PHẦN 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. Điều tra tình hình cơ bản
* Vị trí địa lý
Phú Thọ có tọa độ địa lý 20
O
55’ - 21
O
43’ vĩ độ Bắc, 104
O
48’ - 105
O
27’
kinh độ Đông, Bắc giáp Tuyên Quang, Nam giáp Hòa Bình, Đông giáp Vĩnh
Phúc và Hà Tây, Tây giáp Sơn La và Yên Bái. ở vị trí tiếp giáp giữa Đông
Bắc, đồng bằng sông Hồng, và Tây Bắc, là trung tâm tiểu vùng Tây - Đông
Bắc. Diện tích chiếm 1,2% diện tích cả nước và chiếm 5,4% diện tích vùng
miền núi phía Bắc.
Với vị trí “ngã ba sông”, cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội, cầu nối
các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Đông Bắc. Thành phố Việt
Trì là thủ phủ của tỉnh, được xác định là trung tâm kinh tế chính trị - kinh tế -
xã hội của vùng trung du Bắc Bộ, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 80km tính theo
đường ô tô và cách các tỉnh xung quanh từ 100km - 300km.
Diện tích đất tự nhiên 3.532 km
2
, trong đó diện tích đất nông nghiệp là
97.610 ha, đất rừng là 195.000 ha với 64.064 ha rừng tự nhiên, đất mặt nước
nuôi trồng thuỷ sản là 10.000 ha, các loại đất khác là 19.299 ha.
Huyện Lâm Thao có tọa độ 21
0
cảng Việt Trì trên Sông Lô, sông Hồng, cảng Yến Mao trên Sông Đà, cảng
Bãi Bằng trên Sông Lô lưu thông về cảng Hà Nội, Hải Phòng.
Các hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông từ các tỉnh phía Tây
Đông Bắc đều quy tụ về Phú Thọ rồi mới đi Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh,
thành phố khác trong cả nước, như: quốc lộ số 2 chạy từ Hà Nội qua Việt Trì đi
Tuyên Quang - Hà Giang sang Vân Nam - Trung Quốc (đây là tuyến nằm trong
hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh);
quốc lộ 70 xuất phát từ thị trấn Đoan Hùng đi Yên Bái - Lào Cai và cũng sang
Vân Nam - Trung Quốc, tuyến này đang được nâng cấp để trở thành con đường
chiến lược Hà Nội - Hải Phòng - Côn Minh (Trung Quốc); quốc lộ 32A nối Hà
Nội - Trung Hà - Sơn La, quốc lộ 32B Phú Thọ - Yên Bái với cầu Ngọc Tháp
qua sông Hồng tại thị xã Phú Thọ là một phần của đường Hồ Chí Minh, nhánh
32C thuộc hữu ngạn sông Hồng đi thành phố Yên Bái, là những yếu tố thuận
lợi để Phú Thọ giao lưu kinh tế với bên ngoài.
* Cơ cấu tổ chức quản lý của trung tâm
Chi cục thủy sản được thành lập ngày 31-12-2009, trên cơ sở sát nhập bộ
phận thủy sản thuộc phòng Chăn nuôi thủy sản và Trung tâm giống thủy sản.
2
Theo quyết định số: 4788/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ, bộ
máy chi cục gồm:
- Lãnh đạo chi cục;
- Phòng Hành chính- Tổng hợp;
- Phòng thanh tra và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Phòng Kỹ thuật;
- Trại giống cấp I.
* Tổng số cán bộ công nhân viên gồm: 22 người.
- Trong đó:
+ Công chức nhà nước : 12 người;
+ Viên chức sự nghiệp : 10 người;
- Thực hiện sản xuất các đối tượng giống thủy sản mới, giống thủy sản
có năng suất chất lượng cao.
Một số kết quả đạt được trong thời gian qua:
- Trong lĩnh vực quản lý nhà nước
+ Đã tiến hành xây dựng quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Phú Thọ
giai đoạn 2003-2010
+ Tiến hành chuẩn bị và đầu tư xây dựng trại sản xuất giống thủy sản
cấp I tỉnh Phú Thọ
+ Xây dựng quy trình kỹ thuật nuôi cho một số đối tượng thủy sản mới phù
hợp với đặc điểm của tỉnh Phú Thọ như: Kỹ thuật nuôi cá Rô phi đơn tính bằng
thức ăn tự chế; Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh trên 01 vụ lúa, 01 vụ tôm; Kỹ thuật
nuôi cá lăng chấm
+ Kiểm tra điều kiện các cơ sở sản xuất và nuôi ương giống thủy sản
trên địa bàn tỉnh
+ Xây dựng quy hoạch nuôi sản xuất vùng nuôi sản xuất hàng hóa
quy mô lớn.
- Trong lĩnh vực sự nghiệp thủy sản
+ Trong 03 năm qua, đã và đang tiến hành thực hiện các mô hình trình
diễn để nhân ra diện rộng. Trong đó chủ yếu là các đối tượng đã được khẳng
4
định có chất lượng vừa như cá rô phi đơn tính, cá chép lai V1. Hoàn chỉnh các
quy trình nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái tỉnh Phú Thọ.
+ Đã và đang tiến hành các đề tài nghiên cứu khoa học và tiếp nhận
chuyển giao công nghệ như:
- Tiếp nhận đề tài sinh sản và chuyển đổi giới tính rô phi đơn tính đực
- Đề tài sinh sản nhân tạo lai ghép cá chép lai V1 ấp nở trong bính vây
- Đề tài sinh sản nhân tạo cá lăng chấm.
- Đề tài sinh sản nhân tạo và nghiên cứu quy trình nuôi thương phẩm
cá anh vũ.
- Nghiên cứu một số đối tượng giống thủy sản mới nuôi khảo nghiệm
tra, tiêu thụ khắp trong và ngoài tỉnh, sản lượng hàng năm lên tới trên dưới
1.000 tấn.
1.1.3.2. Kh! khăn
Do điều kiện thời tiết thay đổi bất thường, lượng mưa phân bố không
đều, nhiệt độ chênh lệnh giữa hai mùa hè và mùa đông lớn gây khó khăn
trong công tác nuôi vỗ, cho đẻ, ương nuôi cá giống.
Bên cạnh đó trại sản xuất giống còn gặp khó khăn về nhân lực và về
vốn để phát triển. Chính sách phát triển thủy sản còn gặp nhiều khó khăn.
1.2. Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
Cải tạo ao A1, A2, A7, A8, B1, B7, ao sinh thái
Tham gia cho cá trắm đẻ
Tham gia cho cá Trôi đẻ
Thu trứng rô phi
Tạt vôi định kỳ cải tạo ao
Điều trị bệnh cho cá anh vũ
6
!"#
- Trực tiếp tham gia vào quá trình phục vụ sản xuất.
$%
Bảng 1.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc
Vệ sinh tu sửa ao Diện tích ao (m
2
)/ ao
1800
Hệ thống ao Số lượng các ao trong trại
7
Thời gian công tác cải tạo ao Thời gian (ngày)
14
trên, ngành thủy sản có một vị trí quan trọng đóng góp một phần rất lớn cho sự
phát triển kinh tế của nước nhà. Đặc biệt ngành thủy sản là một trong những
ngành mũi nhọn vì nước ta có hệ thống sông ngòi, ao, hồ dày đặc thuận lợi cho
ngành nuôi cá nước ngọt phát triển. Hàng năm ngành này đã cung cấp một lượng
lớn thực phẩm an toàn, giàu dinh dưỡng cho con người.
Trong nghề nuôi cá nước ngọt cá chép được biết đến bởi thịt thơm
ngon, hàm lượng dinh dưỡng cao, là thực phẩm an toàn với mọi người mọi
lứa tuổi. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thực phẩm được chế biến từ cá
chép lại càng được ưa chuộng vì thực phẩm chế biến từ gia súc gia cầm mặc
dù có giá trị dinh dưỡng cao nhưng hệ số an toàn ngày càng giảm do dịch
bệnh: cúm gia cầm, lở mồm long móng… diễn ra ngày càng phức tạp khó
kiểm soát.
Để tăng năng suất, chất lượng dinh dưỡng và giá trị kinh tế của cá chép
viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản đã lai tạo ra cá chép lai 3 máu mang
nhiều ưu điểm quý nuôi mau lớn, thịt thơm ngon và có giá trị trên thị trường.
Vì vậy để đáp ứng nhu cầu con giống của thị trường ngày càng tăng cả về số
lượng, chất lượng, các trung tâm giống thủy sản tiến hành lai tạo và sản xuất
giống cá chép lai 3 máu. Được sự đồng ý của trường đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, trại sản xuất giống cấp I thuộc chi cục thủy sản Phú Thọ, tôi tiến
hành: "+,-.%/0,12345'6-3
0317:/ ;+<=
8
- Mục tiêu chuyên đề nghiên cứu cần đạt được
+ Rèn luyện tay nghề nâng cao kinh nghiệm thực tiễn
+ Hiểu được quy trình sản xuất giống nhân tạo chép lai 3 máu.
2.2. Tổng quan tài liệu
9">46<
* Hệ thống phân loại ( Theo Linaeus,1758)
Giới động vật: Aniamalia
Ngành động vật có xương sống: Vertebrata
bộ, ở Miền Nam không có cá chép địa phương mà nhập vào nuôi cá chép có
nguồn gốc từ Bắc Bộ. Cá chép sống được ở hầu hết các thuỷ vực nước ngọt
như: ao, hồ, đầm, ruộng, sông, suối ở tầng giữa và tầng đáy, ở giới hạn nhiệt
độ từ 0- 40
0
C, nhiệt độ thích hợp là khoảng t
0
= 20-27
0
C, hàm lượng Oxy cực
tiểu cho phép 2mg/lít, pH = 4-9. Cá sống ở nước ngọt, đôi khi cũng thấy ở cả
vùng nước lợ có nồng độ muối < 14 ‰ (Duy Khoát, 2003).[4]
* Đặc điểm cấu tạo hình thái
Cá chép có thân hình nhẵn bóng, vẩy to tròn, thường có màu trắng bạc
hơi pha màu vàng, vây, đuôi pha màu đỏ, có hai đôi râu. Do quá trình chọn
lọc và lai tạo nên hiện nay có nhiều giống cá chép khác nhau. Ở nước ta
thường thấy có 6 loại hình cá chép: cá chép Trắng, cá chép Đỏ, cá chép Kính,
cá chép Cẩm, cá chép Bắc cạn, cá chép Gù. Nói chung màu sắc cá chép thay
đổi tuỳ theo điều kiện sống.
Cá chép Miền Bắc (C.carpio) có đặc điểm cấu tạo như sau:
- Công thức vẩy đường bên: 30-35 vẩy đường bên, có 6-8 vẩy trên
đường bên và 6-7 dưới đường bên.
- Công thức vây D
III- IV- 20- 22
; A
II- III- 5- 6
- Công thức răng hầu II3- 3II đôi khi I23- 32I
Hiện nay cá chép có thân cao nhất là dạng cá chép Vẩy và cá chép Trần
Ukraina được chọn lọc và lai tạo có thể đạt tỷ lệ kỷ lục về chiều dài/ chiều cao
L/H = 2.05 so với cá chép khác là 4.0 - 4.3.
Cá chép thành thục trong ao, hồ, ruộng, sông suối vào mùa mưa thường
ngược dòng nước tới bãi cỏ hoặc nơi có thực vật thuỷ sinh thượng đẳng khác
để đẻ trứng. Trứng cá chép dính vào cây cỏ, cây thuỷ sinh ở dưới nước một
thời gian rồi phát triển thành cá bột. Cá chép thường đẻ vào sáng sớm, lúc mặt
trời còn chưa mọc có khi kéo dài đến 8-9h sáng hoặc đến trưa. Điều kiện thích
hợp để cho cá chép đẻ là có nước mới, có mặt cá đực, t
0
môi trường
= 20 - 30
0
, có
gió thổi. Đó là vào khi thời tiết ấm dần lên, đồng thời có mưa, có sấm đầu
mùa cá chép thường tập trung đi đẻ (Duy Khoát, 2003).[4]
* Ảnh hưởng của điều kiện môi trường đến quá trình cho đẻ
Ở ngoài tự nhiên, cá đã thành thục chỉ có thể rụng trứng và đẻ trứng khi
các điều kiện sinh thái thích hợp như nhiệt độ, dòng nước, nguồn nước mới
11
Những điều kiện ngoại cảnh đó có thể xem là điều kiện tuyệt đối cần thiết với
sự sinh sản của cá ngoài tự nhiên. Và trong sinh sản nhân tạo thì các yếu tố
như nhiệt độ, pH, oxy hòa tan là các yếu tố sinh thái có ảnh hưởng lớn đến
hoạt động đẻ trứng của cá. Các điều kiện này không phù hợp cá sẽ không đẻ
được. Nhưng cũng có một số điều kiện sinh thái khác như dòng nước chảy,
mức nước thay đổi không hoàn toàn cần thiết trong sinh sản nhân tạo. Điều
này có nghĩa là trong trường hợp sinh sản nhân tạo, điều kiện sinh thái không
phải tuyệt đối cần thiết nhưng tùy mức độ nào đó vẫn có ảnh hưởng đến hiệu
quả của công việc sinh sản cá trong ao. Vì thế tại cơ sở sản xuất, nếu có điều
kiện thì nên tìm cách tận dụng các điều kiện sinh thái để nâng cao tỷ lệ đẻ của
cá bố mẹ và tỷ lệ thụ tinh của trứng. Chất kích thích sinh sản có tác dụng quan
trọng đối với sinh sản nhân tạo cá, nhưng cũng không nên vì thế mà coi nhẹ
yếu tố sinh thái.
thấp quá mức hay quá cao sẽ ức chế cá bố mẹ đẻ trứng. pH < 5 và pH > 9 cá
không đẻ trứng hoặc có đẻ nhưng hiệu quả sẽ không cao. Khi cá đang đẻ, nếu
trời mưa nước ở trên bờ chảy vào bể, làm pH giảm dẫn đến hiện tượng cá bố
mẹ ngừng đẻ. Tốt nhất là trong bể đẻ trứng cần đảm bảo pH từ 7-8.
Bên cạnh đó cần lưu ý đến tác hại của các yếu tố kim loại nặng. Nếu
dùng nước giếng khoan để ương ấp sẽ không tốt vì trong nước có nhiều Ion
sắt, nhôm.
Chất lượng nước gồm các yếu tố tổng hợp trong môi trường nước mà ta
sử dụng cho cá đẻ. Do vậy trong kĩ thuật cho cá đẻ cần quan tâm điều khiển tới
các yếu tố sinh thái sao cho phù hợp với nhu cầu sinh thái đẻ trứng của cá để có
kết quả tốt nhất.
- Mức nước và dòng chảy
Dòng chảy ảnh hưởng tới lượng oxy trong bể. Nếu thiếu oxy sẽ làm cho
quá trình đẻ bị ngắt quãng và trứng bị hỏng
- Yếu tố đực cái
Ở ngoài sông hồ tự nhiên cá cái chỉ có khả năng rụng trứng và đẻ khi
có mặt cá đực. Trong điều kiện sinh sản nhân tạo, cá đực vẫn có tác dụng thúc
đẩy cá cái đẻ trứng. Nhưng cho cá đẻ bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo,
yếu tố cá đực không quan trọng, sự có mặt của cá đực không ảnh hướng lớn
tới sự thành thục rụng trứng của cá cái nhưng vẫn tác dụng nhất định đến sự
động hớn và đẻ trứng.
* Sử dụng kích dục tố
Lý thuyết về kích dục tố
Khi tuyến sinh dục của các loài cá nuôi đã đạt được mức độ thành thục
hoàn toàn, trứng chín thì sẽ diễn ra hai quá trình tiếp theo, đó là rụng trứng và
đẻ trứng.
13
Theo Sakem và ctv (1975), khi tế bào trứng đã phát dục thành thục và
tách khỏi màng follicle rơi vào xoang buồng trứng gọi là quá trình rụng trứng.
Tuyến sinh
dục
Hướng tác động:
Hướng phản hồi ngược
lại:
Hormone) và LH - RHA (Luteotropin Releasing Hormoned Ala Analog).
Theo các nhà khoa học Trung Quốc, hormone này là một decapeptid gồm
những acidamin như: Glutamine, Histidine, Trytophan, Serine, Tyrosine,
Glycine, Leucine, Arginine, Proline và Lyzine.
LH-RHa được chiết xuất từ hormon sinh dục các loài động vật. Chúng
có nhiều nhiều nhóm tương tự : LH-RHa
1
, LH-RHa
2
, LH-RHa
3
. Sau khi tiêm
LH - RHA cho cá chép thì hàm lượng kích dục tố trong máu tăng lên.
DOM
Trong tuyến yên của cá, ngoài các hormone sinh dục, còn tiết ra một
chất quan trọng khác có tác dụng ức chế quá trình tiết kích dục tố cơ bản (sản
ra kích dục tố tự phát) mà còn ức chế cả sự tiết kích dục tố dưới ảnh hưởng
của LH - GHA, đó là chất Dophamin. Để làm giảm tác dụng của chất ức chế,
người ta tiêm thêm chất kháng Dopamin là Doperidom (DOM).
* Đặc điểm sinh trưởng của cá chép
Sinh trưởng của sinh vật là quá trình liên tục nhưng với tốc độ khác nhau
trong suốt quá trình sống. Sinh trưởng của cá có sự khác biệt rõ rệt với các
động vật máu nóng. Ở động vật máu nóng sinh trưởng chỉ tiếp tục khi đã chín
mùi sinh dục về mặt sinh lý học, sau đó sinh trưởng chậm lại và có sự thoái hoá
khi cơ thể bước vào thời kỳ già cỗi. Trong khi đó chúng ta luôn thấy được sự
C (Bulton, 1995)[11]
+ pH
Cũng như các loài cá nước ngọt khác cá Chép có thể chịu đựng
khoảng pH 5,5-9,0. Mặc dù thích nghi với khoảng pH rộng nhưng sự phát
triển của cá sẽ giảm đi rõ rệt bởi môi trường pH là axit hay kiềm. Khi pH
thay đổi làm thay đổi cân bằng hoá học trong nước, gián tiếp làm ảnh hưởng
tới đời sống của cá. Khoảng pH thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển
của các Chép là 7,0-7,5 (Bulton, 1995) [6]
+ Oxy hoà tan
Trong thuỷ vực cá Chép hoạt động ở mọi tầng nước, nhanh nhẹn thích sống
ở nơi nước mới và ngược dòng, ưa sống nơi thoáng đãng, nơi có hàm lượng oxy
hoà tan 3-8mgO
2
/l. Tuy nhiên, cá vẫn sống ở ao tù bẩn, nơi có hàm lượng oxy thấp.
Môi trường có hàm lượng oxy thấp thì tốc độ sinh trưởng phát triển chậm (Nguyễn
Thị Phương Thảo, 1996)[4]
+ Các yếu tố thủy lý thủy hoá khác
Cá Chép có khả năng chống chịu với môi trường khắc nghiệt cao hơn các
loài cá khác. Tuy nhiên cá Chép vẫn ưa môi trường thoáng sạch, không bị ô nhiễm,
nước ao có màu xanh nõn chuối. Ngoài ra còn có một số yếu tố thủy lý thủy hoá
ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của cá như: hàm lượng CO
2
dao động từ 3-
10mg/l, hàm lượng NH
4
<1mg/l, hàm lượng tổng số <0,2mg/l, hàm lượng
PO
4
<0,5mg/l, hàm lượng hữu cơ khoảng 10-20mg/l (Nguyen Duy Hoan, 2006)[3]
9/1(
kiện thuận lợi sẽ gây bệnh cho cá. Vì vậy cần quản lý tốt nguồn nước, con giống,
thức ăn và các nguồn khác là nguyên nhân lây lan, truyền bệnh để hạn chế thiệt hại
của chúng gây ra (Bùi Quang Tề, 2003)[ 9]
* Yếu tố dinh dưỡng
Trong quá trình nuôi thì yếu tố dinh dưỡng quyết định hiệu quả, năng suất
sản phẩm. Lượng thức ăn và hàm lượng dinh dưỡng đầy đủ sẽ thu được hiệu quả
17
cao, khi thức ăn thiếu và hàm lượng dinh dưỡng không hợp lý thì cá sẽ chậm lớn và
tỷ lệ sống không cao.
* Bản chất di truyền của cá thể tác động tới sự tăng trưởng phát
triển của cá Chép
Bản chất di truyền của loài có ảnh hưởng tới tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng
của cá.
Với các Chép lai nuôi một năm có thể đạt trọng lượng 1-1,5kg/con. Trong
khi các Chép nội Việt Nam đạt 0,35-0,5kg/con (Bài giảng các hệ thống canh tác cá
nước ngọt, Trần Đình Luân)[5 ]
E#55F
2.2.2.1 Nguồn gốc về cá chép V
1
Theo Trần Mai Thiên và Cộng tác viên (1987)[8] với mục tiêu tổng hợp
được một số đặc tính tốt của một số loại hình cá chép gốc vào con lai và tăng mức
độ biến dị của chúng để làm vật liệu ban đầu cho chọn giống, Trần Mai Thiên đã
tiến hành lai cá chép trắng Việt Nam, cá chép Vẩy Hungary, cá chép Vàng
Indonexia với nhau. Từ ba dòng cá chép với tỷ lệ di truyền khác nhau này đã được
dùng làm vật liệu khởi đầu cho việc lai tạo và tái sản xuất từng dòng, đồng thời tiến
hành bình tuyển hàng loạt qua 4 thế hệ (Phạm Mạnh Tưởng,1979)[7]
Cá chép V
1
là tổ hợp lai của ba giống cá chép là cá chép Trắng Việt Nam, Cá
H
18
Trong đó:
Cá chép Trắng Việt Nam (V)
Cá chép Vẩy Hungary (H)
Cá chép Vàng Indonexia (V
I
)
Sau đây là một số công thức lai tạo và chọn lọc ra giống cá Chép V
1
ở
một số cơ quan nghiên cứu thuỷ sản. Được trình bày ở bảng 2.1.
Bảng 2.1: Dẫn liệu về chọn lọc hàng loạt các dòng chép lai qua các thế hệ
Năm, thế
hệ, địa
điểm
Dòng
Mẫu thí
nghiệm
(con)
Khối
lượng (g)
Chỉ số chọn lọc
Độ nghiêm
ngặt (V%)
Cường độ
i =s /
δ
Vi phân
S, g
2
Viện I
Hx (V
I
xV)
Vx (V
I
xH)
V
I
x (VxH)
248
258
253
125± 7
104± 5
148± 9
10,1
9,7
9,9
1,76
2,03
1,6
117
177
164
1989
F
3
Viện I
xV)
Vx (V
I
xH)
V
I
x (VxH)
200
209
189
260± 6
197± 5
299± 6
20
19,1
25,9
1,26
1,75
1,24
74
124
47
1993
F
5
Viện I
Hx (V
I
xV)
Vx (V
V
I
x (VxH)
257
263
243
226± 10
300± 14
318± 11
19,5
20,9
22,6
1,39
1,06
1,44
85
101
114
1995
F
6
Đang nuôi giống và chọn lọc
(Trần Mai Thiên, 1995)[ ]
2.2.2.2 Đặc điểm của cá chép lai V
1
Cá chép lai V
1
được tạo ra từ 3 loại hình cá chép thuần chủng, dùng để
thu con lai kép có những đặc điểm khác nhau rõ rệt. Cá chép Trắng Việt Nam
thích nghi với các điều kiện sống ở các địa phương có sức sống cao, kháng
x ♂
V
♀
H
x ♂
(V1 x V)
♀
V
x ♂
(V1x H)
♀
V1
x ♂
(Vx H)
1 Khối lượng thân (g) 260 ± 11 270 ± 10 196 ± 5 227 ± 7,2
2 Chiều dài thân/L
0
(cm) 20,6±0,31 19,7±0,22 18,3±0,17 19,9±0,35
3 Chiều cao thân
Max
(cm) 32,6±0,27 37,9±0,24 34,2±,0,22 34,2±0,32
4 Chiều cao thân
Min
(cm) 13,6±0,14 14,0±0,17 16,2±0,08 14,0±0,10
5 Chiều dài gốc D (cm) 39,2±0,32 38,3±0,31 39,8±0,10 39,6±,0,33
6 Chiều dài gốc H (cm) 8,4±0,09 10,0±0,10 10,0±0,10 10,1±,010
7 Chiều cao P (cm) 18,7±0,14 19,8±0,09 19,8±0,15 19,5±0,19
8 Chiều cao V (cm) 17,7±0,08 18,5±0,16 17,6±0,08 17,9±0,18
9 Chiều dài ruột (cm) 203±2,4 243±2,2 193±1,9 200±2,6
10 Số vẩy đường bên (cm) 34,2±0,60 35,0±0,24 34,2±0,2 34,2±0,24
x ♂
(V1x H)
0,64 - 0,96 39 - 41 3,0 - 1 18,00
♀
V1
x ♂
(Vx H)
0,64 - 0,96 38,5 - 40 3,0 - 1 18,64
+,,G0D#04!D
HTình hình nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay trên thế giới có hàng trăm đối tượng thuỷ sản được nuôi
trồng. Nuôi trồng thuỷ sản ở cả ba môi trường: ngọt, lợ, mặn. Trong nhóm
đối tượng nuôi nước ngọt, nhóm cá chép đặc biệt là cá chép Trung Quốc và
Ấn Độ được nuôi phổ biến ở hầu khắp các châu lục. Nhóm này có sản lượng
lớn nhất và có tốc độ phát triển nhanh nhất so với các đối tượng nuôi nước
ngọt khác. Năm 1991 sản lượng nhóm này chỉ đạt 5.636.389 tấn với giá trị
7223 tỷ USD, nhưng đến năm 2000 sản lượng tăng lên 15.451.646 tấn với
giá trị 14.778 tỷ USD gấp 2.8 lần và đến cuối năm 2002 con số đo tăng lên
là 16.692.147 tấn với giá trị 14.754 tỷ USD (Bạch Thị Tuyết;Vũ Khánh Hải,
2003)[ ].
Ở Châu Âu cá chép (Cyprinus carpiolis) được nuôi phổ biến ở các trại
cá nước ấm. Từ những năm 1970 các nhà di truyền và chọn giống người
Hungary đã tạo ra nhiều dòng và các con lai phục vụ cho nuôi cá nước ấm. Cá
chép được nuôi theo phương thức thâm canh, có dùng thức ăn và nuôi trong
ao nuôi có mức độ thâm canh khác nhau. Các tiêu chí được cân nhắc chính
trong chọn giống là: tính ổn định của dòng cá, khả năng sinh trưởng và khả
năng chống chịu bệnh, hệ số sử dụng thức ăn… ngoài ra một số đặc điểm về
hình dáng cơ thể, gù lưng, ngắn đuôi cũng được quan tâm đến việc chọn tạo
giống cá chép nuôi trong môi trường nước ấm.
21
viên công bố năm 1987. Từ 1986 bắt đầu quá trình chọn giống. Dựa vào cơ sở
vật chất kỹ thuật nuôi cá ở Việt Nam và tài liệu nghiên cứu chọn giống cá
chép, cá Hồi, cá Rô phi,… của nước ngoài các tác giả đưa ra giải pháp tối ưu
22
là phương pháp lai tạo tổng hợp ban đầu và tiếp đến sử dụng chọn lọc hàng
loạt dựa theo các tiêu chí về ngoại hình cá chép (Trần Mai Thiên, 1995).[8 ]
2.3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
1!I#3-G
Đàn cá chép lai 3 máu đã qua chọn giống tại trại sản xuất giống cấp I
thuộc chi cục thủy sản Phú Thọ
)6B #C6#
* Địa điểm
Tại trại sản xuất giống cấp I thuộc chi cục thủy sản Phú Thọ
* Thời gian tiến hành
Từ 14-02-2011 đến ngày 31- 07-2011
G#JK4L
Tìm hiểu quy trình sản xuất giống cá chép lai 3 máu tại trại sản xuất
giống cấp I thuộc chi cục thủy sản Phú Thọ
* Quy trình nuôi vỗ cá bố mẹ
* Quy trình sinh sản nhân tạo
* Quy trình ương nuôi cá chép V1 giai đoạn từ cá bột lên hương
9">(&06M)#495
a) Cơ sở vật chất, trang thiết bị
Mương dẫn nước có độ dốc cao.
Hệ thống bể: hệ thống bể chứa lọc nước để cung cấp vào bể đẻ và bể ấp.
Bể ấp ,bể đẻ.
Ao nuôi vỗ cá bố mẹ.
Ao ương cá giống.
b) Dụng cụ phục vụ sinh sản cho cá Chép
Vợt lọc nước để lấy cá bột sau khi đẻ
Lòng đỏ
tr ngứ
2 ng y sauà
Ra aoC i t o aoả ạ
Cá bố mẹ trong ao nuôi vỗ
Kéo bắt cá, thăm trứng và sẹ, cân trọng lượng
Mang vào bể đẻ (Thả riêng đực và cái)
Pha
kích dục
tố
Tiêm kích dục tố và thả vào bể đẻ Thả bèo
Khoảng 10 tiếng sau tiêm
Cá đẻ trứng dính vào giá thể
Vớt bèo – Bắt cá ra ao nuôi vỗ trở lại – Thả bèo trở lại
Ấp trứng (Trứng bám vào giá thể)
1 ng y sauà
Trứng bắt đầu nở
2 ng y sauà
Cá bột (trứng đã nở hoàn toàn)
Lòng đỏ
trứng
2 ng y sauà
Ra ao
Cải tạo ao
Ương cá bột lên cá hương
Ương cá hương lên cá giống
Quản lý,
chăm sóc
Thức ăn,
Ao nuôi cá bố mẹ nhiều bùn hoặc nhiều cặn bã do phân bón và thức ăn
thừa tích tụ của năm trước cần phải dọn sạch sẽ trước khi thả cá.
Xung quanh bờ ao có nhiều hang hốc là nơi trú ngụ của rắn, ếch nhái,
chuột… ngoài ra còn nhiều thực vật bậc cao cũng là nơi trú ngụ của các địch
hại của cá và là nơi dễ lây nhiễm cho ao. Vì vậy trước khi đưa cá bố mẹ vào
ao nuôi vỗ cần phải: cắt hết cỏ dại, lấp các hang hốc xung quanh ao.
Tát cạn ao, vét bùn nếu bùn dày để lại một lớp bùn dày 15-20cm
25