SKKN nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và VSATTP ở các trường mầm non có hiệu quả - Pdf 26

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm
non là nền tảng cho sự phát triển nguồn lực con người. Nhiệm vụ giáo dục
mầm non cực kỳ quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục. "Giáo dục
mầm non nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trước 6 tuổi cơ hội để
trẻ phát triển toàn diện về thể chất tình cảm, trí tuệ và thẩm mỹ".
Chính vì vậy chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã nêu mục tiêu
của ngành học Mầm non :" Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trước
6 tuổi , tạo cơ hội để trẻ phát triến toàn diện về thể chất , tình cảm trí tuệ ,
thẩm mỹ .".
Thông tư liên tịch số 08/2008/TTLT/BYT-BGDDT của Bộ Y tế và BBộ
GD&ĐT ngày 08/7/2008 về việc hướng dẫn công tác bảo đảm vệ sinh an toàn
thực phẩm trong các cơ sở giáo dục có nội dung : " Baỏ đảm vệ sinh an toàn
thực phẩm trong các cơ sở giáo dục , không để xảy ra ngộ độc thực phẩm và
các bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm. Mỗi học sinh sinh viên ,nhà giáo ,các
bộ và nhân viên trong các cơ sở gdục nghiêm túc thực hiên các qui định về vệ
sinh an toàn thực phẩm,tham gia tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm
Vì vậy vấn đề dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của mỗi con người
nói chung và đối với trẻ mầm non nó vô cùng quan trọng. Trẻ ở lứa tuổi mầm
non nếu được nuôi dưỡng hợp lý khoa học thì trẻ sẽ phát triển một cách toàn
diện, đức, trí, thể, mỹ và ngược lại trẻ ở lứa tuổi này nếu không được ăn đủ
các chất dinh dưỡng hợp lý, ăn không đảm bảo vệ sinh sẽ gây cho trẻ mắc các
bệnh, sẽ làm cho trẻ bị suy dinh dưỡng.
Là một cán bộ quản lý tôi luôn suy nghĩ xác định đây là nhiệm vụ trọng
tâm của ngành học đã và đang chỉ đạo trong nhiều năm qua. Mặc dù các
trường mầm non trong toàn Thị xã chưa xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào
trong trường mầm non, song tôi luôn suy nghĩ để tìm ra một số biện pháp hữu
hiệu để nhằm nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm trong các trường mầm non để từng bước giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng
Trang 1

với năm học 2010-2011 : 392 cháu
Riêng mẫu giáo 5 tuổi đã huy động ra lớp: 791 cháu - đạt tỷ lệ 100 %
Trang 2
So với kế hoạch năm học 2011-2012 số cháu tăng 11 cháu ( Huyện khác
chuyển về ).
Đáng chú ý số các cháu ăn bán trú tại các trường lớp cũng có phần tăng
hơn so với năm học trước cụ thể:
Số cháu nhà trẻ ăn bán trú : 635 cháu - đạt tỷ lệ 98,4%
Số cháu mẫu giáo ăn bán trú : 1945cháu - đạt tỷ lệ 93,2 %
So với năm học trước số trẻ ăn bán trú nhà trẻ tăng 345 cháu, tỷ lệ: mẫu
giáo tăng 18%
Mức đóng góp thấp nhất 10.000đ ; cao nhất: 12.000đ
Đảm bảo định lượng Calo : Nhà trẻ: 800Calo ; Mẫu giáo: 850Calo
*Qua đánh giá theo dõi biêủ đồ phát triển của trẻ cụ thể :
Nhà trẻ : 645 cháu
Kênh bình thường : 589 cháu , tỷ lệ 91,5%
Kênh suy dinh dưỡng :49 cháu ,tỷ lệ 7,5%
Kênh cao hơn tuổi :7 cháu ,tỷ lệ 1%
Mẫu giáo : 2087cháu
Kênh bình thường : 1908 cháu ,tỷ lệ 91,4%
Kênh suy dinh dưỡng:173 cháu ,tỷ lệ 8,2%, kênh cao hơn tuổi :0,4%
Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ so với năm học trước giảm xuống : 2%
Điều đó cũng đủ để nói lên cha mẹ học sinh và các tầng lớp xã hội đã
nhận thức được tầm quan trọng của việc gửi con vào các trường lớp mầu non
và tin tưởng sự chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục của các cô giáo ,có sự phối kết
hợp giữa gia đình và nhà trường để chăm sóc giáo dục trẻ phát triển toàn diện.
Từ thực trạng trên để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục dinh
dưỡng và VSATTP ở các trường mầm non có hiệu quả tốt hơn tôi đã đưa ra
một số biện pháp sau:
3- Các giải pháp thực hiện:

ô tủ, ký hiệu riêng của từng cháu; MN Ngọc Trạo, MN xi măng, MN Đông
Sơn, MN Ba Đình, MN Bắc Sơn
Đã chỉ đạo các nhà trường từng bước mua sắm các trang thiết bị nhà bếp
theo hướng chuẩn bếp có tủ lạnh, có máy lọc nước, có máy xay thịt, xay đậu
nành- ngành đang chỉ đạo ở các nhà trường xây dựng trường chuẩn, MN Ba
Đình. Hiện nay có 6/7 trường có máy lọc nước cho trẻ uống nước sạch hàng
ngày, 9/9 trường có tủ lạnh để lưu mẫu thực phẩm hàng ngày
Trang 4
Chỉ đạo các trường tổ chức bán trú đối với cô phục vụ nấu chế biến đều
có trang phục lao động, quần áo, mũ, tạp rề, khẩu trang phù hợp, thuận tiện
cho việc chế biến ở bếp ăn đảm bảo vệ sinh.hàng năm phối kết hợp Trung tâm
phòng dịch tổ chức khám sức khoẻ cho cô phục vụ cho trẻ ăn ,cô chế biến
thức ăn và cấp giấy chứng nhận : 55 cô
Việc mua sắm trang thiết bị để phục vụ cho vấn đề GDDD và VSATTP
đã được đầu tư trong năm tương đối tốt.
2. Công tác bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ giáo
viên, nhân viên về vấn đề nuôi dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
Đây là nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành là giải pháp quan trọng để
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ . Bằng nhiều giải pháp linh hoạt
tạo điều kiện để giáo viên theo học các lớp trung cấp nấu ăn, cao đẳng đại học
tại chức, để nâng cao trình, độ để vận dụng trong việc chăm sóc giáo dục trẻ.
Tập trung chỉ đạo các nhà trường xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên
qua dự giờ, hội thi, tổ chức chuyên đề GDDD và VSATTP, tổ chức hội thi từ
cấp trường đến cấp thị về chế biến các món ăn cho trẻ ở các độ tuổi. Mỗi giáo
viên đều phải tự xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn cho từng lứa tuổi để
biết được định lượng calo hợp lý, biết cân đối giữa thành phần các chất. Với
các tiết thực hành trực tiếp như vậy giúp giáo viên học tập rút kinh nghiệm
được kỹ năng thực hành cho bản thân.
Tổ chức các lớp chuyên đề bồi dưỡng cho đội ngũ CBGV biết lồng ghép
vấn đề dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong các môn học khác

khi ăn phải rửa tay bằng xà phòng, cho trẻ biết so sánh các loại quả giống và
khác nhau. ( Giống nhau : quả Cam - chuối ăn bổ , có nhiều vi ta minC,giúp
trẻ khoẻ mạnh chóng lớn , khác nhau : quả chuối dài, cam hình tròn ,quả cam
có hạt, chuối không có hạt., vỏ chuối nhẵn , vỏ cam xù…) . giáo viên cho trẻ
làm quen các loại quả :đu đủ. xoài ,chôm chôm, dưa hấu trẻ rất hứng thú
kết quả gìơ học đạt kết quả cao.
+ Năm học 2011 - 2012 phòng đã tiếp tục xây dựng trường MN xi măng
chỉ đạo điểm về chuyên đề GDDD và VSATTP cho tất cả trường để học tập
rút kinh nghiệm ở một số điểm.
- Chỉ đạo các nhà trường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị tương đối
đầy đủ, các phòng học -bếp, công trình vệ sinh - các đồ dùng cá nhân của trẻ
tương đối chuẩn.
Trang 6
- Công đoàn đã phát động cho giáo viên trồng rau sạch, nuôi thực phẩm
sạch hàng tháng nhập cho bếp ăn nhà trường để chế biến thức ăn cho trẻ, quy
định mỗi giáo viên nhập là 10 kg rau sạch :MNXi Măng , MNĐông sơn , MN
- Công đoàn đã tổ chức trồng vườn rau sạch nhập cho bếp ăn nhà trường.
hàng ngày MN Đông Sơn ,MN Ngọc Trạo , MNQuang Trung
- Thực hiện sắp xếp bếp ăn hợp lý đảm bảo vệ sinh tuân thủ nguyên tắc
bếp 1 chiều , có đầy đủ dụng cụ dùng cho chế biến thực phẩm sống riêng,
thực phẩm chín riêng.
- Chỉ đạo các nhà trường phải ký hợp đồng mua thực phẩm bằng văn bản
có tính pháp lý giữa nhà trường và bên cung cấp thực phẩm. Mua thực phẩm
đúng nơi đăng ký. Hàng ngày đều có lưu mẫu thực phẩm trong 24giờ . Vì vậy
trong nhiều năm qua các nhà trường chưa xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào.
Đặc biệt về sức khỏe của trẻ luôn khoẻ mạnh ,thông minh, số cháu suy dinh
dưỡng hàng năm đều giảm
3. Tăng cường công tác quản lý thanh tra, kiểm tra việc chăm sóc sức
khỏe trẻ.
Trong những năm gần đây tỷ lệ trẻ vào trường lớp mầm non cao, các bậc

lớp luôn vệ sinh , phòng nhóm sạch sẽ, cửa sổ thông thoáng có đủ ánh sáng.
Các lớp nền lát gạch hoa, luôn khô ráo, các lớp lên được kế họach tổng vệ
sinh phòng nhóm, đồ dùng đồ chơi từng tuần, từng tháng, bàn ghế, đồ dùng
đồ chơi, việc trang trí lớp theo chủ điểm đẹp, gọn gàng,phát động phụ huynh
huy động quyên góp cây cảnh hoa, tạo góc thiên nhiên mỗi lớp. Đồ dùng
dụng cụ của trẻ: bát, thìa tráng nước sôi hàng ngày.
Thực hiện vệ sinh cá nhân cho trẻ hàng ngày sạch sẽ, hàng tuần vệ sinh
cắt móng tay cho trẻ. Đầu năm phòng đã lên kế họach kiểm tra việc trang trí
các nhóm lớp, vệ sinh môi trường - nề nếp các cháu một số trường thực hiện
tốt; MN Đông Sơn; MN Bắc Sơn; MN Xi măng.
Hiện nay vấn đề dinh dưỡng và VSATTP đang là mối quan tâm hàng đầu
của toàn xã hội. Trong những năm gần đây ở một số tỉnh thành, các địa
phương đã xảy ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm. Vì vậy vấn đề VSATTP
ngành luôn luôn trú trọng quan tâm, đã chỉ đạo các trường tổ chức bán trú: 8/8
trường đều có hợp đồng cung cấp thực phẩm, phát động cho mỗi CBGV trồng
rau sạch, nuôi gà, vịt, trứng đảm bảo chất lượng cung cấp cho bếp ăn của
trường.
Trang 8
- Chỉ đạo các trường từ khâu sơ chế đến khâu chế biến thực phẩm phải
luôn giữ vệ sinh sạch sẽ, đảm bảo cho trẻ ăn hợp lý. Vì vậy trong nhiều năm
qua ở các nhà trường chưa xảy ra hiện tượng ngộ độc thực phẩm.
5. Phối kết hợp các ngành các cấp hội phụ huynh để tuyên truyền về
vấn đề dinh dưỡng và VSATTP.
Quá trình chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non mang tính xã hội hóa
cao, để thực hiện có hiệu quả cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường gia
đình và toàn xã hội.
+Phối hợp với các ban ngành đoàn thể, với cấp ủy chính quyền địa
phương tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi cho các nhà
trường.
- Tuyên truyền bằng nhiều kênh thông tin ở phường xã để huy động trẻ

- Tuyên truyền thông qua hội thi, năm học 2011-2012 tổ chức hội thi "Bé
khỏe bé ngoan" từ cấp trường đến cáp thị được các bậc phụ huynh rất quan
tâm. Năm học 2011-2012 các bậc phụ huynh đã có sự đầu tư cơ sở vật chất ở
các trường rất lớn.

C- KẾT LUẬN
1. Kết quả.
Qua quá trình chỉ đạo thực hiện vấn đề giáo dục dinh dưỡng và VSATTP
trong nhiều năm và đặc biệt trong năm học 2011- 2012 đã đạt được một số kết
quả hữu hiệu.
+ Đối với đội ngũ giáo viên:
- đội ngũ CBGV đã nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác GDDD và
VSATTP. từ đó các cô có ý thức trách nhiệm cao trong việc chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ, đặc biệt trong việc cân đo theo dõi biểu đồ để đánh giá tình hình
sức khỏe của trẻ, biết phối kết hợp chặt chẽ với gia đình trong việc bổ sung,
điều chỉnh chế độ ăn cho trẻ hợp lý.
+ Đối với các bậc phụ huynh:
Các bậc phụ huynh đã nhận thức tầm quan trọng của việc đa trẻ vào các
trường mầm non, thật sự tin tưởng đội ngũ CBGV, vì vậy các bậc phụ huynh
đã gửi con vào trường lớp khá đông, so với năm học trứớc tỷ lệ huy động trẻ
tăn 2%.
Trang 10
Cá bậc phụ huynh rất yên tâm về chế độ ăn bán trú ở trường. Vì vậy số
trẻ ăn bán trú tại các trường mầm non tỷ lệ cao .Nhà trẻ đạt 98,4%, Mẫu giáo
đạt 93,2%
+ Đối với các cháu:
- Nhìn chung các cháu ăn ngủ tại trường tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm - các
cháu ngoan, nề nếp có nhiều thói quen trong sinh hoạt hàng ngày. Qua khảo
và đánh giá kết quả cuối năm học tình hình sức khỏe trẻ so với năm học trước
tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm xuống 2% .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status