luận văn đại học sư phạm hà nội Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học ở Thị xã Thủ Dầu Một-Bình Dương giai đoạn 2005 - 2010 - Pdf 26

1
mở đầu
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận:
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho ngành giáo dục và đội
ngũ nhà giáo sự quan tâm lớn lao; Người đã khẳng định vai trò, nhiệm vụ của
nhà giáo: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và rất vẻ vang, và nếu không có
nhà giáo thì không có giáo dục”. “Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng
là nhà giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không
được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng
vô danh. Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà
xây dựng chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất
là vẻ vang”. “Muốn cho học sinh có đức thì thầy giáo phải có đức… cho nên
thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con”. Người đã giao
nhiệm vụ cho đội ngũ nhà giáo Việt Nam: “Nhân dân, Đảng và Chính phủ
giao nhiệm vụ giáo dục thế hệ tương lai cho các cô, các chú”. [34, tr 1].
Những tư tưởng đó chính là kim chỉ nam cho hoạt động của các nhà giáo Việt
Nam.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Nghề giáo viên là nghề
sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo”. Đảng và Nhà nước ta luôn chú
trọng đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Lịch
sử phát triển của xã hội cũng đã chứng minh rằng, một trong những quy luật
phát triển xã hội rất quan trọng không thể thiếu đó là sự nghiệp giáo dục và
đào tạo.
Tại Hội nghị BCH Trung ương Đảng khoá VII (ngày 14/1/1993) thảo
luận và ra Nghị quyết số 04 - NQ/HNTƯ về tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD-
ĐT. Tổng Bí thư Đỗ Mười đã phát biểu: "Để đảm bảo chất lượng của giáo
dục-đào tạo phải giải quyết tốt vấn đề về thầy giáo, kế thừa và phát huy
2
truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc ta. Phải đổi mới hệ thống Sư phạm,

của Thị xã Thủ Dầu Một nói riêng trong những năm gần đây có những bước
chuyển biến mạnh mẽ, mạng lưới trường lớp được duy trì và phát triển với
nhiều hình thức đa dạng, ngành giáo dục của Thị xã Thủ Dầu Một là một
trong bảy huyện đứng đầu của toàn Tỉnh. Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu phát
triển giáo dục đến năm 2010 của đất nước và của Thị xã Thủ Dầu Một , nhất
là việc đang thay sách ở các cấp ; việc tiến tới học 2 buổi mỗi ngày và nâng
dần tỷ lệ giáo viên Tiểu học có trình độ Cao đẳng, Đại học; tiến tới xây dựng
tất cả các trường Tiểu học ở Thị xã phải đạt chuẩn quốc gia, đòi hỏi ngành
giáo dục Tiểu học cần phải phấn đấu vươn tới một tầm cao mới. Điều mà ai
cũng nhận thức được đó là muốn nâng cao chất lượng giáo dục trước hết là
phải coi trọng công tác quy hoạch và đào tạo giáo viên, đây là lực lượng nòng
cốt quyết định chất lượng giáo dục.
Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và đòi hỏi thực tiễn của sự phát triển giáo
dục ở Bình Dương, chóng tôi chọn đề tài: "Một số biện pháp xây dựng và
phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học ở Thị xã Thủ Dầu Một-Bình Dương
giai đoạn 2005 - 2010".
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, đề xuất một số
biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học ở Thị xã Thủ
Dầu Một-Bình Dương, nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phục vô sự nghiệp
CNH-HĐH đất nước.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu:
3.1.1. Khách thể nghiên cứu:
- Quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học ở Thị xã
Thủ Dầu Một-Bình Dương.
3.1.2. Khách thể khảo sát:
4
- 36 CBQL(cấp Sở GD-ĐT, Phòng GD-ĐT, Trường CĐSP, Hiệu
trưởng trường Tiểu học) và 190 giáo viên trường Tiểu học.

Phân tích và hệ thống hoá các tài liệu lý luận, văn bản, nghị quyết; các
công trình đã nghiên cứu có liên quan. Các phương pháp này dùng để xây
dựng cơ sở lý luận, phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của đề
tài.
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm:
6.2.1. Phương pháp điều tra các loại khách thể bằng Anket thông
qua phiếu trưng cầu ý kiến:
Bước 1: Xây dựng phiếu điều tra:
Chúng tôi xây dựng 3 phiếu điều tra dùng để trưng cầu ý kiến của
CBQL cấp Sở, Phòng GD-ĐT, Trường CĐSP, Hiệu trưởng trường Tiểu học
và trưng cầu ý kiến của giáo viên trường Tiểu học với 12 loại câu hái.
Hệ thống câu hỏi ở mỗi loại phiếu điều tra được xây dựng trên cơ sở
khoa học quản lý và trong thực tiễn công tác của chúng tôi. Các câu hỏi đựơc
xây dựng mang tính lôgic từ khái quát cho đến cụ thể, phù hợp với mục đích
nghiên cứu nhằm khai thác những thông tin cần thiết về đối tượng nghiên
cứu.
Những câu hỏi điều tra gồm có câu hỏi đóng và các câu hỏi mở được
trình bày tương đối rõ ràng, dễ hiểu, thuận lợi cho khách thể trả lời;
Số lượng phiếu điều tra dành cho CBQL gồm: 36 phiếu
- Phiếu trưng cầu ý kiến của CBQL cấp Sở GD-ĐT: 09 phiếu; cấp
Phòng GD-ĐT: 05 phiếu; Trường CĐSP: 04 phiếu
- Phiếu trưng cầu ý kiến của Hiệu trưởng 18 trường Tiểu học bao gồm
18 phiếu;
Số lượng phiếu điều tra giáo viên gồm: 190 phiếu( mỗi trường từ 07
đến 15 phiếu tuỳ thuộc vào số lượng giáo viên ). Trong đó có 7 trường loại tốt
và 11 trường loại khá;
Bước 2: Điều tra:
6
Chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến các CBQL Sở GD-ĐT, phòng
GD-ĐT, trường CĐSP và 18 trường Tiểu học của Thị xã nhưng vẫn đảm bảo

- Chương 2: Thực trạng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giáo
viên Tiểu học ở Thị xã Thủ Dầu Một-tỉnh Bình Dương hiện nay.
- Chương 3: Mét sè biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên
Tiểu học ở Thị xã Thủ Dầu Một-Bình Dương giai đoạn 2005 - 2010.
- Kết luận và kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
1.1.VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ :
1.1.1. Ở nước ngoài:
Trong bất kỳ một lĩnh vực nào của xã hội thì giáo dục còng là lĩnh vực
liên quan mật thiết nhất tới sự phát triển toàn diện con người cũng nh sự phát
triển bền vững của một quốc gia. Vì vậy, ở Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã
phát biểu: “Phải tìm mọi cách để giải quyết tốt vấn đề giáo dục, cho dù ở các
mặt khác phải nhẫn nại một chút, thậm chí hy sinh một chút về tốc độ”, “Kế
hoạch lớn trăm năm phải lấy giáo dục làm gốc”,và “Giáo dục phải phục vụ
xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội phải dựa vào giáo
dục”.[37, tr 8].
Nhật Bản đã nhiều lần cải cách giáo dục theo hướng hiện đại hoá và
nhân văn hoá nên luôn xếp vào số những nước hàng đầu về chất lượng và
hiệu quả giáo dục. [44, 31].
Gần đây, trong “Thông điệp liên bang” (4/2/1997), Tổng thống Mỹ Bill
Clinton đã nhấn mạnh: “Nước Mỹ cũng đang thực thi một chiến lược giáo dục
mới nhằm khắc phục những mặt yếu kém của mình, nâng cao trình độ học
vấn (giáo dục phổ cập 13 và 14 năm) để mở rộng cửa các trường đại học cho
9
tất cả người Mỹ, đào tạo đội ngũ giáo viên tốt nhất, coi giáo dục là vấn đề an

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến chất lượng giáo dục, đặc biệt là
đội ngũ thầy cô giáo, Người còng đã chỉ rõ: “Vấn đề then chốt, quyết định
chất lượng giáo dục là phải xây dựng được đội ngũ đông đảo những người
làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc,
giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, tự bồi dưỡng nâng cao tay
nghề để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo”. Người luôn luôn
đánh giá cao vai trò của cô giáo, thầy giáo trong xã hội mới, coi họ là lớp
người vẻ vang của đất nước, vì nếu không có cô giáo, thầy giáo hết lòng dạy
dỗ con em nhân dân lao động ngày hôm nay thì không thể xây dựng được một
xã hội tốt đẹp trong tương lai, như mọi người mong muốn. [19, tr 183].
Trong toàn bộ di sản tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn
đề cơ bản nhất, nổi bật nhất là vấn đề xây dựng và hoàn thiện con người thông
qua hoạt động giáo dục và tự giáo dục. Đối với Người, nhân tố con người, với
những tinh hoa, như hiểu biết, năng lực, đạo đức là yếu tố then chốt, có tính
quyết định đối với thành công của cách mạng, tiến bộ của xã hội, tiền đồ của
dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Người từng nói: “Muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”, và “Vì lợi
Ých mười năm thì phải trồng cây, vì lợi Ých trăm năm thì phải trồng người”.
Tư tưởng giáo dục của Người có một vị trí vô cùng quan trọng. Đó là
nguồn ánh sáng soi đường cho sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam hơn
nửa thế kỷ qua và cả về sau này.
Ngoài ra, trong những năm gần đây có một số đề tài nghiên cứu về
chuyên ngành QLGD; các đề tài này chủ yếu nghiên cứu về vấn đề quản lý
hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường Tiểu học; xây dựng và phát triển
ĐNGV ở các trường CĐSP, THCS:
11
- Luận văn thạc sỹ của Phan Thị Thắng (năm 2003): “Một số biện pháp
quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường Tiểu học Quận Hoàn
Kiếm-Hà Nội”.
- Luận văn thạc sỹ của Bùi Đình Phúc (năm 2003): “Một số biện pháp

cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã
hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc đẩy sự tiến
bộ của cả xã hội lẫn cá nhân”. [1, tr 27].
2. Frederich Wiliam Taylor (1856-1915), Mỹ: “ Quản lý là nghệ thuật
biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp
tốt nhất và rẻ tiền nhất ”.
3. Harold Koontz (người Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu
nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được mục đích của
nhóm, mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường, trong đó con người
có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất
mãn cá nhân Ýt nhất”. [27, tr 32].
4. Paul Hersey và Ken Blanc Hard: “Quản lý nh quá trình cùng làm
việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng nh các nguồn lực khác để hình
thành các mục đích tổ chức”. [23, tr 12].
Khái niệm về quản lý của các tác giả ở Việt Nam:
“Quản lý” là từ Hán Việt được ghép giữa từ “Quản” và từ “Lý”.
“Quản” là sự trong coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lý” là
sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Nh vậy, “Quản lý” là trông coi,
chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu
cầu nhất định”. Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu
nhất định. [44, tr 800].
Các tác giả Việt Nam khái niệm về quản lý nh sau:
13
1. GS. Đặng Vũ Hoạt và GS. Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một
quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt
được những mục tiêu nhất định”. [24, tr 17].
2. GS.TS. Nguyễn Quang Uẩn: “Quản lý là quá trình tác động có mục
đích của chủ thể quản lý với tư cách là hệ thống nhằm đạt mục tiêu quản lý”.
[39].

quản lý với đối tượng quản lý. Khi chỉ ra chủ thể quản lý thì phải chỉ ra đối
tượng quản lý và ngược lại.
- Để trả lời được câu hỏi: Ai quản lý? Thì đó là chủ thể quản lý. Do đó,
chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức do người cụ
thể lập nên. cá nhân làm chủ thể quản lý được gọi chung là CBQL.
- Để trả lời được câu hỏi: quản lý ai?, quản lý cái gì?, quản lý sự việc
gì? thì đó là đối tượng quản lý. Do đó, đối tượng quản lý có thể là một cá
nhân, một nhóm hay một tổ chức hoặc có thể là một vật thể (cỗ máy, kho
tàng) hoặc có thể là sự việc (luật lệ, quy chế). Khi đối tượng quản lý là một cá
nhân, một nhóm hay một tổ chức được con người đại diện có thể trở thành
chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn theo hệ thống cấp bậc. Điều đó có nghĩa là
khi nói chủ thể hay đối tượng quản lý là người hoặc tổ chức được con người
đại diện phải đặt trong mối quan hệ tổ chức cụ thể.
Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua
lại tương hỗ nhau. Chủ thể quản lý nẩy sinh các động lực quản lý, còn khách
thể quản lý thì làm nẩy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu
của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý.
Công cụ quản lý là các phương tiện mà chủ thể quản lý dùng để tác
động đến đối tượng quản lý nh các văn bản luật, quyết định, chỉ thị, chương
trình, kế hoạch
Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối
tượng quản lý. Phương pháp quản lý rất phong phú và đa dạng: Phương pháp
thuyết phục, phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính-tổ chức, phương
15
pháp tâm lý-giáo dục ; tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các
phương pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau. Mục tiêu
quản lý là tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi Ých của con người.
Hoạt động quản lý có thể, thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ trong quản lý
Như vậy, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của

Chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch: Tổ chức là một quá trình
phân công và phối hợp các nhiệm vụ, sắp xếp nguồn lực theo những cách thức
nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã được vạch ra.
Để thực hiện vấn đề phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực, chức năng
tổ chức thực hiện những nội dung sau:
- Xác định cấu trúc của tổ chức
- Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực (gồm quy hoạch đội ngũ,
tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng, thẩm định, thuyên chuyển, đề bạt, sa thải )
- Xác định cơ chế hoạt động, các mối quan hệ của tổ chức
- Tổ chức lao động một cách khoa học của người quản lý.
Chức năng chỉ đạo điều hành kế hoạch: Chỉ đạo là phương thức tác
động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm điều khiển tổ chức vận
hành theo đúng kế hoạch để đạt được mục đích, mục tiêu đề ra.
Chức năng kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch: Hoạt
động kiểm tra bao gồm việc kiểm tra, giám sát, theo dõi, phát hiện tình huống
và kết quả hoạt động kiểm tra cũng là một quá trình tự điều khiển.
Các chức năng này liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chu trình
quản lý. Trong 4 chức năng trên, kiểm tra là chức năng cơ bản và quan trọng
nhất của quản lý. Theo thuyết hệ thống thì kiểm tra là quá trình thiết lập mối
liên hệ ngược trong quản lý, không có kiểm tra cũng đồng nghĩa với không có
quản lý.
Ngoài 4 chức năng cơ bản nêu trên, trong quá trình quản lý còn có 2
vấn đề quan trọng là: thông tin quản lý và quyết định quản lý.
Các chức năng này có mối liên hệ mật thiết với nhau và tạo thành một
chu trình quản lý
17
Quỏ trỡnh qun lý c th hin qua s sau:
S 1.2: Mi liờn h ca cỏc chc nng qun lý ( theo Paul Hersy v
Ken Blane Hard )
1.2.1.2. Khỏi nim qun lý giỏo dc:

tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào
tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát
triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ
mà cho mọi người. Cho nên, QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo
dục quốc dân”. [2, tr 31].
3. GS. VS. Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học,
thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình,
tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu
giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng
học sinh”. [18, tr 26].
Mặc dù quan niệm về QLGD có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng
đều nêu lên bản chất của QLGD là hệ thống những tác động có tính định
hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động
giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục trong một môi trường
luôn luôn biến động.
Các thành tố đó là:
- Mục tiêu giáo dục
- Nội dung giáo dục
- Phương pháp giáo dục
- Lực lượng giáo dục (Người dạy)
- Đối tượng giáo dục (Người học)
- Phương tiện giáo dục (điều kiện)
19
Trong quá trình QLGD nhà quản lý phải biết gắn kết các nhân tố vô
hình (MTGD, NDGD, PPGD) với các nhân tố hữu hình (thầy-trò-điều kiện)
để hướng tới mục đích giáo dục là hình thành nhân cách cho người học, thực
hiện nhiệm vụ GD-ĐT “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài”.
Khái niệm QLGD trên đây đồng nghĩa với quản lý hệ thống giáo dục có
thể là hệ thống các trường học đóng ở một địa phương xác định hoặc hệ thống

nhân lực phải được thừa nhận là nguồn vốn và là tài sản quan trọng nhất của
mọi loại hình quy mô tổ chức”.[11, tr 35].
Nguồn nhân lực là chỉ những người đang và sẽ bổ sung vào lực lượng
lao động xã hội đa dạng và phong phó, bao gồm các thế hệ trẻ đang được nuôi
dưỡng, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và cao
đẳng, đại học. Nói đến NNL, mới chỉ đề cập tới tiềm lực; còn khi tiến hành
đào tạo, sử dụng phát huy phát triển NNL nó mới trở thành lực tác động tới
phát triển kinh tế - xã hội. [45, tr 243].
Theo PGS. TS Đặng Quốc Bảo: “Nguồn nhân lực được quan niệm là
tổng thể tiềm năng lao động của một đất nước, một cộng đồng cả trong “độ
tuổi lao động” và ngoài “độ tuổi lao động”; nó được quản lý chăm sóc và phát
triển đối với cá nhân con người từ tuổi Êu thơ, tuổi vị thành niên, tuổi lao
động và cả sau thời kỳ tuổi lao động”. [4, tr 69].
Nguồn nhân lực (Human resources) hay còn gọi là “vốn con người”
(Human capital) chính là nguồn lực con người, nhân tố con người trong một
tổ chức, một tập hợp cụ thể.
Theo UNESCO: “Con người vừa là mục đích, vừa là tác nhân của sự
phát triển” và “Con người được xem như là một tài nguyên, một nguồn lực
hết sức cần thiết”. Ngân hàng thế giới quan niệm có 2 loại vốn: “Vốn con
người và vốn vật chất, trong đó sự phát triển vốn con người quyết định sự
phát triển của mọi vốn khác”.
21
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực (NNL) được hiểu là toàn bộ lực lượng
lao động có khả năng lao động, đang có việc làm hoặc chưa có việc làm. Xét
trong phạm vi một đơn vị, một cơ quan Nhà nước hay một địa phương.
Nguồn nhân lực chính là toàn bộ lực lượng lao động của đơn vị, cơ quan hay
một địa phương nào đó.
1.2.2.2. Quản lý nguồn nhân lực:
Theo GS.TS Nguyễn Quang Uẩn: “Quản lý nguồn nhân lực là quá trình
hoạch định nguồn nhân lực: tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn

môi trường sống tự nhiên của con người được trong lành, đảm bảo sự bình
đẳng giới, bình đẳng dân tộc vvv…
Theo viện nghiên cứu chiến lược phát triển giáo dục: “Phát triển nguồn
nhân lực được hiểu về cơ bản là làm gia tăng giá trị của con người về mặt trí
tuệ, đạo đức, thể lực và thÉm mỹ; làm cho con người trở thành những người
lao động có năng lực và phẩm chất mới, cao hơn”. [45, 243].
Phát triển nguồn nhân lực (NNL) là tạo ra sự tăng trưởng bền vững về
hiệu suất của mỗi thành viên và hiệu quả chung của tổ chức gắn liền với việc
tăng lên về mặt chất lượng và số lượng của đội ngũ, cũng nh chất lượng sống
của nhân lực.
Theo chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) trong cuốn
“Đầu tư vào tương lai” (Investing the future) năm 1990 thì có 5 nhân tố của
sự phát triển nguồn nhân lực gồm các yếu tố: Giáo dục-Đào tạo, sức khoẻ và
dinh dưỡng, môi trường, việc làm, tù do chính trị và kinh tế. Trong đó yếu tố
giáo dục và đào tạo là quan trọng nhất.
Trên bình diện quản lý vĩ mô, phát triển NNL (tài nguyên nhân sự)
chính là “Việc thực hiện tốt các chức năng và công cụ quản lý nhằm có được
một đội ngũ cán bộ công nhân viên của tổ chức phù hợp về mặt số lượng và
có chất lượng cao”. [11, tr 24].
23
- S dng hp lý NNL: Tuyn dụng, s dụng, sng lc, b trớ, ỏnh giỏ,
ói ng.
- Nuụi dng mụi trng cho NNL phỏt trin: M rng chng loi, quy
mụ vic lm, phỏt trin t chc.
Theo Leonard Nadle (M) nm 1980, qun lý ngun nhõn lc th hin
qua s sau:
S 1.3: Qun lý ngun nhõn lc: [11, tr 26].
( Human Resources Management )
i hi ng VIII ó nờu: Phng hng chung ca lnh vc GD-T
l phỏt trin NNL ỏp ng yờu cu CNH-HH, phỏt huy ngun lc con ngi

loại việc làm
- Mở rộng quy
mô việc làm
- Phát triển tổ chức
24
1.2.3. Lý luận về ĐNGV Tiểu học.
1.2.3.1. Khái niệm đội ngò:
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người,
cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng”. [44, tr 339].
Khái niệm đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách khá
rộng rãi nh: Đội ngũ tri thức, đội ngũ những người viết văn, đội ngũ nhà giáo.
Tuy nhiên ở một nghĩa chung nhất chúng ta hiểu: Đội ngũ là tập hợp một số
đông người, hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng,
có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nghề, nhưng có chung mục đích xác định;
họ làm việc theo kế hoạch và gắn bó với nhau về lợi Ých vật chất và tinh thần
cụ thể.
Nh vậy, khái niệm về đội ngũ có thể diễn đạt một cách khác nhau,
nhưng đều thống nhất: Đó là một nhóm người, một tổ chức, tập hợp thành
một lực lượng để thực hiện mục đích nhất định. Do đó, dù khái niệm đội ngũ
có thể diễn đạt một cách khác nhau thì người quản lý nhà trường đều phải xây
dựng gắn kết các thành viên tạo ra đội ngũ, trong đó mỗi người có thể có
phong cách riêng, song khi đã được gắn kết thành một khối thì mỗi cá nhân
phải có sự thống nhất cao về mục tiêu cần đạt tới và có cùng một nhiệm vụ.
1.2.3.2. Khái niệm ĐNGV: Điều 61 Luật giáo dục viết:
Nhà giáo: là người làm nhiệm vụ giảng dạy,giáo dục trong nhà trường
hoặc các cơ sở giáo dục khác.
Nhà giáo có những tiêu chuẩn sau đây:
- Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt.
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ.
- Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp. Lý lịch bản thân rõ ràng.

Để xây dựng và phát triển ĐNGV cần có những tác động của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý, sự tác đó chính là những cách thức, con
đường, điều kiện và biện pháp để thực hiện.

Trích đoạn Nguyờn nhõn: Nhận thức về sự cần thiết để xõy dựng và phỏt triển ĐNGV Tiểu học: Thực trạng về cỏc biện phỏp xõy dựng và phỏt triển ĐNGV Tiểu học: Đỏnh giỏ thực trạng về cỏc biện phỏp xõy dựng và phỏt triển ĐNGV Tiểu học: (đó thực hiện) Định hướng phỏt triển kinh tế-xó hội của tỉnh Bỡnh Dương giai đoạn 2005-2010:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status