất kháng sinh

;
pseudonocardian C công thức là C
21
H
24
O
8
N
2
[29].
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu vi sinh vật biển có khả năng sinh các chất có
hoạt tính đối kháng còn hạn chế, hầu như chưa có công trình khoa học có quy mô
lớn nghiên cứu các vi sinh vật và tách chiết các chất kháng sinh từ vi sinh vật biển.
Tác giả Lê Gia Hy và cộng sự làm việc tại Viện công nghệ sinh học đã phân
lập và nghiên cứu được đặc điểm của chủng vi khuẩn biển chủng HT0523 có nhiều
đặc điểm quý có thể khai thác trong nuôi trồng thủy sản. Vi khuẩn biển chủng
HT0523 chính là vi khuẩn Gram dương, sinh bào tử có khả năng ức chế mạnh cả 2
chủng vi sinh vật Vibrio gây bệnh cho tôm là V. parahaemolyticus và V. furnisii.
Chủng HT0523 có sức sống cao, có khả năng thích ứng rất tốt với điều kiện môi
trường dao động nhiều, phát triển tốt ở nồng độ NaCl 1-3%, pH thích hợp từ 7-9,
nhiệt độ từ 25-37
0
C. Chủng này phát triển tốt trên nguồn cacbon lactose và nguồn
nitơ vô cơ là KNO
3
đặc biệt là khi kết hợp với nguồn nitơ hữu cơ (pepton) thì mật
độ tế bào cao xấp xỉ hai lần [5].
Các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Nha Trang
đã tách được chất Fucoidan từ một số loài rong ở vùng biển Nha Trang-Khánh Hòa
như Sargassum polysystum, S. Oligosystum, S. mcclurei, S. swartzii, S.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status