PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học, việc phát huy và giữ
gìn bản sắc văn hoá dân tộc cũng đang trở thành một vấn đề cấp thiết đối với
chúng ta. Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc anh em: dân tộc Kinh
(thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ); Các dân tộc vùng núi phía Bắc gồm có: dân
tộc H’Mông, dân tộc Thái, dân tộc Tày, Dân tộc Nùng, Dân tộc Mường, dân
tộc Dao ; Ở vùng núi miền Trung, Tây Nguyên có các dân tộc như: dân tộc
Vân Kiều, dân tộc Ê- đê, dân tộc Ba-na, dân tộc K’Ho ; Còn ở vùng miền
Tây Nam Bộ thì có các dân tộc: dân tộc Chăm, dân tộc Khơ’Me Mỗi dân
tộc đều có nền văn hóa tạo hình độc đáo và rất giàu tính dân gian, những đồ
dùng thường ngày của họ cũng mang đầy tính nghệ thuật với những hoạ tiết
hoa văn cùng với cách sắp xếp chúng hết sức độc đáo, đặc sắc. Trong những
năm gần đây, Đảng và nhà nước ta rất chú trọng tới việc gìn giữ và phát huy
bản sắc của các dân tộc trên mọi miền Tổ Quốc. Nghị quyết số 22 của bộ
chính trị đã nêu rõ “Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở
mỗi dân tộc phát huy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn
hóa của các dân tộc khác và góp phần phát triển nền văn hóa chung cả nước
tạo ra sự phong phú, đa dạng trong nền văn minh của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam”.
NTTH là những loại hình hoạt động nhận thức của con người nhằm
tạo ra cái đẹp cho cuộc sống, cho nghệ thuật, nó bao gồm rất nhiều chuyên
ngành như: hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc, trang trí, thủ công mĩ nghệ, kiến
trúc…Với hai thể loại: nghệ thuật cơ bản và nghệ thuật ứng dụng, nghệ thuật
tạo hình dân tộc đã tạo ra rất nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó NTXDT
được sử dụng để trình bày mỹ thuật ở các hình thức khác nhau (trên quần áo,
đồ gỗ, bát đĩa…) bằng cách gắn các hình trang trí hay các hình theo đề tài đã
có sẵn vào một nền chính. Như vậy, NTXDT cũng là một nghệ thuật trang trí
mà ở đó người nghệ sĩ thể hiện các hình ảnh nghệ thuật trên không gian hai
chiều bằng cách sắp xếp các mảng hình, các họa tiết theo một bố cục mang
tính nghệ thuật và gắn chúng trên một nền phẳng.
chưa thấy được vai trò to lớn của việc tổ chức HĐXDTTT trong việc bồi
dưỡng và giúp trẻ tìm hiểu, làm quen với các bố cục hoa văn dân tộc, đưa
trẻ đến dần với các tác phẩm nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt Nam.
Các giờ HĐXDT chưa thực sự trở thành một môi trường hoạt động hấp
dẫn cho trẻ do những phương pháp, biện pháp mà các giáo viên sử dụng
còn cứng nhắc, thiếu sự linh hoạt, mềm dẻo. Hơn nữa các nội dung được
lựa chọn để đưa vào chương trình của hoạt động xếp dán tranh còn quá
nghèo nàn, đơn giản, không có sự độc đáo. Đây chính là nguyên nhân làm
hạn chế khả năng tạo hình của trẻ cũng như không thể khơi gợi được sự
sáng tạo tiềm ẩn trong bản thân mỗi đứa trẻ.
Vì những lí do trên mà chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu
cho luận văn tốt nghiệp của mình là “Một số biện pháp tổ chức hoạt động
xếp dán tranh trang trí nhằm giúp trẻ 5-6 tuổi tích cực làm quen với các
bố cục hoa văn dân tộc”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu cơ sở lí luận và nghiên cứu tình hình thực tiễn giáo dục
mầm non hiện nay để có thể đề xuất một biện pháp tổ chức hoạt động xếp
dán tranh trang trí nhằm giúp trẻ 5-6 tuổi tích cực làm quen với các bố cục
hoa văn dân tộc, từ đó giúp trẻ hiểu và có được những kiến thức cũng như
các kĩ năng cơ bản nằm trong vốn văn hoá chung của con người và nền văn
hoá tạo hình nói chung của người dân Việt Nam.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu.
Việc tổ chức HĐTH cho trẻ ở trường mầm non và giáo dục trẻ em
thông qua HĐTH.
3.2 Đối tượng nghiên cứu.
Một số biện pháp tổ chức hoạt động xếp dán tranh trang trí nhằm giúp
trẻ 5-6 tuổi tích cực làm quen với các bố cục hoa văn dân tộc.
4. Giả thuyết khoa học.
Nếu tìm ra và áp dụng hợp lí một số biện pháp nhằm giúp trẻ có những
- Quá trình thực nghiệm được tôt chức ở một số trường mầm non ở Hà
Nội và Ninh Bình; ở cả mô hình trường mầm non công lập và trường mầm
non tư thục.
- Trong quá trình tổ chức thực nghiệm, sử dụng một số mẫu hoa văn
trang trí của các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc : dân tộc Tày, dân tộc
Nùng, dân tộc Dao, dân tộc Thái, dân tộc H’Mông.
8. Đóng góp của đề tài
- Luận văn đánh giá được thực trạng của việc tổ chức HĐTH cho trẻ ở
các trường mầm non công lập và tư thục.
- Luận văn đánh giá được khả năng của trẻ trong việc làm quen với bố
cục trang trí của một số dân tộc thông qua hoạt đông xếp dán tranh trang trí.
- Luận văn bước đầu đã xây dựng được hệ thống các biện pháp tổ chức
hoạt động xếp dán tranh trang trí nhằm giúp trẻ 5- 6 tuổi làm quen với các bố
cục hoa văn dân tộc.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Trong những năm gần đây, Đảng ta rất chú trọng tới việc giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc thiểu số. Trong hội nghị lần thứ 5,
Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII đã khẳng định "Coi trọng và bảo tồn,
phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới
về văn hoá, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số”. Chính vì thế nên
cùng với các nhiệm vụ giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm
mĩ…cho trẻ mầm non, thì việc tạo cơ hội cho trẻ được tiếp xúc, tìm hiểu nền
nghệ thuật dân tộc và nền văn hoá của một số các dân tộc thiểu số thông qua
một các sản phẩm như: tranh vẽ, trang phục, đồ trang sức, đồ dùng hàng
ngày… là rất quan trọng và cần thiết.
Là một quốc gia đa dân tộc, Việt Nam có nhiều nét văn hoá rất độc
đáo, đặc sắc đặc trưng cho các vùng miền. Mỗi dân tộc sinh sống ở các địa
Ngoài ra nó còn tạo cơ hội cho trẻ được làm quen với các hoạ tiết, cách
sắp xếp các hoạ tiết để tạo nên một bố cục trang trí.
Xuất phát từ những yêu cầu trên nên vấn đề đặt ra và được rất nhiều các
nhà tâm lí, giáo dục quan tâm, nghiên cứu là làm thế nào để có thể giúp trẻ 5-6
tuổi làm quen được với các bố cục hoa văn của một số dân tộc thiểu số thông
qua HĐTH nói chung và hoạt động xếp dán tranh trang trí nói riêng ?
Ở nước ngoài đã có rất nhiều các nhà giáo dục học nghiên cứu về
HĐTH của trẻ mầm non và khẳng định được ý nghĩa của hoạt động sư phạm
trong việc phát triển khả năng sáng tạo của trẻ, đặc biệt là khả năng sáng tạo
trong HĐTH. Theo chuyên viên nghiên cứu về HĐTH -V.X. Mukhina thì
HĐTH của trẻ em được xem như một hình thức lĩnh hội các kinh nghiệm xã
hội. Còn theo A.V.Daparozet thì "HĐTH của trẻ là một hoạt động mang tính
sáng tạo nghệ thuật. Ở đó trẻ không những sử dụng các vật thể sẵn có mà
bao gồm cả việc làm ra cái gì đó mới mẻ hay tạo ra một sản phẩm nhất định
(như tranh vẽ, nặn bức tượng hay tranh xé dán…) bằng cách thực hiện dự
kiến xảy ra trong óc trẻ ’’ [59 ;78- 84]
Khi nghiên cứu về nền nghệ thuật trang trí dân gian các nhà giáo dục
E.I. Kovanxkoi và E.I.Vaxilieva đã chứng minh và thấy được ảnh hưởng to
lớn của chúng tới sự phát triển năng lực thẩm mĩ của trẻ. Theo họ thì nó vừa
đáp ứng được nhu cầu của trẻ, lại vừa là “nguồn dinh dưỡng giàu có" cho
khả năng tri giác nghệ thuật và chúng có tác động tới sự phát triển những
rung động thẩm mĩ ở trẻ em. Quả thật đúng như vậy, các tác phẩm nghệ
thuật trang trí mang đậm màu sắc dân gian thường có một vẻ đẹp rất độc
đáo, cổ điển, kích thích được thị hiếu của người xem, vì thế nên nó có tác
dụng lớn trong việc bồi dưỡng cách tri giác nghệ thuật cho mỗi người.
Bàn về vấn đề này, nhà giáo dục học Xô Viết D.A. Bogacheva đã
nghiên cứu về việc sử dụng nghệ thuật trang trí ở nước mình. Trong tài
liệu "Cắt dán trang trí theo kiểu dân tộc ở mẫu giáo”, bà đã chỉ ra những
cách trang trí của các dân tộc và bà cũng hướng dẫn cho giáo viên cách
đưa trang trí dân tộc vào việc dạy cho trẻ mẫu giáo. Đồng thời bà cũng
củng cố những biểu tượng, những kiến thức có được trong quá trình khám
phá thế giới xung quanh.
Ở Việt Nam cũng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề về
HĐTH và HĐTH trang trí đối với sự phát triển của trẻ mầm non như T.S.
Phan Việt Hoa, với đề tài nghiên cứu là “Một số biện pháp bồi dưỡng cảm
xúc thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tạo hình" bà đã khẳng
định được vai trò của cảm xúc thẩm mĩ trong việc giáo dục thẩm mĩ và trong
giáo dục phát triển toàn diện con người. Qua công trình nghiên cứu này, bà
chứng minh được vai trò của các dạng HĐTH trong việc bồi dưỡng xúc cảm
thẩm mĩ cho trẻ và bà cũng đưa ra được các biện pháp giáo dục thẩm mĩ cho
trẻ trong HĐTH.
Với bề dày kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu lí luận cho ngành
giáo dục Mầm non, PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết đã có những kết luận sắc
bén trong việc hướng dẫn trẻ cảm thụ vẻ đẹp của những tác phẩm tạo hình.
Theo bà thì trẻ rất ham thích hoạt động tạo hình song chúng lại chưa có ý
thức đầy đủ trong việc sáng tạo ra cái đẹp và chưa biết phát hiện ra cái đẹp
trong sản phẩm tạo hình. Do đó, bà cho rằng “ trẻ em cần phải được hướng
dẫn hoạt động tạo hình ngay từ lúc còn bé mà việc đầu tiên là tạo điều kiện
để trẻ được xem nhiều tác phẩm tạo hình có giá trị ” .[300 ;38]. Cùng với
những kết luận này, PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết còn đưa ra các tiêu chí để
giúp giáo viên lựa chọn những tác phẩm tạo hình phù hợp với trẻ. Đồng thời
bà cũng nhấn mạnh được tầm quan trọng của việc hướng dẫn trẻ trong quá
trình cảm thụ nghệ thuật, bà đã viết “… Xem triển lãm hội hoạ hay bảo tàng
mỹ thuật có phải là những việc làm quá cao siêu đối với lứa tuổi thơ không ?
Điều đó là tuỳ cách hướng dẫn của người lớn ”[301;38]. Những nhận xét
này của bà đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc hướng dẫn giáo viên thực
hiện các nhóm biện pháp được đề xuất trong luận văn.
Cũng bàn về vấn đề tổ chức cho trẻ làm quen với các tác phẩm nghệ
thuật tạo hình, PGS.TS Lê Thanh Thuỷ có nhận xét “Các tác phẩm nghệ
thuật tạo hình, đặc biệt là các tác phẩm nghệ thuật trang trí dân gian đóng
ngày của trẻ, đồng thời nó có ảnh hưởng tích cực đến việc học tập và bồi
dưỡng tình cảm cho trẻ mầm non đặc biệt là trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi. Tác giả
cũng nhận thấy hiệu quả của giờ học vẽ trang trí phụ thuộc rất lớn vào việc
giáo viên biết lựa chọn và sử dụng những biện pháp tác động thích hợp với
đặc trưng của hoạt động vẽ trang trí. Nghiên cứu này đã giúp chúng tôi có
được những ý tưởng cho việc tổ chức hoạt động xếp dán tranh trang trí của
trẻ đạt hiệu quả . [18]
Bằng những tổng kết về các nguồn tài liệu nghiên cứu, trong đề tài
“Bồi dưỡng sinh viên CĐSP khả năng sử dụng nghệ thuật trang trí trong
tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non”, tác giả Võ Thị Bích Vân đã
đi đến kết luận rằng “… những bài vẽ trang trí, xé dán trang trí, hay các bài
tập tạo hình nói chung đều là “mật ngọt"nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, đem
đến cho các em những rung cảm về cái đẹp của đường nét, hình khối; của
màu sắc, ánh sáng và quy luật xa gần được hiện lên qua chủ đề miêu tả, để
rồi dần làm nảy sinh trong trẻ ước mơ muốn tạo nên cái gì đó để mang lại
niềm vui, những điều tốt đẹp cho những người xung quanh, cho cuộc sống
này”[53 ;10]
Như vậy, trong các nghiên cứu trên, các tác giả đã tập trung rất nhiều
vào việc nghiên cứu bản sắc văn hoá, các hoa văn trang trí của một số các
dân tộc miền núi cũng như tìm ra những phương pháp, biện pháp tích cực
để tổ chức tốt các HĐTH và HĐTH trang trí. Song trong thực tiễn giáo dục
mầm non hiện nay, hầu như còn có rất ít những công trình đi sâu vào
nghiên cứu về HĐXDT đặc biệt là HĐXDTTT của trẻ mầm non Việt Nam.
Với đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi hy vọng sẽ đề ra và đưa vào thử
nghiệm một số biện pháp tổ chức HĐXDTTT để thông qua đó có thể giúp
trẻ mầm non đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi có cơ hội làm quen với một số dạng bố
cục hoa văn các dân tộc thiểu số, từ đó giúp trẻ nhỏ dần dần từng bước tiếp
cận với nền văn hoá đặc sắc của một số dân tộc trên đất nước Việt Nam.
2. Vài nét về nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt Nam.
Vấn đề truyền thống nghệ thuật Việt Nam và sự phát triển của nó đã
nền NTTH của Việt Nam luôn luôn giữ bản sắc dân tộc và chưa bao giờ
“đánh mất mình"trong các trào lưu nghệ thuật của các nước trên thế giới.
Khi nghiên cứu di chỉ nền văn hoá Đông Sơn, các nhà nghiên cứu thấy
rằng nghề luyện kim ở nước ta ra đời cách đây khoảng 3500- 4000 năm, đã
cống hiến cho xã hội rất nhiều sản phẩm có giá trị. Điều này chứng tỏ khiếu
thẩm mĩ và khả năng tạo hình của các bộ lạc Việt cổ đã đạt đến trình độ cao,
được thể hiện qua các dụng cụ lao động đơn giản như lưỡi liềm đồng, lưỡi
cuốc, lưỡi cày đến đồ binh khí như mũi tên đồng, dao găm, giáo mác… Qua
việc tiếp xúc với nền văn hoá Đông Sơn, ta nhận thấy ngay từ thời Hùng
Vương, người Việt cổ đã sáng tạo được nhiều mẫu vật điển hình, xây dựng
được một nền nghệ thuật độc đáo, đậm đà tính dân tộc. Nghiên cứu những di
chỉ cổ vật xa xưa chúng ta sẽ thấy được những hình người khắc trên hiện vật
bằng đồng thường biểu hiện trong sinh hoạt tập thể và nó chứa đựng chất
sống hiện thực của xã hội lúc bấy giờ. Ví dụ như hình ảnh cặp trai gái đang
giã gạo chung một cối trên mặt trống Ngọc Lũ (ở Hà Nam) hay mặt trống
Hoàng Hạ (ở Hà Tây), chỉ được khắc bằng mấy nét hết sức cô đọng, kết hợp
với bút pháp cách điệu mang tính ước lệ cao các nghệ nhân xa xưa đã làm
cho chúng ta thấy và cảm nhận được chất tươi mát, nét duyên dáng của tuổi
trẻ… Tìm hiểu về các hoạ tiết hoa văn trang trí trên bề mặt trống đồng Ngọc
Lũ và trống đồng Đông Sơn, các nhà nghiên cứu đã cho chúng ta thấy rằng
khả năng tư duy hình tượng và tạo hình của những “nghệ nhân nguyên thuỷ"
đã đạt được đến trình độ cao, cụ thể như hình tượng chim cò, muông thú và
hình người được thể hiện bằng những nét khái quát, đơn giản nhưng lại vô
cùng tinh xảo, mang đậm tính dân tộc.
Với trình độ thẩm mĩ đơn sơ và phác thực, các nghệ nhân nguyên
thuỷ Việt Nam rất coi trọng những hình ảnh của cuộc sống thực, họ thường
lấy hiện thực sống động làm đề tài để phản ánh, họ đã dẫn dắt thiên nhiên và
con người đi vào trong nghệ thuật bằng những mảng khối và đường nét chân
phương, giàu tính ước lệ trong một bố cục chặt chẽ với đồ hoạ sáng sủa và
sự cách điệu tài tình. Vì thế nên thế giới và xã hội khi đã được họ quan sát,
một tấm gỗ hay dệt ở trên vải…”.[50 ;10] Như vậy, có thể thấy rằng tác giả
đã rất quan tâm và coi trọng những đường nét hoa văn trang trí trên các đồ
dùng, vật dụng. Sự thành công của các tác phẩm nghệ thuật cũng có sự đóng
góp rất lớn của những đường nét hoa văn này.
* Những đặc điểm nghệ thuật cơ bản của hoa văn.
Khi nói về nghệ thuật hoa văn, các nhà nghiên cứu nghệ thuật đã chỉ
ra rằng "Quá trình sáng tạo mang sắc thái cá nhân ấy trong nghệ thuật hoa
văn đã bắt đầu từ lâu…"Ngay từ cuối thế kỉ XIX, nhóm hoạ sỹ lớn nhất của
nước Nga Xô Viết như Va- xnê- txop, Xê- rôp, Rê- pin, Vru- ben, Po- lê-
nôp, Oxtrê-u- khôp…đã kết hợp với nhau và xây dựng được cả một xí
nghiệp sản xuất vật phẩm trang trí bằng những hoa văn theo mẫu vẽ của họ
tại khu vực A- bram-txep ở gần Mat-xcơ- va; hay như ở nước Pháp, người
hoạ sỹ nổi tiếng Picasso cũng đã tổ chức một xí nghiệp với những sản phẩm
được trang trí bằng những hoạ tiết hoa văn. Sang đến thế kỉ XX, ngành nghệ
thuật hoa văn đã được cải tiến và đổi mới rất nhiều nên ý nghĩa của chúng lại
càng trở nên độc lập hơn đối với các ngành nghệ thuật khác.
Theo nhiều nghiên cứu thì hoa văn thường không miêu tả cụ thể một
cái gì cả, mà mục đích chính của hoa văn là ở chỗ biểu hiện qua sự kết hợp
một cách nhịp nhàng các đường nét và màu sắc, những tình cảm phong phú
và sức sáng tạo của con người. Nhờ việc nghĩ ra và sắp xếp, trình bày trên
một bề mặt một cách hoà hợp, cân đối về đường nét, màu sắc, người ta đã
tạo nên một hiện thân vật chất “của sự hoà hợp con người" làm nổi rõ trước
mắt vẻ đẹp rất “người" của tác phẩm.
Từ việc nghiên cứu và phân tích các nguồn tài liệu chúng ta có thể
thấy rằng nếu loại trừ yếu tố tín ngưỡng ra thì hầu hết các dạng hoa văn đều
có ý nghĩa là hướng vào đời sống thực và hướng vào thiên nhiên, thông qua
đó mà thiên nhiên và con người luôn được nghệ thuật hoá, phản ánh sự hoà
đồng, gắn bó không thể tách rời nhau. Cũng giống như các loại hình nghệ
thuật khác,hoa văn được tạo ra từ những hình mẫu có sẵn trong thực tế, bản
thân thiên nhiên đã đem lại rất nhiều hình mẫu trang trí kể cả những hình
vẽ dựa theo dáng của cỏ, cây, hoa, lá…; Hoa văn “hình thú”- đó là hình
người hay hình những con vật đã được cách điệu hoá. Vì thế chúng ta có
thể khẳng định rằng hoa văn là một loại hình vừa đơn giản nhưng cũng lại
rất phức tạp, một mặt những tác phẩm hoa văn mang tính chất hết sức sơ
đẳng- đó chỉ là một hệ thống những hình vẽ và đường nét nhiều màu sắc
khác nhau, nó biểu hiện một ý nghĩa rất khái quát, là cơ sở thế giới quan
của một dân tộc nào đó. Nhưng mặt khác hoa văn cũng có thể là một cái gì
thực sự bí ẩn nếu như chúng ta không biết rõ cuộc sống của dân tộc đã tạo
ra những vật dụng mang hình hoa văn đó bởi vì “ngôn ngữ"của hoa văn
thường mang tính ước lệ, tính biểu tượng. Như vậy chúng ta thấy rằng,
hoa văn dân tộc được hình thành, phát triển và trau dồi qua hàng bao thế
kỉ nay và nó còn gắn liền chặt chẽ với toàn bộ cuộc sống cũng như toàn bộ
nền văn hoá của nhân dân Việt Nam ta.
4. Nghệ thuật xếp dán tranh và vai trò của nó đối với sự phát triển
xã hội và giáo dục con người.
4.1. Vài nét cơ bản về nghệ thuật xếp dán tranh.
Nếu như sản phẩm của vẽ được tạo nên bởi đường nét, màu sắc, bố
cục ; sản phẩm của nặn là hình khối, có độ sâu, độ cao, có thể đứng được,
sờ được… thì sản phẩm của xé- cắt dán là hình phẳng mà ở đó chúng ta có
thể sắp đặt, thay đổi vị trí của các hình mảng trên nền phẳng để tạo nên một
sản phẩm đặc sắc, độc đáo. Chỉ bằng những mảnh giấy vụn, nhỏ hoặc bằng
vài nét chấm phá đơn giản cũng giúp chúng ta tạo ra hình ảnh của những đồ
vật, con thú, hoa quả, con người theo ý mình muốn.
Theo tiếng Anh thì thuật ngữ “nghệ thuật cắt dán"được gọi là collage
đó là việc cắt, xé, dán từ giấy, vải hoặc từ các loại nguyên vật liệu khác để
tạo thành bức tranh ảnh yêu thích. Cắt dán tranh theo tiếng Hy Lạp được gọi
là “applicatio”- tức là sắp xếp, đặt lên- đó là phương pháp tạo nên hình ảnh
nghệ thuật từ những hình mảng có hình thù khác nhau được tạo ra từ một
loại vật liệu nào đó và dán lên hay khâu lên nền (là mặt phẳng )thích hợp…
Tranh xé- cắt- dán là một loại hình được thể hiện bằng phương pháp xé, cắt,
không gian xa gần, sáng tối… Chính kĩ thuật này đã cho phép các hoạ sỹ tạo
ra những cái đẹp ngẫu nhiên khi kết hợp giữa các mảng giấy màu với những
nét vẽ tay trong cùng một tác phẩm nghệ thuật.
Với tư cách là một trong các bộ phận của nghệ thuật tạo hình, chúng ta
đi tìm hiểu xem NTXDT có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của xã
hội và việc giáo dục con người?
4.2. Vai trò của nghệ thuật xếp dán tranh đối với đời sống xã hội
Việt Nam.
Như chúng ta đã biết, sự phát triển của nghệ thuật dân tộc nói chung,
nghệ thuật trang trí nói riêng luôn gắn liền với sự phát triển của lịch sử xã
hội và nhu cầu làm đẹp của cuộc sống con người Việt Nam. Ở Việt Nam,
tranh dán, cắt giấy ra đời và phát triển từ ngành nghệ thuật thủ công mỹ nghệ
bằng giấy và các loại chất liệu khác như tre, nứa, lá…để phục vụ cho nhu
cầu sinh hoạt văn hoá, tinh thần vui chơi, giải trí của các tầng lớp nhân dân
trong xã hội.
Với trẻ em Việt Nam, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được làm từ
giấy có sức hấp dẫn rất lớn bởi hình dáng ngộ nghĩnh, màu sắc tươi vui, sự
phong phú, đa dạng về loại hình, mẫu mã của các loại đồ chơi không hề đắt
tiền mà lại rất dễ kiếm như các loại đèn trung thu, các loại mặt nạ, đầu sư tử
làm bằng giấy bồi hay những cánh diều bay trên bầu trời. Tất cả những sản
phẩm đó đều được làm từ những mảnh giấy đủ màu sắc với bàn tay khéo léo
và óc tưởng tượng sáng tạo không ngừng của con người Việt Nam.
Là một bộ phận trong nghệ thuật trang trí nói chung, NTXDTTT có
tác dụng rất lớn, đem lại cho mỗi con người những kiến thức, thái độ và
những kĩ năng cần thiết trong quá trình học tập cũng như trong quá trình công
tác. Với những đặc điểm đặc trưng riêng, hoạt động xếp dán tranh trang trí còn
giúp con người có những hiểu biết nhất định về vẻ đẹp của hình mảng, màu
sắc, hình tượng… thông qua bố cục, tính nhịp điệu, sự tương quan và sự phối
hợp màu sắc của các hình mảng trên nền tranh.
Ngoài ra, NTXDTTT còn hình thành và phát triển ở người học khả
phương tiện tích cực để phát triển ở trẻ các khả năng hoạt động trí tuệ như:
óc quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng… bởi vì trong HĐTH trẻ có nhiều
cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu các đối tượng miêu tả để có được hiểu biết, hình
dung về các đối tượng đó, từ đó trẻ có thể xây dựng được các biểu tượng,
hình tượng.
Thông qua HĐTH, thị giác và ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển mạnh,
bởi vì trong giờ tạo hình trẻ cần phải biết quan sát, phân tích, so sánh…giữa các
phần, các bộ phận chi tiết của các sự vật, đối tượng hay các hiện tượng thiên
nhiên…vì thế nên trẻ sẽ có những biểu tượng rõ ràng về đối tượng tạo hình.
Cùng với các hoạt động khác, HĐTH cũng góp phần không nhỏ vào
việc giáo dục tình cảm, đạo đức và kĩ năng giao tiếp xã hội cho trẻ mầm
non bởi vì thông qua HĐTH chúng ta có thể giáo dục cho các em tình yêu cái
tốt, cái chính nghĩa và củng cố những tình cảm tốt đẹp đã sẵn có ở các em.
HĐTH là một hoạt động đặc biệt, nó không chỉ đơn thuần phản ánh
các ấn tượng, kinh nghiệm mà trẻ thu được từ thế giới xung quanh, mà nó
còn là sự biểu lộ thái độ, tình cảm của trẻ đối với những gì mà chúng thể
hiện, trải nghiệm. Khi tham gia vào các HĐTH, trẻ được tiếp thu và lĩnh hội
các chuẩn mực thẩm mĩ- đạo đức ở trong cuộc sống xã hội, đồng thời trẻ
cũng được trải nghiệm các xúc cảm, tình cảm của mình trong quá trình giao
tiếp và qua việc được tham gia đánh giá các hành vi văn hoá thông qua các
hình tượng, các sự kiện, hiện tượng được miêu tả trong sản phẩm tạo hình.
HĐTH cũng có ảnh hưởng đến sự hình thành cá tính của trẻ mẫu giáo
vì trẻ được thể hiện những ấn tượng về cuộc sống xung quanh thông qua các
sản phẩm của vẽ, nặn, xếp dán, chắp ghép… Những biểu tượng về cuộc sống
lao động của con người được trẻ thể hiện thông qua các sản phẩm tạo hình đã
hình thành những tình cảm đạo đức của trẻ đối với mọi người xung quanh.
Đây là điều kiện để hình thành ở trẻ tính chu đáo, ý thức cộng đồng, thói
quen chia sẻ, quan tâm chăm sóc tới người khác và hình thành các kĩ năng
giao tiếp xã hội cho trẻ.
HĐTH có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ
HĐTH, trẻ được làm quen với các vật liệu tạo hình (giấy, bút, kéo…)- đó
chính là một trong những công cụ đầu tiên để trẻ làm quen với các hoạt động
lao động của người lớn.
Việc nắm được các cách thức sử dụng nguyên vật liệu và dụng cụ tạo
hình đòi hỏi trẻ cần phải có sự vận dụng linh hoạt những thao tác lao động và
sử dụng sức lực. Đồng thời sự lĩnh hội các kĩ năng, kĩ xảo tạo hình của trẻ
còn gắn liền với các phẩm chất của nhân cách như: tính tập trung, tính kiên
trì, chịu khó… chính những phẩm chất này đã góp phần giáo dục trẻ biết yêu
lao động và cố gắng, nỗ lực để đạt kết quả như mong muốn, biết yêu quý,
trân trọng sản phẩm lao động của mình cũng như của mọi người xung quanh.
Để chuẩn bị vào trường phổ thông, đòi hỏi mỗi đứa trẻ cần phải có
một số những kĩ năng nhất định, HĐTH đã góp phần giúp trẻ có được một số
những kĩ năng cơ bản đó trước khi bước vào học ở truờng phổ thông.
Việc hình thành những nhân tố của hoạt động học tập có vai trò rất
quan trọng trong quá trình chuẩn bị cho trẻ bước vào trường phôt thông. Khi
trẻ học vẽ, nặn, xếp dán…thì những thành tố của hoạt động học tập như: biết
lắng nghe cô giảng, biết thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ, biết lựa chọn các
phương pháp thích hợp để giải quyết vấn đề, biết kiểm tra và đánh giá kết
quả dần dần được hình thành trong bản thân mỗi đứa trẻ. Bên cạnh đó,
những giờ học tạo hình còn tạo ra nhiều điều kiện cho việc hình thành ở trẻ
những phẩm chất cần thiết cho việc học tập ở trường phổ thông như tính tự
lực, tính tích cực, khả năng độc lập, tìm kiếm
Tóm lại, chúng ta có thể thấy rằng HĐTH là phương tiện quan trọng
để phát triển toàn diện nhân cách trẻ em. Tất cả các loại hình hoạt động như
vẽ, nặn, xếp dán, chắp ghép… đều ảnh hưởng đến việc giáo dục trí tuệ, đạo
đức, thẩm mĩ, thể lực và hình thành thói quen lao động cho trẻ mẫu giáo.
Đặc biệt, riêng đối với trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi, HĐTH còn có những ảnh
hưởng, những tác động không nhỏ tới việc chuẩn bị cho trẻ bước vào trường
phổ thông.
5.2. Các yếu tố tâm lí cơ bản ảnh hưởng đến khả năng tạo hình của
nhằm phân tích các tính chất, các thuộc tính của đối tượng miêu tả, đánh
giá và tổng hợp chúng. Quá trình này được thực hiện chủ yếu bằng các
vận động xem xét có chọn lọc của mắt trong đó không phải mọi thuộc tính
của sự vật đều được phản ánh với độ sâu sắc, đầy đủ như nhau và không
phải tất cả chúng đều có ý nghĩa như nhau trong việc hình thành hình
ảnh thẩm mĩ trọn vẹn"[42;20].
Tri giác được hình thành ngay từ tuổi ấu nhi, trong quá trình hoạt động
với đồ vật, tuy nhiên trong lứa tuổi này, dấu hiệu đồ vật mới chỉ là những
dấu hiệu bên ngoài mang tính chất ngẫu nhiên và còn rất mơ hồ. Khả năng tri
giác của trẻ được hoàn thiện dần theo lứa tuổi trẻ. Đến 5- 6 tuổi, trẻ đã có
khả năng tri giác đầy đủ và phản ánh trọn vẹn các đối tượng quan sát bởi vì
lúc này tri giác của trẻ đã mang tính chủ động hơn. Đây chính là đặc điểm cơ
bản, là nền tảng ban đầu giúp trẻ có thể tạo nên được những sản phẩm trang
trí mang tính thẩm mĩ cao.
• Cảm xúc:
Cảm xúc được coi là bàn đạp để thúc đẩy và định hướng cho hoạt
động nghệ thuật. Cảm xúc tạo hình được nảy sinh trong quá trình đứa trẻ
được tham gia vào hoạt động và đối mặt, va chạm với thực tiễn, đồng thời
được nắm bắt, lĩnh hội những kinh nghiệm biểu lộ những xúc cảm, tình cảm,
thái độ của mình bằng ngôn ngữ của nghệ thuật tạo hình. Đúng như
PGS.TS. Lê Thanh Thuỷ nói “Cảm xúc chính là cái tạo nên sự khác biệt
giữa hoạt động khoa học và hoạt động nghệ thuật”
Cảm xúc chính là động lực để thúc đẩy cảm hứng sáng tạo nghệ thuật
bởi vì chỉ khi thích thú với vẻ đẹp của đối tượng thì mới ham mê vẽ, ham mê
xé, cắt dán… và chỉ khi nào có ham mê mới có thể tìm ra điều thú vị của đối
tượng và như thế hoạt động mới đạt hiệu quả cao.
Có thể thấy rằng, trong HĐTH cảm xúc có một vai trò hết sức to lớn,
K. Đ. Usinxki đã nói “… không một cái gì, không từ ngữ, không suy nghĩ,
thậm chí không một hành động nào có thể thể hiện một cách rõ ràng thái độ
của chúng ta đối với thế giới xung quanh như cảm xúc. Ở đó chúng ta có thể