SKKN Biện pháp dạy môn Tập đọc cho học sinh dân tộc thiểu số - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
" BIỆN PHÁP DẠY MÔN TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH DÂN TỘC
THIỂU SỐ"
A. CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm học 2013 – 2014 thực hiện đổi mới chương trình thay sách giáo khoa bậc Tiểu học
đã hơn 10 năm ( 2002 – 2013 ). Cùng với vấn đề trên thì mục tiêu giảng dạy trong nhà
trường có nhiều đổi mới cả về chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức
dạy và học để phù hợp với xu thế chung. Trong đó, việc đổi mới phương pháp dạy, hình
thức tổ chức còn có nhiều nguyên nhân cả khách quan cũng như chủ quan dẫn đến việc
bất cập chưa theo kịp xu thế.
Chúng ta ai cũng biết tiếng Việt ảnh hưởng rất lớn đến trình độ học Toán và các môn học
khác. Vì vậy phải làm thế nào để rèn kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh như: nghe, nói, đọc,
viết . . . nhằm giúp các em sử dụng tiếng Việt có hiệu quả trong học tập giao tiếp hằng
ngày tốt hơn. Theo quan điểm của triết học Mác – Lê Nin thì “Ngôn ngữ là phương tiện
để con người giao tiếp trong xã hội; . . . ngôn ngữ là yếu tố quan trọng để phát triển tâm
lí, tư duy của con người và xã hội loài người.”
Trong thực tế hiện nay việc dạy và học môn Tiếng Việt vẫn còn nhiều vấn đề khúc mắc,
đặc biệt ở phân môn Tập Đọc cả về phía giáo viên và học sinh. Mỗi giờ dạy Tập Đọc là
mỗi giờ giáo viên phải vất vả, khó khăn để truyền thụ kiến thức cho các em, mà đa số đối
tượng học sinh là người dân tộc thiểu số. Cùng với thực hiện đổi mới chương trình thay
sách giáo khoa, nên việc giảng dạy vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, nhất là phương pháp
và hình thức tổ chức dạy học. Bởi nếu chỉ đổi mới về nội dung, chương trình sách giáo
khoa mà không ngừng đưa ra các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mới phù hợp
với mục tiêu bài giảng thì hiệu quả không cao.
Để nâng cao hiệu quả dạy và học môn Tiếng Việt bậc Tiểu học nói chung và Lớp 3 nói
riêng. Người giáo viên áp dụng tốt các phương pháp dạy học tích cực, cùng với kinh
nghiệm trong quá trình giảng dạy bộ môn Tiếng Việt. Giữ đúng vai trò là người thiết kế,
chỉ đạo các hoạt động học tập của học sinh, hướng dẫn học sinh tìm hiểu và đạt được mục
tiêu của mỗi bài tập đề ra.

ở tất cả các lớp là ngữ liệu dạy học cho các phân môn khác trong môn Tiếng Việt.
Chính vì kỹ năng đọc các em còn rất yếu, dẫn đến kết quả học tập chưa cao.
Cụ thể: Năm học 2011- 2012 tôi trực tiếp giảng dạy lớp 3, qua khảo sát chất lượng đầu
năm của lớp tôi, với phân môn Tập Đọc là:
- TSHS: 27 em ( 100% các em là người dân tộc Hre ), trong đó:
+ Biết đọc to, rõ ràng, ngắt nghỉ hơi đúng: chiếm 14.8%.
+ Đọc ở mức trung bình; chưa nắm được nội dung bài: chiếm 74.1%.
+ Chưa biết đọc: chiếm 11.1%.
Dựa vào thực tế của lớp, tôi nhận thấy các em còn học rất yếu về phân môn Tập Đọc, kéo
theo các môn học khác các em cũng không thể học tốt được.
Làm thế nào để dạy cho các em viết được, đọc được, đến đọc thông viết thạo và hiểu
được nội dung của bài Tập Đọc. Đây là vấn đề đang được Xã hội; ngành giáo dục và đặc
biệt là những giáo viên trực tiếp giảng dạy đối tượng học sinh là người đồng bào dân tộc,
quan tâm.
Chính vì lẽ đó, ngay từ đầu năm học tôi đã nghiên cứu kĩ chương trình, mục tiêu cần đạt
được đối với môn học để có hướng và biện pháp phù hợp trong giảng dạy phân môn Tập
Đọc, nhằm nâng cao hiệu quả nhất. Đó chính là lý do để tôi chọn đề tài này.
B. CHƯƠNG 2
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
1. Đặc điểm tâm, sinh lí
- Ở lứa tuổi này cơ thể của các em phát triển khá hoàn thiện, bộ máy cấu âm cũng khá
hoàn chỉnh. Song đặc điểm tâm, sinh lí nổi bật của các em là:
+ Còn ham chơi: Vì các em chưa quan tâm đến việc học tập và do phong tục tập quán của
người dân, khi cần các em có thể bỏ học nhiều ngày để đi chơi. Nhiều em đến lớp chỉ với
mục đính đơn giản là có nhiều bạn để chơi.
+ Rụt rè, nhút nhát: Cho dù các em đã học đến lớp 3, đã quen với trường lớp, bạn bè, thầy
cô, nhưng các em vẫn không tự tin vào mình. Trong học tập, thầy cô hỏi thì cứ ngồi lì
một chỗ không dám đứng lên trả lời cho dù các em đã biết câu trả lời. Nhiều em thấy
thầy, cô đến nhà là bỏ chạy, thấy thầy cô là trốn

đúng nội dung.
- Nói chung, nhận thức của các em còn yếu, vì thế việc truyền thụ kiến thức cho các em
là rất khó khăn cho giáo viên. Đây chính là sự băn khoăn của tất cả giáo viên đang công
tác tại nơi này.
II. THỰC TRẠNG
1. Thuận lợi:
Được sự quan tâm của BGH trường, thường xuyên đôn đốc nhắc nhở, dự giờ thăm lớp
khi dạy phân môn Tập Đọc từ lớp 1 đến lớp 5.
Trong những năm qua Phòng Giáo Dục cũng như Trường đã tổ chức nhiều đợt
tập huấn, hội giảng, sinh hoạt chuyên đề. . . để giáo viên được giao lưu học hỏi kinh
nghiệm của nhau.
- Tổ chức thao giảng, dự giờ học hỏi, hội thảo chuyên đề trong nhà Trường.
- Thực hiện công văn hướng dẫn: Công văn 5842/BGDĐT: “V/v hướng dẫn điều chỉnh
nội dung dạy học” Giao quyền chủ động cho giáo viên về việc điều chỉnh thời lượng
trong tiết dạy và điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp với đối tượng học sinh theo chuẩn
kiến thức kỹ năng. Thực hiện QĐ 16/2006/QĐ - BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006.
- Thực hiện theo công văn 9832/ BGDĐT- GDTH ngày 01- 9- 2006 “ HD thực hiện
chương trình các lớp 1 – 2 – 3 – 4 – 5 ở tiểu học”, BGH Trường phân bố hợp lí các tiết
dạy môn Tiếng Việt/tuần/5 khối lớp.
- Học sinh được mượn sách giáo khoa ( Sách Tiếng Việt ) ở Thư Viện tương đối đầy đủ.
- Cơ sở vật chất lớp học tương đối đảm bảo cho việc dạy và học.
2. Khó khăn.
a. Do ảnh hưởng từ tiếng mẹ đẻ của các em:
- Học sinh dân tộc khi tới trường mới bắt đầu tiếp xúc làm quen và học tập bằng một
ngôn ngữ hoàn toàn mới là tiếng Việt. Các em không có thời gian để học nói tiếng Việt
trước, cũng không có điều kiện để tiếp xúc, để được mọi người xung quanh dạy nói một
cách tự nhiên như học sinh người Kinh. Như vậy, ngay những ngày mới tới trường, học
sinh phải học đồng thời cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết khi học tiếng Việt. Các em
phải làm quen với một hệ thống ngữ âm không hoàn toàn giống với tiếng mẹ đẻ. Với
người học ngôn ngữ thứ hai thì học phát âm đúng âm vần đóng vai trò quan trọng ; khi đã

Nói chung, việc ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ của các em đã làm cho việc dạy Tập
đọc hết sức khó khăn và đây là khó khăn bậc nhất cho giáo viên.
b. Do giáo viên chưa giao tiếp được bằng ngôn ngữ của các em:
- Đa số giáo viên công tác tại trường này đều là người Kinh. Vì vậy, hầu hết giáo viên
chưa nói được ngôn ngữ của các em. Đó là điều bất cập cho giáo viên trong việc dạy
tiếng Việt, đặc biệt là trong dạy Tập đọc cho các em. Cụ thể:
+ Khi giải nghĩa từ cho các em: Rất nhiều em chưa hiểu nghĩa của các từ mà khi giải
nghĩa từ, giáo viên sử dụng tiếng Việt để giải nghĩa thì làm cho các em mơ hồ thêm và
cuối cùng các em không biết từ đó có nghĩa như thế nào. Vì vậy, khi giải nghĩa từ ngoài
việc sử dụng đồ dùng trực quan, giáo viên cần phải sử dụng tiếng của các em để giải
nghĩa từ nhằm giúp các em hiểu được nghĩa của từ đó.
+ Nếu giáo viên nắm được ngôn ngữ của các em thì sẽ có biện pháp giúp các em đọc
đúng, đọc chuẩn chính âm của tiếng Việt, nhất là khi hướng dẫn các em đọc hiểu và đọc
diễn cảm.
c. Do chương trình và sách giáo khoa mới:
- Chương trình – sách giáo khoa mới khá nặng về kiến thức đối với học sinh, nhất là học
sinh ở vùng bản. Nội dung kiến thức thì nhiều, trong khi vốn ngôn ngữ tiếng Việt của các
em lại có hạn, nên việc truyền đạt kiến thức cho học sinh trong 40 phút là điều quá khó
khăn. Ở nước ta, nền giáo dục đã có sự điều chỉnh và giảm tải cho các đối tượng học sinh,
dù thuận lợi hay khó khăn đều học một chương trình và sách giáo khoa, nên vẫn còn thiệt
thòi cho các học sinh vùng khó. Nên chăng cần phải có sự chỉnh sửa hợp lí đối với học
sinh vùng khó và chuẩn kiến thức riêng, để tất cả các em có khả năng đạt theo chuẩn kiến
thức kỹ năng đã quy định.
d. Do tầm quan trọng của bài tập đọc trong môn Tiếng Việt lớp 3:
- Phân môn Tập Đọc lớp 3 mỗi tuần có 3 tiết, trong đó rất nhiều bài tập đọc lại là ngữ liệu
dạy học của các phân môn khác ( Chính Tả; Kể Chuyện; Luyện Từ và
Câu; Tập Làm Văn ). Vì vậy, chỉ khi đọc được, hiểu được bài Tập Đọc đó thì các em mới
có thể vận dụng vào các phân môn khác. Chính vì thế, càng khó khăn và nặng nề cho
giáo viên khi dạy Tập đọc.
III. CÁC BIỆN PHÁP DẠY – HỌC MÔN TẬP ĐỌC LỚP 3 CHO HỌC SINH DÂN

* Tuy nhiên, khi sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, giáo viên cần chú ý:
+ Đồ dùng dạy học phải rõ ràng về nội dung và hình thức.
+ Đồ dùng dạy học phải đúng và đầy đủ với yêu cầu của bài học, không nên sử dụng
những đồ dùng dạy học chỉ có nêu một nghĩa so với yêu cầu hoặc chỉ là vật tượng trưng
cho yêu cầu của vấn đề. Bởi nếu như vậy làm cho học sinh hiểu một cách phiến diện hoặc
chung chung về vấn đề cần giải thích.
+ Không được lạm dụng đồ dùng dạy học trực quan, phải nắm rõ yêu cầu của bài học để
lựa chọn và đưa ra các đồ dùng dạy học, tài liệu trực quan có chất lượng và sử dụng đúng
mục đích dạy học đã xác định.
3. Biện pháp dạy – học Tập đọc cho các nhóm đối tượng học sinh trong lớp.
3.1. Nhóm học sinh khá giỏi
a. Hướng dẫn đọc – học thuộc lòng
- Đọc thành tiếng:
+ Đọc mẫu: Việc đọc mẫu với đối tượng học sinh này, giáo viên có thể phân 1 hoặc 2 em
đảm nhiệm, việc đọc mẫu bao gồm:
. Đọc toàn bài: Thường nhằm giới thiệu, gây cảm xúc, tạo hứng thú và tư thế đọc cho học
sinh. Căn cứ trình độ đọc của học sinh mà giáo viên yêu cầu đọc 1 đến 2 lần theo mục
đích đề ra.
. Đọc từ, cụm từ: Nhằm sửa phát âm sai và rèn luyện cách đọc đúng cho học sinh. Phần
này giáo viên phải chú ý đến từng học sinh vì các em thường phát âm không đúng với
chuẩn chính âm của tiếng Việt.
- Dùng lời nói, kết hợp với chữ viết, kí hiệu và đồ dùng dạy học để hướng dẫn cách nghỉ
hơi, tốc độ đọc, giọng đọc thích hợp ( Thường phần này học sinh vùng
này đọc sai nhiều, nhiều em không biết cách ngắt câu, nghỉ hơi, còn chẻ từ ra để đọc,
…). Vì vậy, giáo viên cần chú ý hướng dẫn kĩ phần này.
- Tổ chức đọc cá nhân ( Đọc trong nhóm, đọc trước lớp ), đọc đồng thanh ( Cả nhóm, cả
tổ, cả lớp ); nhận xét cách đọc của học sinh, sửa lỗi phát âm hoặc lỗi thể hiện nội dung
qua giọng đọc cho học sinh.
Trong việc luyện đọc cho học sinh, giáo viên cần biết nghe học sinh đọc để có cách rèn
luyện thích hợp với từng em và cần khuyến khích học sinh trong lớp trao đổi, nhận xét về

học sinh đó hoặc tạo điều kiện để học sinh khác giải thích giúp, không nhất thiết phải đưa
ra giảng giải chung cho cả lớp.
- Cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của từ ngữ: học sinh có thể tự tìm hiểu nghĩa
của từ ngữ bằng cách hiểu biết của mình. Bên cạnh đó, giáo viên cũng có thể dựa vào vốn
từ học sinh đã có để giải nghĩa, giải nghĩa bằng đồ dùng dạy học (hiện vật, tranh vẽ, mô
hình,…), dùng tiếng mẹ đẻ của các em hoặc cho học sinh làm những bài tập nhỏ để nắm
nghĩa của từ ngữ. Ví dụ:
+ Dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa hoặc từ ngữ thông dụng ở địa phương, tranh, ảnh, vật
thật,…để giải nghĩa từ đó.
+ Đặt câu với từ ngữ đó.
+ Miêu tả sự vật, hoạt động, trạng thái, đặc điểm hoặc tính chất được gọi tên bằng từ ngữ
đó.
- Điều cần chú ý là dù giải nghĩa từ ngữ theo cách nào cũng chỉ nên giới hạn trong phạm
vi nghĩa cụ thể ở bài học, không mở rộng ra những nghĩa khác, nhất là những nghĩa xa lạ
với học sinh. Giải nghĩa từ ngữ là một phần rất nhỏ trong giờ Tập Đọc. Vì vậy, không
nên đưa ra những biện pháp giải nghĩa cồng kềnh vừa gây quá tải, vừa làm mất thời gian
luyện đọc của học sinh.
* Giúp học sinh nắm vững câu hỏi ( bài tập ) tìm hiểu bài:
- Phạm vi nội dung cần tìm hiểu:
+ Nhân vật ( số lượng, tên, đặc điểm ), tình tiết của câu chuyện.
+ Ý nghĩa của câu chuyện, của bài văn, bài thơ.
- Cách tìm hiểu nội dung bài đọc: Phương hướng và trình tự tìm hiểu nội dung bài đọc
thể hiện ở những câu hỏi và bài tập đặt sau mỗi bài, giáo viên nêu các câu hỏi giúp học
sinh tái hiện nội dung bài đọc ( câu hỏi tái hiện ), sau đó đặt ra những câu hỏi giúp các
em nắm được những vấn đề thuộc tầng sâu hơn như ý nghĩa của bài, tính cách nhân vật,
thái độ của tác giả ( câu hỏi suy luận ). Dựa vào hệ thống câu hỏi và bài tập trong sách
giáo khoa, giáo viên tổ chức sao cho mỗi học sinh đều được làm việc để tự mình nắm
được bài.
Sách giáo khoa chỉ có thể nêu những vấn đề chính cần thảo luận. Để giúp học sinh hiểu
bài, giáo viên cần có thêm những câu hỏi phụ, những yêu cầu, những lời giải bổ sung.

em phát âm nhiều lần. Đối với những em phát âm sai khó sửa chữa giáo viên đọc mẫu,
nêu cách đọc rồi yêu cầu các em đó đọc lại. Thực hiện như thế nhiều lần các em sẽ có kỹ
năng phát âm tốt hơn.
- Rèn đọc ngắt nghỉ hơi đúng dấu câu: Giáo viên viết sẵn câu cần luyện đọc vào bảng phụ
để hướng dẫn học sinh đọc.
Trong quá trình rèn đọc cho học sinh, gồm nhiều hình thức đọc như: Đọc cá nhân, đọc
theo nhóm, đọc đồng thanh, đọc theo vai. Trong khi học sinh đọc giáo viên và học sinh
khác đều phải chú ý theo dõi để nhận xét, nhận xét chỗ chưa được của học sinh, nhằm
giúp các em rút kinh nghiệm để đọc tốt hơn.
Ngoài việc hướng dẫn học sinh đọc thành tiếng, có kỹ năng đọc to, rõ ràng, lưu loát. Giáo
viên cần chú ý hướng dẫn các em có kỹ năng đọc thầm.
Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh nhằm định hướng việc đọc- hiểu ( đọc câu,
đoạn hay khổ thơ nào? Đọc để biết, hiểu nhớ điều gì? )
Ví dụ:
+ Dạy bài tập đọc “ Cửa Tùng” ( TV1 SGK )
- Giáo viên hướng dẫn học sinh kỹ năng đọc thầm trong khi tìm hiểu bài:
Giáo viên yêu cầu: Em hãy đọc thầm đoạn 3 và tìm hiểu:
+ Sắc màu nước biển Cửa Tùng vào buổi bình minh?
+ Sắc màu nước biển Cửa Tùng vào buổi trưa?
+ Sắc màu nước biển Cửa Tùng vào buổi chiều tà?
Sau khi học sinh đọc thầm đoạn 3 học sinh sẽ nhớ và khắc sâu hình ảnh sắc màu nước
biển Cửa Tùng thay đổi ba lần trong một ngày.
Đối với những bài Tập Đọc có yêu cầu học thuộc lòng, giáo viên cho học sinh luyện đọc
kỹ hơn để ghi nhớ. Có thể ghi bảng một số từ làm “điểm tựa” để học sinh tự nhớ và đọc
thuộc toàn bộ; hoặc tổ chức cuộc thi hay trò chơi luyện học thuộc lòng một cách nhẹ
nhàng gây hứng thú cho học sinh.
3.3. Rèn kỹ năng đọc cho nhóm học sinh chưa biết đọc.
a. Luyện đọc ôn bảng chữ cái:
a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư x y.
- Luyện viết lại bảng chữ cái ( sau khi học thuộc ) vào bảng con, vào vở.

Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể trong vở bài tập ( giáo viên đã ghi sẵn ) hoặc sách giáo
khoa để học sinh luyện đọc.
- Kiểm tra thường xuyện việc học tập bài cũ và sự chuẩn bị bài mới của học sinh 15 phút
truy bài đầu giờ, do nhóm trưởng và cán sự lớp thực hiện cùng với giáo viên chủ nhiệm.
- Trong mỗi bài soạn giáo viên cần xác định kĩ mục tiêu bài dạy phù hợp với các nhóm
đối tượng học sinh trong lớp, chuẩn bị chu đáo về tranh ảnh, bảng phụ ghi sẵn nội dung
hướng dẫn luyện đọc. Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính
tích cực ở học sinh.
- Tổ chức nhiều hình thức học tập hướng dẫn các em có ý thức rèn đọc không chỉ ở tiết
Tập đọc mà ở mọi lúc mọi nơi ( Ở Lớp, ở nhà, ở Thư viện hay trong tiết kể chuyện ), cần
tăng cường đọc truyện Thiếu nhi, Sách, Báo Thiếu niên, Nhi đồng . . ., việc làm đó giúp
các em đọc lưu loát hơn và các em tự trao đổi thêm vốn kiến thức cho bản thân.
- Hệ thống câu hỏi phần tìm hiểu bài giáo viên cần phân tích nhỏ từ câu hỏi Sách Giáo
Khoa, lôgic, chặt chẽ dễ hiểu có sự gợi ý để học sinh trả lời được.
- Thường xuyên tổ chức các cuộc thi nhỏ trong mỗi tiết như: thi đọc, thi đọc thuộc lòng,
thi đọc theo vai, thi đọc cá nhân, nhóm, cả lớp . . . để tạo tinh thần thi đua, thích thú của
học sinh.
- Có sự đánh giá, nhận xét, kết quả học tập của học sinh; động viên khuyến khích các em
kịp thời ( dù sự tiến bộ nhỏ nhất ) để các em tự tin hơn vào khả năng của mình.
- Tăng thời lượng tối đa cho phân môn Tập Đọc là 40 phút/ tiết.
- Thực hiện “ Đôi bạn cùng tiến” trong tiết dạy Tập đọc.
3.5. Kết quả.
Năm học 2011 – 2012 tôi trực tiếp giảng dạy lớp 3A. Qua khảo sát chất lượng đầu năm
của lớp tôi, với phân môn Tập đọc là:
- Tổng số học sinh: 27 – 100% các em là người dân tộc Hre, trong đó:
+ Biết đọc to, rõ ràng, ngắt nghỉ hơi đúng: chiếm 14.8%.
+ Đọc ở mức trung bình, đọc đánh vần; chưa nắm được nội dung bài: chiếm 74.1%.
+ Chưa biết đọc: chiếm 11.1%.
Kết quả sau một năm học trong quá trình áp dụng đề tài.
- Các em đã tự giác học và sử dụng tiếng Việt mọi nơi, mọi lúc: trong các tiết học trên

em đã biết đọc, biết viết.
C. CHƯƠNG 3
KẾT LUẬN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Trên 10 năm công tác tại vùng miền núi – là người giáo viên giảng dạy đối tượng học
sinh đa số là người dân tộc Hre. Xuất phát từ lòng yêu thương các em, tôi như đọc được
trong ánh mắt của các bậc phụ huynh sự gửi gắm “ Chúng tôi chỉ biết làm ruộng để lấy
lúa gạo nuôi con, nhưng để dạy con biết được cái chữ thì phải trông cậy vào các Thầy, Cô
giáo . . .”; sự khao khát nói được tiếng Việt, viết được tiếng Việt, được giao tiếp và tham
gia các hoạt động trong nhà trường của phần lớn các em. Qua quá trình dạy học thực tế,
dựa vào phương pháp sư phạm đã học, học tập kinh nghiệm của đồng nghiệp, kết hợp cải
tiến một số kỹ năng nhỏ. Tôi đã miệt mài nghiên cứu tìm ra giải pháp phù hợp nhất để áp
dụng trong từng tiết dạy, và nhất là dạy các em đọc thông viết thạo tiếng Việt.
Bên cạnh đội ngũ giáo viên có kiến thức, lòng nhiệt tình, ý thức trách nhiệm cao. Chúng
ta cần phải dựa vào đặc điểm tâm sinh lý, đối tượng học sinh để xác định mục tiêu bài
dạy có nội dung phân hóa phù hợp với trình độ tiếp thu của các nhóm đối tượng học sinh
trong lớp. Áp dụng các biện pháp đã nêu trên, trong từng tiết dạy Tập đọc, có nghĩa là
chúng ta đã rèn luyện thành công cho các em đọc thành thạo ngôn ngữ tiếng Việt, hiểu
nội dung văn bản và giao tiếp được với mọi người bằng ngôn ngữ tiếng Việt. Từ việc đọc
được hiểu được ngôn ngữ tiếng Việt các em sẽ thấy sự phong phú của tiếng Việt. Tạo cho
các em hứng thú trong từng tiết học Tập Đọc nói riêng và các phân môn khác của môn
Tiếng Việt nói chung. Qua từng tác phẩm văn học, các em sẽ tìm được những cái hay, cái
đẹp và học tập theo. Từ đó bồi dưỡng cho các em phẩm chất đạo đức và nhân cách con
người mới – đẹp và trong sáng về tâm hồn, thông minh về trí tuệ.
Người viết
Nguyễn Thị Bích Vân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status