Đánh giá khả năng sinh sản và bệnh tiêu chảy PED trên đàn lợn ngoại nuôi theo hình thức công nghiệp tại công ty TNHH một thành viên Chăn nuôi Việt Hưng - Sơn Tây - Hà Nội’’ - Pdf 26

Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, đặc biệt khi nước ta bắt đầu hội nhập vào
WTO, nền kinh tế có nhiều thay đổi cả về lượng và chất. Nhiều thách thức, cơ
hội được đặt ra, không nằm ngoài xu thế ngành nông nghiệp nói chung và
ngành chăn nuôi nói riêng chịu nhiều thay đổi rõ rệt trong đó có ngành chăn
nuôi lợn.
Chăn nuôi lợn manh mún, hộ gia đình với số đầu con ít sẽ ngày càng bị
thu hẹp do không có được đầu ra cho sản phẩm, chi phí lớn và chịu biến động
nhiều về giá sản phẩm, giá vật tư Xu thế tất yếu là phải tiến lên chăn nuôi
trang trại, quy mô công nghiệp. Các giống nội với năng suất kém cũng đã
được thay thế bằng các giống ngoại với chất lượng cao hơn hẳn, có ưu thế
cao, nhằm lạc hoá giống lơn Việt Nam như: yorkshire, landrace, duroc, pidu
Chăn nuôi trang trại quy mô công nghiệp, chăn nuôi các giống ngoại
chất lượng cao cũng đặt ra nhiều thách thức đó là vấn đề dịch bệnh có tính
chất lây lan mạnh, vấn đề phòng bệnh, khống chế dịch bệnh, việc tìm hiểu sâu
hơn và kĩ càng hơn về các đặc tính sinh sản của các giống ngoại mới, đây
cũng là việc cần phải xem xét.
Do những vấn đề cấp thiết đó, trong thời gian thực tập tốt nghiệp chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Đánh giá khả năng sinh sản và bệnh tiêu chảy PED trên đàn lợn
ngoại nuôi theo hình thức công nghiệp tại công ty TNHH một thành viên
Chăn nuôi Việt Hưng - Sơn Tây - Hà Nội’’
1
1.2. MỤC ĐÍCH
- Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại nuôi theo hình thức
công nghiệp tại công ty TNHH một thành viên Chăn nuôi Việt Hưng – Xã Kim
Sơn – Thị xã Sơn Tây - Hà Nội.
- Khảo sát bệnh tiêu chảy PED trên đàn lợn của công ty và đưa ra biện
pháp khống chế bệnh.

chúng ta có các biện pháp khắc phục nhằm nâng cao năng suất sinh sản.
2.1.2. Đặc điểm sự thành thục về tính ở lợn cái
Sinh sản là một quá trình sinh lý cơ bản và quan trọng nhất của gia súc
trong việc duy trì nòi giống. Ở gia súc khi có sự kết hợp giữa giao tử đực và
giao tử cái để tạo thành hợp tử, cũng có nghĩa là tạo thành một cá thể mới.
Hoạt tính sinh dục của gia súc chưa được biểu hiện khi còn là bào thai và cả
ngay khi mới sinh ra. Sự biểu hiện về giới tính chỉ được thể hiện rõ ràng khi
gia súc thành thục về tính, cơ thể có những biến đổi sinh lý.
Lúc này các cơ quan sinh dục như buồng trứng, tuyến sữa, âm đạo của
con cái được phát triển khá hoàn chỉnh và có khả năng sinh trứng. Ở con đực
tuyến sinh dục phát triển như dịch hoàn, dịch hoàn phụ, ống sinh tinh, bầu
dịch hoàn và các tuyến sinh dục phụ như tuyến tinh nang, tuyến cowper, tiền
liệt tuyến, tuyến củ hành. Ở lợn đực có phản xạ sinh dục (nhảy). Song song
với quá trình trên thì các đặc điểm sinh dục phụ cũng xuất hiện như gà trống
biết gáy, mọc cựa. Sinh lý gia súc (1996) [5].
Sự thành thục về tính của gia súc được đặc trưng bởi hàng loạt những
thay đổi bên trong lẫn bên ngoài cơ thể, đặc biệt là sự thay đổi bên trong cơ
quan sinh dục. Cùng với sự biến đổi bên trong cơ quan sinh dục là sự biến đổi
bên ngoài mang tính chất qui luật, nó đặc trưng cho từng loài gia súc. Sự
thành thục về tính có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình sinh sản, gia súc chỉ có
thể bước vào giai đoạn sinh sản khi đã có sự thành thục về tính, tùy theo các
gia súc khác nhau mà có sự thành thục về tính khác nhau. Tuổi thành thục về
tính của lợn vào khoảng 6 tháng, dao động trong khoảng 5 – 8 tháng.
Sự thành thục về tính sớm hơn sự thành thục về thể vóc. Bởi vậy để
đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể mẹ bình thường, đảm bảo cho
sự phát triển con giống về sau nên cho gia súc phối giống khi đã phát triển về
4
tính và thể vóc. Thông thường với lợn nái hậu bị tuổi phối giống lần đầu là
khoảng 8 tháng tuổi, tuy nhiên không nên phối giống quá sớm khi cơ thể mẹ
chưa được thành thục về thể vóc nó sẻ ảnh hưởng xấu như: trong thời gian có

dục tố sinh dục, từ đó làm chậm quá trình phát triển về tính của gia súc.
Ngược lại dinh dưỡng quá thừa cũng làm chậm lại sự thành thục về tính đó là
do sự tích lũy về mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục, làm giảm
các chức năng bình thường của chúng.
Vì vậy một chế độ nuôi dưỡng với khẩu phần ăn hợp lý có một ý nghĩa
lớn đối với sự thành thục về tính của gia súc và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
2.1.3.3. Ảnh hưởng của mùa vụ và thời gian chiếu sáng đến tuổi thành
thục về tính dục
Nhiệt độ môi trường cao gây trở ngại cho sự biểu hiện chịu đực, do
nhiệt độ cao làm giảm khả năng thu nhận thức ăn, làm giảm sự trao đổi chất từ
đó ảnh hưởng đến tỷ lệ rụng trứng và thải trứng của lợn nái hậu bị, mặt khác
yếu tố nhiệt độ cũng gây stress cho lợn nái nên làm giảm các phản xạ sinh dục,
biểu hiện chịu đực. Ngược lại nhiệt độ quá thấp cũng ảnh hưởng đến tuổi thành
thục về tính do vấn đề stress nhiệt. Tóm lai tất cả những yếu tố làm cho con vật
stress đều có thể ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính của gia súc.
Thời kỳ chiếu sáng cũng như là một thành phần của mùa vụ, bóng tối
hoàn toàn làm chậm thành thục so với những biến đổi của ánh sáng tự nhiên
hay nhân tạo.
2.1.3.4. Ảnh hưởng của việc nuôi nhốt đến tính phát dục
Mật độ nuôi nhốt đông, trên một diện tích nhỏ trong một thời gian kéo
dài sẽ làm kéo dài tuổi động dục. Mật độ nuôi nhốt thích hợp đối với lợn nái
hậu bị là 2m
2
/nái, không nuôi nhốt quá 10 nái/ô chuồng vì ảnh hưởng đến quá
6
trình theo dõi, phát hiện động dục, mặt khác mật độ nuôi nhốt với mật độ quá
dày làm ảnh hưởng đến tiểu khí hậu chuồng nuôi, hàm lượng khí NH
3
, H
2

quan sinh dục ngoài là do những thay đổi xẩy ra bên trong. Buồng trứng có
một số noãn bao phát triển từ đường kính 4 mm lên đến 8 – 12 mm và một số
thoái hóa đi, đường kính chỉ còn 1-2mm, lúc này thể vàng của chu kỳ động
dục trước đường kính 9mm teo dần chỉ còn 7 mm và tiếp tục teo biến đi.
Niêm mạc đường sinh dục tăng sinh nhiều lớp tế bào, trong niêm mạc tử cung
xuất hiện nhiều lớp tế bào bị thoái hóa.
2.2.2.2. Giai đoạn động dục
Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày. Trong giai đoạn động dục, hoạt
động sinh dục của con cái mãnh liệt hơn giai đoạn trước động dục. Thời gian
đầu trên buồng trứng có 2 loại noãn bao, một số phát triển có đường kính 10-
12mm và một số noãn bao teo đi còn 1-2mm, những noãn bao phát triển lộ rõ
trên bề mặt buồng trứng nhưng chúng chưa đạt tới mức độ chín hoàn toàn,
trung bình số noãn bao của lợn nái tơ là 8 – 14 noãn bao trên một chu kỳ động
dục, với số nái cơ bản số noãn bao chín đạt 12 – 20 noãn bao.
Tại thời điểm chịu đực những noãn bao chín và khối lượng lớn lồi lên
có lớp vỏ mỏng trong suốt, căng phồng nhưng chưa vỡ ra. Trong giai đoạn
này lợn biểu hiện các triệu chứng toàn thân: đứng yên, vễnh tai, hai chân sau
dạng ra, đuôi cong về lên toàn thân run lên khi gặp con đực và cơ thể đứng ở
trạng thái sẵn sàng chờ phối. Các triệu chứng cục bộ bên ngoài như: âm môn
nhạt màu dần, giảm sung huyết và teo đi. Ở niêm mạc âm hộ xuất hiện chất
8
dịch màu trắng mới đầu trong, loãng sau đó đục dần và đặc, có lẫn các sợi tơ
huyết. Các biến đổi bên trong lúc gia súc chịu đực là những noãn bao chín,
căng phồng nhưng chưa vỡ nên không cho phối giống vào giai đoạn này. Sau
18 giờ từ khi con cái bắt đầu chịu đực các noãn bao phát triển bình thường,
dịch noãn nang có màu trắng đục nhưng chưa xuất hiện các sợi huyết.
Sau 20 – 36 giờ dịch noãn nang có màu trắng đục, lúc này có một số
bao noãn vỡ nên niêm dịch có màu hồng nhạt đôi khi có lẫn những sợi tơ
huyết do noãn bao vỡ ra. Sau 36 – 42 giờ đa phần các noãn bao vỡ để lại
những chấm nhỏ có màu đỏ tươi gọi là thể hồng. Các thể hồng là do thành

Rụng trứng là một hiện tượng sinh lý phức tạp, thông thường rụng
trứng và động dục gắn liền nhau nhưng cũng có trường hợp rụng trứng không
kèm theo động dục (động dục thầm lặng), có khi động dục không kèm theo
rụng trứng (động dục giả).
Hiện tượng rụng trứng gồm: vỡ trứng và rụng trứng. Hiện tượng này
thông qua cơ chế thần kinh thể dịch mà các noãn bao chính được giải phóng.
Khi lượng Hormone LH trong máu tăng lên kích thích buồng trứng sản sinh
ra enzim đặc trưng, enzim này bắt đầu giải phóng ra các axid
mucopolyzaharide trong dịch nang trước khi rụng trứng. Song song với quá
trình này thì áp lực thẩm thấu tăng lên làm cho thành noãn bao căng phồng
với điểm yếu nhất tạo thành điểm rụng trứng. Trong xoang trứng dịch thể
được đẩy về phía trứng, rụng cùng với trứng. Áp suất của dịch thể và chất
lỏng thẩm thấu vào noãn nang làm cho trứng rụng xuống, còn dịch thể chuyển
thành sợi tơ huyết rồi hình thành thể vàng. Quá trình trứng rụng được loa kèn
đón nhận và di chuyển đến 1/3 ống dẫn trứng.
10
2.3.2. Đặc điểm của quá trình thụ tinh
2.3.2.1. Sự chuẩn bị tế bào trứng
Sau khi noãn bao chín, trứng rụng vào loa kèn và di chuyển trong ống
dẫn trứng. Quá trình di chuyển của trứng trong ống dẫn trứng nhờ chất lỏng
trong niêm mạc qua sự co bóp của ống dẫn trứng. Khi di chuyển đến 1/3 phía
trên ống dẫn trứng, là thời điểm xẩy ra quá trình thụ thai tốt nhất, tỷ lệ thụ thai
cao nhất. Nếu quá trình thụ tinh xẩy ra ở phía trên hoặc phía dưới của 1/3 ống
dẫn trứng thì quá trình thụ tinh khó xẩy ra, vì ở những vị trí này không có
điều kiện thuận lợi để xẩy ra quá trình thụ tinh nên kết quả không cao.
Một số tác giả cho rằng thời gian phối thích hợp khoảng 12 giờ sau khi
lợn nái có biểu hiện chịu đực. Với lợn hậu bị nên phối ngay khi lợn bắt đầu có
biểu hiện chịu đực vì thời gian chịu đực của lợn hậu bị ngắn.
2.3.2.2. Tinh trùng đi vào tế bào trứng
Đây là giai đoạn tinh trùng chui qua màng trong suốt và màng noãn

Giai đoạn này tính từ ngày thứ 14 đến ngày thứ 39. Đây là thời gian mà
phôi thai được cố định và làm tổ ở hai bên sừng tử cung. Khi lá phôi tiếp xúc
với nội mạc tử cung thì các tế bào lá nuôi phôi thai tiết ra enzim phân hủy
protit, phá vỡ biểu mô nội mạc tử cung và đó là nguồn dinh dưỡng chủ yếu
của bào thai. Ở thời điểm này các khí quan hình thành rõ rệt, nếu nguồn dinh
dưỡng bào thai không đảm bảo sẽ dẫn đến hiện tượng thai yếu hoặc chết.
2.3.3.3.Giai đoạn bào thai
Tính từ ngày 40 đến ngày đẻ, giai đoạn này thai phát triển mạnh nhất từ
ngày 90 trở đi. Trong giai đoạn này thai lấy dinh dưỡng từ mẹ qua nhau thai
cho đến khi thai phát triển hoàn thiện thì mối liên hệ này mới mất đi và trong
giai đoạn này yếu tố dinh dưỡng mới có ảnh hưởng đến chất lượng đàn con
12
sinh ra.
Trong quá trình chăn nuôi để tiện cho việc chăm sóc cũng như lợi ích
kinh tế mà người ta chia quá trình mang thai của lợn ra làm 3 kỳ như sau
Lợn chửa kỳ 1: từ khi thụ tinh đến ngày thứ 84, đây là giai đoạn bào
thai cần ít chất dinh dưỡng. Mặt khác nhau thai chưa thực sự hoàn thiện nên
khẩu phần ăn của lợn chửa kỳ 1 chưa ảnh hưởng đến sự phát triển của bào
thai. Để tiết kiệm thức ăn thì giai đoạn này nên cho lợn nái ăn khẩu phần ăn
hạn chế. Mặt khác nếu trong giai đoạn này nếu cho ăn với khẩu phần quá thừa
chất dinh dưỡng sẽ làm tiêu thai do cơ thể lợn mẹ quá nóng.
Lợn chửa kỳ 2: Từ ngày 85 – 107, giai đoạn này bào thai đòi hỏi nhiều
chất dinh dưỡng cho sự phát triển khối lượng, lúc này mối liên hệ giữa bào
thai và cơ thể mẹ rất khăng khít. Bởi vậy giai đoạn này phải tăng khẩu phần
cho lợn nái để phát triển khối lượng lợn con.
Lợn chửa kỳ 3: Từ ngày thứ 108 – 114 ngày, đây là giai đoạn bào thai
phát triển tương đối hoàn chỉnh nên mối quan hệ về dinh dưỡng giữa mẹ và
bào thai dần dần được cắt đứt, do sự phát triển của bào thai chèn ép vào dạ
dày nên lợn nái giảm tính thèm ăn, vì thế giai đoạn này cần cho nái ăn nhiều
bữa và ăn thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao.

Trần Đình Miên (1997) [9] cho biết việc tính toán khả năng sinh sản
của lợn nái cần xét đến các chỉ tiêu như chu kỳ động dục, tuổi thành thục về
tính, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa và số con đẻ ra/lứa.
Sức sinh sản của lợn nái bao gồm các chỉ tiêu về tuổi động dục lần đầu, số
con đẻ ra/ổ và thời gian từ khi cai sữa đến động dục lại, phối giống có kết quả.
Các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: số con
đẻ ra/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngày tuổi và số lứa
14
đẻ/nái/năm, các chỉ tiêu này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người chăn
nuôi lợn nái.
Để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái tùy vào mục đích nghiên
cứu, lĩnh vực nghiên cứu mà có thể lựa chọn các chỉ tiêu khác nhau. Hiện nay
trong nghiên cứu thường dùng hai nhóm chỉ tiêu đó là: nhóm chỉ tiêu về đặc
điểm sinh lý sinh dục và nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái.
Tuổi phối giống lần đầu: Sau khi đã thành thục về tính và thể vóc thì có
thể đưa lợn vào phối giống. Tuổi phối giống lần đầu được tính từ khi sinh đến
lần phối giống đầu tiên, thông thường để cho bộ phận sinh dục được phát triển
hoàn thiện thì người ta thường bỏ qua 2 – 3 chu kỳ động dục đầu tiên rồi mới
tiến hành phối giống.
Thời gian mang thai: Sau khi phối giống đến ngày đẻ ta có thời gian
mang thai. Thông thường thời gian mang thai của lợn giao động trong khoảng
112 – 117 ngày, trung bình là 115 ngày.
Tỷ lệ đậu thai: Sau khi phối giống, tùy theo các phương pháp phối khác
nhau, nếu tinh trùng gặp trứng ở thời điểm thích hợp thì sẽ có hiện tượng
mang thai, nếu không thì sau 1 chu kỳ tính, lợn nái sẽ có hiện tượng lên giống
trở lại, tỷ lệ đậu thai đánh giá kỹ thuật phối giống, chất lượng tinh con đực và
thời điểm phát hiện động dục.
Tuổi đẻ lứa đầu: Là số ngày tuổi từ khi nái sinh ra cho đến khi nái đẻ
lứa đầu tiên, tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, kết quả
phối giống, thời gian mang thai và từng giống lợn khác nhau, đối với lợn nái

trên được coi là lợn có vấn đề cần phải được xử lý bằng các biện pháp khác
nhau để rút ngắn thời gian chờ phối.
Khoảng cách giữa các lứa đẻ: Được tính từ lứa đẻ này đến lứa đẻ tiếp
16
theo, thời gian này bao gồm có: Thời gian mang thai + thời gian nuôi con +
thời gian chờ phối. Rút ngắn khoảng cách giữa các lứa đẻ là mục tiêu của
người chăn nuôi nhằm tăng số con/nái/năm.
17
B. MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ BỆNH TIÊU CHẢY PED TRÊN LỢN
I. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH TIÊU CHẢY TRÊN LỢN
1.1. Do đặc điểm của bộ máy tiêu hóa lợn con
Ở lợn con mới sinh bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, thể hiện qua sự
phân tiết không đủ lượng axit chlohydric và các men tiêu hóa các chất dinh
dưỡng. Trên lợn con sơ sinh, khả năng tiết axit chlohydric rất ít, chỉ đủ để
hoạt hóa men pepsinogen thành pepsin (men tiêu hóa protein), lượng axit
chlohydric tự do quá ít, không đủ để làm tăng độ toan của dạ dày, do vậy độ
toan thấp, vi khuẩn bất lợi theo đường miệng có điều kiện sống sót ở dạ dày,
vào ruột non vi khuẩn phát triển mạnh gây nên tiêu chảy. Sự phân tiết các
men tiêu hóa ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ sức tiêu hóa các loại
thức ăn đơn giản như sữa; thí dụ men tiêu hóa protein (protease) gồm pepsin,
trypsin, chymotrypsin chỉ đủ để tiêu hóa protein của sữa và không đủ để tiêu
hóa được protein của gạo, bắp, bột cá, bánh dầu trong vòng tuần lễ đầu sau
khi đẻ. Men saccharase chỉ hoạt động mạnh sau 2 tuần, men mantase chỉ được
phân tiết đầy đủ sau 4 tuần. Sinh lý gia súc (1996) [5], Đặc điểm tiêu hóa lợn
con. www.nhanong.net ngày 29/08/2007 [14].
Yếu tố này cho thấy trong vòng 2 tuần lễ sau khi đẻ, lợn con chỉ có thể
tiêu hóa được sữa hoặc loại thức ăn tập ăn với thành phần chủ yếu là sữa .
Trên những đàn lợn quá đông, hoặc phải nuôi bộ vì lợn nái mẹ mắc bệnh, nếu
sử dụng thức ăn không đúng, thí dụ dùng sữa đặc có đường cho lợn con bú sẽ
dẫn đến tiêu chảy vì đường saccharose không hề được tiêu hóa trong giai

nhiễm vi khuẩn vào đường tiêu hóa lợn con.
Điều kiện vệ sinh kém: Bao gồm không sát trùng chuồng nái trước khi
đẻ, cho nái ăn thức ăn kém phẩm chất, có chứa độc tố vi khuẩn hoặc nấm
mốc. Nguồn nước uống không sạch cũng được xem là nguyên nhân chính dẫn
đến sự nhiễm trùng đường ruột.
1.3. Do nhiễm trùng đường ruột
Sự nhiễm trùng đường ruột thường xảy ra với các loại mầm bệnh có
sẵn trong chuồng trại (do sát trùng không hợp lý), do mầm bệnh từ lợn mẹ
truyền sang hoặc mầm bệnh có trong thức ăn, nước uống.
Nếu chúng ta tuân thủ nghiêm ngặt quy trình chăn nuôi và vệ sinh thú
y, sức kháng bệnh lợn con tốt, dù nhiễm khuẩn xảy ra, thì cơ thể lợn con có
thể tự chống chọi được hoặc mắc bệnh với thể nhẹ. Ngược lại nếu sự nhiễm
trùng đường ruột đi kèm theo các yếu tố đó đề cập trên chắc chắn bệnh sẽ rất
nặng, việc chữa trị sẽ rất tốn kém và ít hiệu quả. Theo nhanong.net - ngày
29/08/2007 [14].
20
II. VÀI NÉT VỀ VIRUS CORONAVIRUS
2.1. Đặc điểm sinh học của virus coronavirus

Viện thú y Cáp Nhĩ Tân />Coronavius là virus thuộc phân họ Coronaviridae, thuộc nhóm
Coronaviridae.
Coronavirus có bộ gen là ARN, ARN là một sợi đơn, được xoắn đối
xứng và có vỏ bọc Kích thước bộ gen của Coronavirus dao động từ khoảng
16 – 31 kilobaes. Coronavirus là virus ARN lớn nhất cho đến nay.
Protein cấu trúc của virus coronavirus gồm : cành (S), phong bì (E),
màng (M) và nucleocapid (N). S-gene (phần cấu trúc bên ngoài của virus, là
phần quan trọng để tạo kháng thể trung hòa) và M- gen (phần cấu trúc protein
ẩn sâu hơn S- gene là phần kích thước để tạo IFN-).
[19].
2.2. Phân loại virus Coronavirus

viêm gan (MHV) là một coronavirus gây ra một đại dịch bệnh với tỷ lệ tử
vong cao, đặc biệt trên chuột thí nghiệm. Trước khi phát hiện ra SARS-CoV,
coronavirus gây bệnh MHV là đối tượng nghiên cứu cả invivo và invitro cũng
như ở cấp độ phân tử. Nghiên cứu chủ yếu và đáng kể được tập trung vào
việc giải thích những cơ chế sinh bệnh của coronavirus trên các động vật, đặc
biệt là virus học trong ngành thú y và giải phẫu bệnh học.
[19].
2.4. Đặc điểm của bệnh tiêu chảy PED trên lợn
PDE (Porcine Epidemic Diarrhea) phát hiện lần đầu tiên tại Anh vào
năm 1972, đầu tiên quan sát thấy vào năm 1973 tại Thượng Hải- Trung Quốc.
Các tác nhân gây bệnh được xác nhận là PED năm 1978. Hiên nay bệnh đã
23
phát tán ra khắp Châu Âu, tại Châu Á bệnh được phát hiện ở Đài Loan, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam.
Bệnh PED có nguồn gốc từ virus coronavirus. PED là Virus dạng
ARN chuỗi đơn có vỏ bọc và được xếp vào nhóm Coronaviridae, đây là virus
gây ra nhiều bệnh ở lợn bao gồm TGE, PRCV, HEMV. Các chuyên gia
thường chia PED thành 2 chủng, gồm chủng PED 1 gây bệnh trong giai đoạn
tăng trưởng và chủng PED 2 gây bệnh ở mọi giai đoạn kể cả lợn nái và lợn
trưởng thành.
Virus ổn định trong khoảng pH 5,0-9,0 ở 4oC và giữa pH 6,5-7,5 ở 37oC.
Virus PED mất khả năng truyền nhiễm khi đun nóng ở 60oC trong 30 phút,
nhưng tương đối ổn định ở 50oC. Update on porcine epidemic diarrhea
Andreas Pospischil, Dr med vet; Angela Stuedli, med vet; Matti Kiupel, Dr
med vet, PhD, DACVP [18].
Virus PED bất hoạt bởi hầu hết các chất sát trùng bao gồm cresol,
hydroxit natri (2%), formalin (1%), natri cacbonat (4%), iotdine (1%)…
Việc nhiễm virus PED phát sinh từ việc nhiễm khuẩn có trong môi
trường hoặc từ lợn me. Bản thân virus tồn tại trong dạ dày lợn, virus chịu
được độ axit nên virus sẽ thâm nhập vào ruột non ở tá tràng và manh tràng,

với từng virus được tách trước đó, kết quả cho thấy PED phát tán lần này
giống nhau nhiều nhất với virus PED đã từng bùng phát tại Trung Quốc vào
25

Trích đoạn Triệu chứng, bệnh tích trên lợn ở các giai đoạn khác nhau PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU Khối lượng sơ sinh trung bình trên con
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status