SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC”
I. TÊN ĐỀ TÀI
ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC
II. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đến thời điểm này công nghệ thông tin (CNTT) đã và đang phát triển mạnh mẽ,
những tiện ích của nó ở tất cả các lĩnh vực đều đã được khẳng định. Hiện nay, ngành nào,
lĩnh vực nào cũng đang đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT để nâng cao chất lượng hoạt
động. Đối với Giáo dục, CNTT đã được ứng dụng rộng rãi ở các cấp học, bậc học trong
những năm gần đây.
Từ năm học 2007-2008 đến nay, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành là
đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT và phát triển nguồn nhân lực CNTT trong toàn ngành.
Thực hiện nhiệm vụ này, trong các năm qua, Phòng Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT)
thành phố Tam Kỳ đã chỉ đạo các trường tiểu học đẩy mạnh việc giảng dạy môn tin học
tự chọn; triển khai việc kết nối, truy cập, khai thác internet; sử dụng tốt các phần mềm
quản lý nhà trường và hệ thống thông tin quản lý giáo dục, cơ sở dữ liệu về học sinh, giáo
viên; tổ chức phổ biến và động viên cán bộ giáo viên tham gia học tập tin học, khai thác,
cập nhật thông tin, đóng góp cho mạng giáo dục các cấp, đặc biệt là cho website Phòng
GD&ĐT thành phố Tam Kỳ, xây dựng website của trường, tích cực ứng dụng CNTT vào
đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giờ dạy và hiệu quả giáo
dục.
Trường Tiểu học Trần Quốc Toản trong các năm qua đã có nhiều nỗ lực và đạt
được nhiều kết quả trong công tác ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học. Nhà trường
đã tham mưu với thành phố, thực hiện công tác xã hội hoá, đầu tư mua sắm được nhiều
trang thiết bị phục vụ cho công tác ứng dụng CNTT. Đã động viên nhiều cán bộ, giáo
viên, nhân viên tích cực học tin học và ứng dụng tin học trong việc thực hiện nhiệm vụ
chuyên môn và công tác giảng dạy.
Kết quả đạt được trong công tác này là 100% học sinh lớp 3, 4, 5 của trường được
hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2010-2011 có nội dung hướng dẫn về đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí và trong dạy học như sau:
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học cho cán bộ, giáo
viên và nhân viên (CBGVNV) trong nhà trường.
Khuyến khích sử dụng các phầm mềm quản lí học sinh, quản lý CBGV, quản lý thư
viện, quản lý tài chính đáp ứng yêu cầu quản lí chung của ngành
Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học. Khuyến khích giáo viên soạn giáo án
trên máy tính. Các giáo án điện tử cần được xây dựng theo hướng có sự tham gia của tổ
chuyên môn, của nhà trường và được sử dụng chung cho nhiều lớp. Tiếp tục thực hiện
phong trào sưu tầm, tuyển chọn tư liệu dạy học điện tử.
Công văn số 4973/BGD ĐT-CNTT ngày 18 tháng 8 năm 2010 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2010-2011 có một số nội
dung hướng dẫn như sau:
Mỗi cán bộ và giáo viên có ít nhất một địa chỉ e-mail của ngành, có tên dưới dạng
@tên-cơ-sở-giáo-dục.edu.vn, trong đó tên-cơ-sở-giáo-dục có thể là moet, tên sở, tên
phòng.
Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong trường phổ thông nhằm đổi mới phương
pháp dạy và học theo hướng giáo viên tự tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì học
trong môn tin học.
Triển khai mô hình máy tính nhân bản (một CPU nối nhiều màn hình và bàn phím)
nhằm tiết kiệm phí bản quyền phần mềm, phí bảo dưỡng phòng máy và tiết kiệm năng
lượng điện. Nghiên cứu sử dụng màn hình tivi plasma, LCD cỡ lớn (50-85 inch) trong
lớp học.
Mục VII trong Công văn số 388/HD-PGD&ĐT ngày 06 tháng 9 năm 2010 của
Phòng GD&ĐT thành phố Tam Kỳ về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2010-
2011 cấp tiểu học đã ghi rõ: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí và
dạy học với 5 nội dung sau:
Bồi dưỡng kĩ năng sử dụng vi tính cho cán bộ quản lí, giáo viên và nhân viên nhà
trường. Mỗi trường cần có giáo viên tin học làm nòng cốt trong việc bồi dưỡng và ứng
dụng công nghệ thông tin.
Thứ nhất là: Tuy đã tổ chức dạy tin học cho học sinh tại phòng tin học từ những
năm trước nhưng đến năm học 2009-2010 do trường được đầu tư giai đoạn 3 nên một số
phòng học phải tháo dỡ để xây dựng các phòng mới. Vì thế phòng tin học được dùng ưu
tiên cho phòng học của lớp và gần 20 máy được xếp cất ở phòng truyền thống. Học sinh
học tin học chỉ học lý thuyết chứ không được thực hành.
Thứ hai là: Theo quy định của Phòng GD&ĐT chậm nhất đến ngày 10/4/2010, tất
cả các trường tiểu học phải có trang web riêng. Đến thời điểm này, 11/13 trường tiểu học
đã xây dựng thành công trang web của trường, chỉ còn 02 đơn vị là Tiểu học Trần Quốc
Toản và Tiểu học Ngô Quyền chưa có. Lãnh đạo Phòng GD&ĐT đã nhắc nhở.
Thứ ba là: Số giáo viên, số tiết dạy thực hiện ứng dụng CNTT trong dạy được 27
tiết, so với trình độ đội ngũ và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường như thế là quá ít,
chỉ tập trung ở các tiết hội giảng còn bình thường rất ít giáo viên quan tâm đến công tác
này.
Số giáo viên có chứng chỉ tin học là trên 70% nhưng thực tế sử dụng thì rất hạn
chế, đa số còn lúng túng khi sử dụng máy tính, và gặp nhiều khó khăn trong sử dụng máy
chiếu Projector.
Thư viện nhà trường chưa thiết lập được kho tư liệu bài giảng dùng chung.
Với thực tiễn như trên, là người đứng đầu của đơn vị, tôi đã suy nghĩ tìm các biện
pháp khắc phục và nỗ lực thực hiện để đẩy mạnh công tác ứng dụng CNTT nhằm nâng
cao chất lượng dạy học trong toàn trường.
V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Nâng cao nhận thức trong CBGVNV về công tác ứng dụng CNTT
Xác định rằng tất cả các công việc muốn có thành công thì việc đầu tiên cần làm là
làm sao để tập thể CBGVNV nhận thức đúng về công việc mà họ sẽ thực hiện. Tôi đã
triển khai quán triệt lại trong hội đồng sư phạm (HĐSP) các văn bản của Bộ GD&ĐT,
Phòng GD&ĐT về những nội dung hướng dẫn và yêu cầu trong công tác ứng dụng
CNTT trong dạy học, trong giáo dục. Thông qua việc triển khai, thông qua các buổi sinh
hoạt chuyên môn, tôi phân tích thêm nhiều điểm tiện ích của máy tính, của bài giảng điện
tử để CBGVNV có nhận thức đầy đủ về công tác này. Trong tổng kết cuộc thi "Đồ dùng
dạy học (ĐD DH) tự làm và sản phẩm ứng dụng CNTT" của trường vào tháng 3 năm
viên hoàn toàn trong các bài giảng của giáo viên. Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số
bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là, với
những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương
pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho học sinh,
Vì vậy nhân tổng kết này tôi đề nghị các thầy cô giáo cần chú ý đến đặc trưng môn
học, nội dung của từng bài cụ thể để lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học phù
hợp. Và trong bất cứ hình thức dạy học nào người giáo viên cũng đều là nhân tố quyết
định sự thành công của tiết dạy, máy tính có hiện đại đến đâu cũng chỉ là những đồ dùng
dạy học tiện ích hỗ trợ giáo viên đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng chứ
không thể thay thế được vai trò của thầy cô giáo.
Bên cạnh đó tôi cũng giới thiệu về Thư viện trực tuyến violet, về website, tiện ích
của website để CBGVNV có nhận thức đầy đủ về công tác này.
2. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ
Muốn ứng dụng CNTT thì có đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị là điều kiện cần để
đảm bảo cho việc này được triển khai thực hiện, nếu không tất cả cũng chỉ là lý thuyết.
Xác định được vị trí của điều kiện cơ
sở vật chất, trang thiết bị có tầm
quan trọng có tính quyết định để
thực hiện được công tác ứng dụng
CNTT. Ngay từ khi bước về trường,
tôi đã quan tâm sắp xếp, bố trí cơ sở
vật chất phù hợp để khai thác tối đa
số trang thiết bị hiện có. Thấy rằng
gần 20 máy vi tính xếp cất mà học sinh thì không được thực hành trên máy tính. Tôi tự
thấy như thế là chưa phát huy hết tác dụng của các phương tiện dạy học. Tôi khảo sát
toàn bộ các phòng học, phòng làm việc hiện có của trường. Lúc này công trình 8 phòng
học mới vừa được bắt đầu xây dựng nên vẫn thiếu phòng. Sau khi suy tính, tôi quyết định
sử dụng phòng giáo viên ở khu hiệu bộ để làm phòng tin học dạy học sinh thực hành. Tuy
cũng có một số ý kiến nêu ra là sử dụng như vậy thì giáo viên không còn phòng họp, nghỉ
ngơi, xem lịch công tác hàng tuần, …. Rồi thì học sinh học ở khu hiệu bộ (vì phòng này ở
được nhận một Bảng tương tác thông minh như thế.
Với kế hoạch cụ thể, tranh thủ các nguồn lực, tôi đã đầu tư điều kiện CSVC, trang
thiết bị cần thiết đáp ứng cho công tác ứng dụng CNTT tại trường.
3. Phát huy năng lực đội ngũ, huy động sức mạnh tập thể tham gia vào công
tác này
Chúng ta đã biết rằng: Trong các nguồn lực của sự phát triển giáo dục (đội ngũ
CBGVNV, cơ sở vật chất - trang thiết bị, nguồn kinh phí hoạt động, truyền thống của đơn
vị, hiệu lực lãnh đạo quản lý) thì đội ngũ CBGVNV giữ vai trò quyết định. Một tập thể
đông sẽ là một tập thể mạnh nếu người lãnh đạo biết phát huy khả năng của các thành
viên trong tập thể.
Việc xây dựng trang web riêng cho trường là một việc rất khó: khó ở mặt kỹ thuật,
khó ở xây dựng nội dung, khó ở công tác duy trì hoạt động, … Với Trường Tiểu học
Trần Quốc Toản việc xây dựng trang web riêng đã được quan tâm, Lãnh đạo trường đã
yêu cầu các giáo viên tin học tập trung và sau đó giao việc trực tiếp cho một giáo viên tin
học từ tháng 9 năm 2009 và hạn định thời gian đầu tháng 03/2010 là ra mắt website của
trường. Tuy nhiên do nhiều lý do mà đến thời điểm đó, thầy giáo tin học vẫn chưa hoàn
thành nhiệm vụ. Khi về nhận nhiệm vụ tại trường, tôi đã làm việc với thầy giáo, tìm hiểu,
động viên và đồng thời cung cấp thêm một số ý tưởng để thầy tiếp tục nghiên cứu. Thế
nhưng sau một thời gian, thầy giáo báo cáo là vẫn chưa làm được. Bấy giờ đã là thời
điểm cuối tháng 4/2010. Tôi vô cùng lo lắng. Trước đó, một số bộ phận và Ban đại diện
Cha mẹ học sinh cũng đề xuất ý là thuê các nhà chuyên nghiệp để xây dựng website riêng
cho trường. Và đó là cách nhanh nhất để trường có thể hoàn thành nhiệm vụ này.
Tôi suy nghĩ và tìm biện pháp.
Thuê nhà chuyên nghiệp làm thì phải tốn kinh phí. Điều này, tôi thử trao đổi với
Ban đại diện Cha mẹ học sinh, Ban đại diện đồng tình hỗ trợ để nhà trường thực hiện
nhiệm vụ này. Như vậy là khó khăn về kinh phí được tháo dỡ. Tôi có phần đỡ lo hơn. Về
mặt nội dung, tôi tranh thủ sự góp ý của một số CBGV để phác thảo ra một giao diện ban
đầu của trang web, có phần ổn ổn. Thế nhưng tôi vẫn chưa quyết định mà tiếp tục suy
nghĩ: tôi tự đặt ra tình huống: thuê làm xong rồi, nội dung ban đầu là thế nhưng theo thực
tế của nhà trường, theo từng thời điểm mình muốn thay đổi nội dung thì sao? Lại phải
tài cùng bạn, sản phẩm của em, dành cho giáo viên, giới thiệu sách, sáng kiến kinh
nghiệm, bài giảng, hộp thư góp ý, … cùng các liên kết website, liên kết trang web về các
cuộc thi dành cho học sinh do các cấp phát động. (Phụ lục 3: Trang chủ weblog hiện
nay).
Như vậy là tôi cũng đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng weblog của trường Như đã
nói ở phần cơ sở thực tiễn. Hạn chế trong công tác ứng dụng CNTT tại trường còn là việc
ứng dụng CNTT trong giảng dạy của đội ngũ vẫn còn rất hạn chế, thư viện nhà trường
chưa thiết lập được kho tư liệu bài giảng dùng chung. Đây cũng là khó khăn đặt ra cho
hiệu trưởng. Trong khi phong trào ứng dụng CNTT đang được nhiều trường hưởng ứng
rất tích cực và đạt được những kết quả rất cao. Trường Tiểu học Trần Quốc Toản là
trường trọng điểm, có điều cơ sở vật chất (CSVC), thiết bị dạy học khá đầy đủ và đã từng
là đơn vị đầu tiên của thành phố Tam Kỳ tổ chức ứng dụng CNTT trong dạy học.
Thế nhưng thời điểm này, số giáo viên, số bài giảng điện tử còn quá hạn chế, chỉ có
27 bài giảng từ đầu năm học đến tháng 3/2010. Tôi tìm hiểu nguyên nhân từ các cô giáo
Phó Hiệu trưởng, từ các giáo viên thì được biết: số giáo viên tự thiết kế được bài giảng
điện tử chỉ có khoảng 10 cô, tự bắt máy và sử dụng máy chiếu khoảng 5 cô, số giáo viên
biết khai thác mạng violet để chia sẻ tư liệu giảng dạy cũng rất ít. Các cô trình bày là để
dạy ứng dụng CNTT khâu chuẩn bị phức tạp, xây dựng giáo án tốn nhiều công sức, việc
bắt máy, chuẩn bị màn hình vừa khó vừa nặng nhọc nên nhiều khi cũng không có đủ khả
năng và điều kiện để thực hiện công tác này.
Tôi hiểu và thông cảm với các thầy cô giáo. Vì thật ra, các thầy cô không chỉ có
một nhiệm vụ này mà còn có bao nhiêu việc phải lo khác nữa. Vì thế tôi vạch ra kế hoạch
để từng bước tháo gỡ khó khăn trong công tác này.
Đầu tiên, tôi cho thiết lập kho tư liệu bài giảng dùng chung trong trường bằng cách:
tôi tổ chức cuộc thi ĐDDH tự làm và trưng bày sản phẩm ứng dụng CNTT. Tại cuộc thi
này, tôi cho các tổ chuyên môn tập trung toàn bộ các bài giảng điện tử đã thực hiện từ các
năm học trước, mỗi tổ đánh bài giảng lưu vào đĩa CD và nộp cho ban giam khảo. Ban
giám khảo tổ chức chấm chọn xếp loại A, B, C và sau đó cho tập trung lưu trữ ở thư viện
trở thành kho tư liệu bài giảng dùng chung cho cả trường, không chỉ ở năm học này mà
dùng lâu dài cho các năm học sau. (Phụ lục 4: Tin và ảnh Hội thi ĐDDH tự làm và sản
dành 1 tiết để cho giáo viên tin học hướng dẫn cách sử dụng máy tính màn hình tivi, cách
diệt vi rút, cách sử dụng phòng.
Để tránh chồng chéo và ghi lại được kết quả sử dụng, tôi cho lập sổ đăng ký sử
dụng phòng CNTT. Mỗi giáo viên sử dụng phòng ứng dụng CNTT phải đăng ký sử dụng
trước từ 1 đến 2 tuần. (Phụ lục 7: Sổ đăng ký sử dụng phòng ứng dụng CNTT).
Thời gian hai tháng đầu, việc sử dụng khá trôi chảy. Nhưng sau đó, do lượng USB
gắn vào máy nhiều, phần mềm diệt vi rút cũng chưa hoàn chỉnh nên bắt đầu xuất hiện
những trở ngại. Tôi đã cho nối mạng cho cả 2 phòng ứng dụng CNTT và hướng dẫn cho
giáo viên cách sử dụng: giáo viên không sử dụng USB nữa mà gửi bài giảng qua email và
download bài giảng vào máy rồi sử dụng.
Để tránh tình trạng định kỳ giáo viên tin học phải dọn rác trên máy. Tôi quy định
mỗi tổ chuyên môn lập một floder, Mỗi floder của tổ chứa các floder của các thành viên
trong tổ. Khi giảng dạy xong giáo viên có thể lưu bài giảng vào floder của mình.
Ngoài ra, hầu như tất cả các hoạt động ngoại khoá được tổ chức dưới nhà đa năng,
tôi đều chỉ đạo thực hiện ứng dụng CNTT, như là: Giao lưu Olympic Tiếng Anh, Giao
lưu học sinh giỏi lớp 3, lớp 4, lớp 5, sinh hoạt chuyên đề, hội giảng, v. v.
VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Với những biện pháp đã thực hiện, tôi đã thu được nhiều kết quả hết sức khả quan:
1. Về thực hiện ứng dụng CNTT nâng cao chất lượng dạy học
Công tác này diễn ra tích cực ở tất cả các tổ chuyên môn, ở mỗi CBGVNV nhà
trường. Đặc biệt là đã kích thích được tất cả đội ngũ giáo viên quan tâm đến công tác này.
Giáo viên Mỹ thuật với tiết dạy ứng
dụng CNTT
Giáo viên Âm nhạc với tiết dạy ứng
dụng CNTT
Nếu như trong năm học 2009-2010 chỉ có khoảng 30 bài giảng ứng dụng CNTT
được thực hiện thì đến cuối học kỳ I năm học 2010-2011, toàn trường có trên 400 tiết dạy
có ứng dụng CNTT, chỉ trong tháng 3 năm 2011 toàn trường có 246 tiết dạy ứng dụng
CNTT. Nếu như ở năm trước chỉ có một vài giáo viên thực hiện thì đến nay gần 100%
giáo viên đã thực hiện. (Phụ lục 8: Bảng tổng hợp số tiết ứng dụng CNTT tháng 3/2011).
lục 10: Ảnh tên website đơn vị tiêu biểu trên trang chủ của Trung tâm học liệu mở Sở
GD&ĐT Quảng Nam).
Độc giả đến với weblog của trường không phải là hiếu kỳ mà là vào để lấy thông
tin. Lịch công tác tháng, tuần, thực đơn hàng tuần được đăng tải vào sáng thứ 2, đấy là
những thông tin cần thiết cho các bậc phụ huynh để năm bắt hoạt động của nhà trường,
của con em mình tại trường và phối hợp chăm sóc phù hợp. Chuyên mục "Thử tài cùng
bạn", "Giúp em tiến bộ", "Sản phẩm của em" cũng là những chuyên mục được các cô
giáo và CMHS xem và tải nhiều nhất. Ngoài ra, nhà trường cũng đăng tải thông tin
chung, thường xuyên viết bài về các hoạt động của nhà trường để thông tin đến các
bậcCMHS, Có thể nói giao diện của weblog đã đáp ứng cơ bản những mong muốn của
các bậc CMHS và các cô giáo của trường, làm cho công tác phối hợp giáo dục giữa gia
đình và nhà trường ngày càng tốt hơn. Qua hộp thư góp ý trên weblog, nhà trường cũng
đã thực thiện tốt hơn công tác xã hội hoá giáo dục.
3. Về phát huy năng lực của đội ngũ
Với 2 kết quả trên đã khẳng định kết quả trong công tác phát huy nội lực của nhà
trường nhất là năng lực đội ngũ. Một nhân viên y tế trở thành quản trị mạng của trường.
Và cô nhân viên này đã được tác giả NQT viết bài khen ngợi động viên trên website của
Phòng GD&ĐT thành phố Tam Kỳ. (Phụ lục 11: Bài viết “Cô giáo weblog!”). Có nhiều
cô giáo năm học đến sẽ nghỉ hưu nhưng vẫn say mê tự học để thực hiện được những bài
giảng ứng dụng CNTT chất lượng cho giáo viên trẻ học tập. 100% giáo viên đã thực hiện
dạy học ứng dụng CNTT. Nhiều CBGVNV đã bước đầu biết viết tin, bài, chụp ảnh để
đăng tải trên website của trường, của Phòng GD&ĐT.
Hiện nay, để sử dụng bảng tương tác thông minh mà Sở GD&ĐT Quảng Nam sẽ
cấp cho trường, tôi đã giao nhiệm vụ cho giáo viên tin học, quản trị mạng nghiên cứu
cách sử dụng và thiết kế hoạt động ngoại khoá về giáo dục an toàn giao thông. Khi nào
nhận được máy, chúng tôi sẽ tổ chức để học sinh được học ngoại khoá về giáo dục an
toàn giao thông với thiết bị hiện đại và giới thiệu với toàn hội đồng sư phạm, hướng dẫn
những tiện ích của loại thiết bị này để phát huy giá trị sử dụng trong thời gian tới.
Và cùng với 3 kết quả trên là kết quả về chất lượng học lực của học sinh nhà
trường. Học sinh luôn đạt kết quả cao qua các lần kiểm tra định kỳ và luôn đạt giải cao