MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Sự nghiệp công nghiệp, hoá hiện đại hoá đất nước cùng với sự bùng nổ
của công nghệ thông tin của nhũng tri thức mới, sự tăng lên gấp bội của sáng
tạo công nghệ và kỹ thuật, sự mở rộng của các ngành nghề… đòi hỏi con
người phải có tầm hiểu biết sâu - rộng, có tri thức, có năng lực tự học, tự tu
dưỡng để thích ứng.
Trong quá trình học tập ở trường đại học, cao đẳng của sinh viên thì tự
học, tự nghiên cứulà rất quan trọng và là cái ranh giới học tập – nghiên cứu
khoa học là gần gũi, khó phân định. Nhưng để học tốt, nghiên cứu khoa học
có hiệu quả thì sinh viên cần khai thác và quan tõmđỳng mức về vai trò “cầu
nối” của phương pháp tự học.
Để tự học phải có tài liệu tự học, tự hiểu và tự vận dụng.Nhưng các tài
liệu đang cú hiờn naychủ yếu là dùng để học mà còn thiếu nhiều điểm giúp đỡ
cho tự học của sinh viên như giáo trình Động cơ đốt trong, Vẽ kỹ thuật cơ
khí, Cơ học lý thuyết… Đã có nhiều tác giả nghiên cứu và viết ra những tài
liệu dạng tương tự nhưng cái mới của những đề tài này là có thêm phần chú
thích, gợi mở hướng dẫn người đọc tự mầy mò ra những lỗi sai của mình để
sửa. Vì vậy xây dựng được tài liệu tự học Vẽ kỹ thuật là rất khó nhưng rất cần
thiết.
Có thể phát triển được đề tài này nếu như óc thời gian và sự đầu tư
thích đáng thì sẽ biên soạn được tài liệu tự học hoàn chỉnh. Chớnh vỡ những
lý do trên mà em mạnh dạn đề xuất để nghiên cứu đề tài “xây dựng tài liệu tự
học vẽ kỹ thuật (Chương V, VI, VII) theo kiểu chương trình hoỏ”. Trong
khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp, đề tài chỉ có thể nghiên cứu phạm vi
nội dung như vậy. Khi nghiên cứu đề tài này chắc chăn còn nhiều hạn chế và
thiết sót. Do vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp những ý kiến quý báu
từ các thầy cô và các bạn, sự ủng hộ và giúp đỡ cho đề tài để đề tài hoàn
thành có ý nghĩa hơn.
1
2. Mục đích nghiên cứu:
động cơ học đúng đắn. Khi đó cần phân biệt sự khác nhau giữa phong cách
học tập cũ và mới. Phong cách học tập mới là vừa học tập kiến thức khoa học
vừa thông qua đó mà tự rèn luyện con người mình, nó chống lại việc chỉ lo
nhồi nhét kiến thức mà không lo rèn luyện con người mới.
Xây dựng thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng: cần
uyển chuyển và nhịp nhàng trong cách nghĩ, cách suy luận. Khi học kiến thức
mới thì con người nờn dựng chỳng để soi lại kiến thức cũ, khi ấy xác định
xem những kiến thức này có thể trình bày giải quyết các vấn đề kiến thức cũ
như thế nào.
Học và hành:Trong quá trình học tập kiến thưc luôn luôn phải đặt ra
câu hỏi ”tại sao?”, “thế nào?”, ”đó tối ưu chưa?”, “là cỏi gỡ?”. Tronh thực tế,
mỗi sáng tạo đều gắn với một sự “dỏm nghĩ, dám làm”.
Tự giác tranh thủ rèn luyện tư tưởng và đạo đức trong lao động và sáng
tạo. Người học phải quán triệt tư tưởng và đạo đức trong lao động và sáng
tạo. Người học phải quáng triệt tinh thần “tự lực cánh sinh” cố gắng tự mình
suy nghĩ “thờm tớ nữa”. Từ đó đem lợi ích cho người học là tự động viên,
nhắc nhở tinh thần. Điều quan trọng bậc nhất khi độc lập suy nghĩ, làm việc
sẽ khiến những kiến thức thu được sâu sắc, dễ vận dụng.
3
Học tập có kế hoạch: Đây là một trong những phương pháp học tập và
làm việc khoa học. Kế hoạch học tập cũng như kế hoạch làm việc phải hết sức
thực tế, khả thi dựa trên năng lực và điều kiện của bản thân mỗi cá nhân tham
gia học tập và nghiên cứu khoa học.
1.1.2. Bản chất hoạt động học tập của sinh viên đại học
1.1.2.1. Quá trình học tập của sinh viên ở các trường đại học về bản chất
là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu
Trong quá trình học tập, mỗi sinh viên tự chiếm lĩnh hệ thống tri thức
kỹ năng, phải nắm vững những cơ sở của nghề nghiệp tương lai và có tiềm
năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu dài do thực tiễn
xã hội đặt ra. Muốn vậy, sinh viên không chỉ phải có năng lực nhận thức
- Kiểm tra đánh giá kết quả nghiên cứu;
- Báo cáo kết quả nghiên cứu;
Khả năng nghiên cứu khoa học có mối quan hệ chăt chẽ với kết quả
nghiên cứu và xa hơn nữa đến kết quả học tập và năng lực tự học của sinh
viên đại học. Do vậy, khả năng nghiên cứu khoa học trở thành loại hình kỹ
năng học tập rất cơ bản mà sinh viên cần chú trọng bồi dưỡng và rèn luyện.
1.1.3. Phương pháp tự học – một mục tiêu học tập của sinh viên:
Tự họ có ý nghĩa rất to lớn đối với bản thân sinh viên để hoàn thành
nhiệm vụ học tập của họ đối với chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học –
đào tạo trong nhà trường. Tự học là sự thể hiện đầy đủ nhất vai trò chủ thể
trong quá trình nhận thức của sinh viên. Trong quá trình đó, người học hoàn
toàn chủ động độc lập, tự lực tìm tòi khám phá để lĩnh hội tri thức dưới sự chỉ
đạo, điều khiển của Giáo viên.
Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của sinh viên cần tự rèn
luyện phương pháp tự học, đây không chỉ là phương pháp nâng cao hiệu quẻ
học tập mà còn là một mục tiêu quan trọng của học tập. Có như vậy phương
5
pháp tự học mới thực sự là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học.
phương pháp tự học sẽ trở thành cốt lõi của phương pháp học tập.
Phương pháp học tập có hiệu quả:
Phải học tập như thế nào để có hiệu quả ? Say sưa học tập nhưng để đạt
kết quả tốt, người học phải thường xuyên rèn luyện phương pháp học tập, mà
việc học ở mọi lúc mọi nơi là tiền đề. Hơn nữa cần rèn luyện tính tập trung tư
tưởng cao độ và phát huy trí tưởng tượng phong phú. Khi xem xét một vấn đề,
người học phải xuất phát từ định nghĩa, khái niệm và đặt vấn đề đó trong mối
liên hệ với các vấn đề khác.
Tạo niềm vui, tinh thần say mê học tập: Để tạo được niềm vui và tinh
thần học tập tốt, người học phải bắt đầu đơn giản đến phức tạp, từ gần đến xa,
từ cụ thể đến khái quát trừu tượng. Trong quá trình học tập phải lấy phương
pháp học tập để hỗ trợ việc tiếp thu kiến thức mà ngược lại lấy việc tiếp thu
1.2.2. Dạy học chương trình hoá
Danh từ “chương trỡnh” là thuật ngữ thuộc lĩnh vực điều khiển học và
được vận dụng vào lĩnh vực dạy học nên được bổ sung thêm từ “hoỏ” để
nhằm mục đích điều khiển việc dạy học một cách tối ưu có sự hỗ trợ thành
tựu kỹ thuật hiện đại về phương tiện dạy học.
1.2.3. Phương pháp học chương trình hoá
“ Quá trình học tập trong đó học viên tiến tới theo nhịp độ riêng của họ
bằng cách dựng sỏch bài tập, sách giáo khoa hoặc các công cụ điện tử khác
trong đó các thông tin được cung cấp theo từng bước rời rạc, kiểm tra việc
học sau mỗi bước và cung cấp ngay thông tin phản hồi về kết quả”.
1.3. Các tài liệu và hình thức tự học
1.3.1. Các tài liệu
- Dạng in ấn: sách giáo khoa, sách tham khảo….
- Các bài giảng được thiết kế bằng phần mềm Powerpoint.
- Sách báo, tạp chí vv…
7
1.3.2. Các hình thức tự học
- Qua nghiên cứu giáo trình, sách báo, các tài liệu tham khảo.
- Qua chương trình đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến.
- Qua mạng internet, có hai dạng: giáo trình điện tử, tìm kiếm với
googlo.
1.4. Đặc thù kiến thức Vẽ kỹ thuật cho sinh viên Sư phạm kỹ thuật
▪ Tính cụ thể - trừu tượng:
Tính cụ thể được biểu hiện ở chỗ nội dung môn học phẩn ánh những
đối tượng cụ thể (vật phẩm, thao tác, quá trình kỹ thuật - công nghệ cu thể),
tính trừu tượng biểu hiện qua hệ thống các khái niệm kỹ thuật, nguyên lý kỹ
thuật, … mà người học không trực tiếp tri giác được.
▪ Tính thực tiễn
Tính thực tiễn - bản chất vốn có của kỹ thuật vì đối tượng nghiên cứu
và mục đích nghiên cứu của kỹ thuật là hoạt động thực tiễn của con người.
phá để đào sâu kiến thức. Kể từ khi quy chế thay đổi, bắt đầu xuất hiện hình
thức thi giữa kỡ tớnh phần trăm điểm thì sinh viên có ý thức quan tâm nhiều
hơn đến việc học của mình nhưng nhìn chung lại thì vấn đề tự học trpong sinh
viên vẫn luôn là một trong những đề tài được quan tâm.
Cũng chớnh vỡ những lí do trên mà em đã chọn đề tài này với mong
muốn sẽ biên soạn được cuốn tài liệu tự học có hiệu quả để sinh viên có thể
tham khảo và tự mình có thể phần nào lĩnh hội được tri thức sau khi đã được
giáo viên định hướng.
9
Chương 2
XÂY DỰNG TÀI LIỆU TỰ HỌC VẼ KỸ THUẬT (CHƯƠNG V ĐẾN
CHƯƠNG VII) THEO KIỂU CHƯƠNG TRÌNH HOÁ
2.1. Đại cương về dạy học chương trình hoá
2.1.1. Lịch sử ra đời của dạy học chương trình hoá
Dạy học chương trình hoá ra đời cách đây khoảnh 60 năm cùng với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, nhất là khoa học điều khiển và tin học.
Một trong những người nghiên cứu đầu tiên về dạy học chương trình
hoá là nhà tâm lý học người Ba Lan Stanistaw – Trebixky vào những năm 20.
Trong những năm 1923 – 1926 L.Pressey đã sáng chế ra chiếc máy dạy học
đầu tiên dựa trên cơ sở hệ thống trắc nghiệm. Tuy nhiên mãi đến năm 1950,
quan điểm về dạy học chương trình hoá của nhà tâm lý học người Mỹ
B.F.Skinner mới gây ra sự chú ý lớn. Từ đó, nhiều chuyên gia tập trung
nghiên cứu hoàn thiện lý thuyết về dạy học chương trình hoá và sáng chế ra
cỏc mỏy dạy học.
Theo quan điểm điều khiển học, người ta coi sự học là một hệ điều
khiển được, đối tượng điều khiển là con người chứ không phải thiết bị kỹ
thuật. Đảm bảo mối lien hệ ngược là nguyên tắc cơ bản của sự điều khiển.
Liên hệ ngược bên trong là cơ sở của sự tự điều chỉnh bản than, sự học của
người học. Liên hệ ngược bên ngoài giúp cho việc điều chỉnh sự dạy của thầy.
2.1.2. Mục đích của dạy học chương trình hoá
2.1.4. Các kiểu dạy học chương trình hoá.
2.1.4.1. Chương trình kiểu đường thẳng
a) Bản chất của chương trình là sau khi lĩnh hội một thông tin, nếu
người học trả lời được câu hỏi kiểm tra, chứng tỏ đã nắm được nội dung đú
thỡ được chuyển sang học lượng thông tin tiếp theo; nếu người học trả lời sai
11
thì phải quay lại nội dung đó, tự tìm nguyên nhân sai, sau đó mới được
chuyển sang nội dung tiếp theo. Chương trình thích ứng ở chỗ thời gian học
khác nhau đói với từng người (tuỳ thuộc vào khả năng của từng người).
b) Sơ đồ biểu diễn chương trình dạng đường thẳng
Liều thứ n Liều thứ (n + 1)
Đặc điểm của chương trình dạng đường thẳng
- Mỗi “liều” kiến thức chứa lượng thông tin rất nhỏ
- Tài liệu được soạn thảo sao cho quá trình học diễn ra hầu như không
có sai lầm khi trả lời câu hỏi tự kiểm tra.
- Yếu tố quan trọng của sự học là người học tự tìm câu trả lời. Điều này
sẽ đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, tự lực tìm kiếm câu trả lời
đúng, nghĩa là tự lực, tích cực thu nhạn kiến thức mới.
2.1.4.2. Chương trình kiểu phân nhánh
Chương trình được xây dựng theo nguyên tắc: câu hỏi sau mỗi nguyên
tố thông tin có kèm theo nhiều câu trả lời sẵn. Người học chọn câu trả lời mà
mình coi là đúng. Ứng với mỗi câu trả lời đó, chương trình sẽ cho biết đúng
hay sai. Nếu trả lời đúng người học được học liều khó nhất tiếp theo (theo chỉ
dẫn của chương trình), nếu trả lời sai thì chương trình sẽ giải thích tại sao lại
sai bằng cách bổ sung them một số “liều” khác để rõ hơn, hoặc phải trở lại
nghiên cứu một số thông tin cũ nào đó để nắm vững vấn đề rồi trỏ lại thông
tin đang học cho tới khi trả lời đỳng cỏc câu hỏi kiểm tra.
2.1.5. Ưu - nhược điểm của dạy học chương trình hoá
a) Ưu điểm
Đường xoắn ốc là quỹ đạo của một điểm
(A) chuyển động trên một đường thẳng khi
đường thẳng đó quay đều quanh một trục cố
định (Đường thẳng quay quanh trục cố định gọi
là đường sinh. Trục cố định gọi là trục quay).
Nếu đường sinh song song với trục quay a) b)
ta có đường xoắn ốc trụ (hình 5.1a). Hình 5.1
Nếu đường sinh cắt trục quay ta có đường xoắn ốc côn (hình 5.1b).
Một số định nghĩa của đường xoắn ốc:
Vòng xoắn là một phần của đường xoắn có điểm đầu và điểm cuối là hai
điểm kề nhau cùng thuộc một đường sinh.
Bước xoắn là khoảng cách di chuyển được của một điểm trên một
đường sinh khi đường sinh đó quay được một vòng trục quay. Đú chớnh là
khoảng cách theo chiều trục của điểm đầu và điểm cuối vòng xoắn. Bước
xoắn kí hiệu là P
h
(hình 5.2).
14
Góc xoắn α được tính theo công thức tgα=P
h
/d
Hướng xoắn
Hình 5.2
a) b)c) d)
Hình 5.3
Trên hình chiếu vuông góc của đường xoắn lên mặt phẳng hình chiếu
song song với trục quay, nếu:
+ Phần thấy của đường xoắn theo hướng đi lên từ trái sang phải ta có
hướng xoắn phải (hình 5.3a, c)
+ Phần thấy của đường xoắn theo hướng đi từ phải sang trái ta có
c) Đường xoắn ốc là quỹ đạo của một điểm chuyển động đều trên một
đường sinh khi đường sinh đó quay đều quanh một trục cố định (Đường sinh
16
là đường thẳng song song với trục quay có đường xoắn ốc trụ. Đường sinh là
đường thẳng cắt trục quay có đường xoắn ốc nón).
d) Cả a) và b).
Câu2: Đường xoắn ốc có những thông số nào?
Câu3: Ren được hình thành như thế nào ? (Chọn một đáp án đúng nhất
trong các đáp án dưới đây). Hãy phân biệt ren trong và ren ngoài ?
a) Khi một mặt phẳng (tam giác, hình thang, hỡnh vuụng…) chuyển
động và mặt phẳng của hình phẳng đó chứa trục quay.
b) Khi một mặt phẳng (tam giác, hình thang, hỡnh vuụng…) chuyển động
xoắn ốc, sao cho mặt phẳng của hình phẳng luôn luôn vuông góc với trục quay.
c) Khi một mặt phẳng (tam giác, hình thang, hỡnh vuụng…) chuyển
động xoắn ốc, sao cho mặt phẳng của hình phẳng luôn luôn chứa trục quay.
d) Khi một mặt phẳng (tam giác, hình thang, hỡnh vuụng…) chuyển
động xoắn ốc, sao cho mặt phẳng của hình phẳng luôn luôn song song với
trục quay.
∆ Đáp án (xem trang )
□ Các yếu tố của ren
Prụfin của ren là đường bao mặt cắt ren khi mặt phẳng cắt chứa trục ren
(chính là đường bao của hình phẳng chuyển động). prụfin của ren có thể là
tam giác đều, tam giác cân, vuông, hình thang hay cung tròn (hình 5.6).
Hình 5.6
17
Số đầu mối của ren là số đường xoắn ốc tạo thành ren. Số đầu mối của
ren ký hiệu là n (hình 5.7).
Bước ren là khoảng cách cựng phớa của hai prụfin kề nhau theo chiều
trục. Bước ren ký hiệu là P. Như vậy ta có P=P
h
Trong kỹ thuật ren được sử dụng rộng rãi và có nhiều công dụng khác nhau
như ren để lắp nối, để điều chỉnh, để truyền lực hay truyền chuyển động. Phần lớn
các loại ren được tiêu chuẩn hoá. Sau đây là một số loại ren thường dùng.
Ren hệ mét được dùng rộng rãi trong các mối ghép, prụfin của ren hệ
mét là tam giác đều, góc đỉnh ren bằng 60
0
. Ren hệ mét ký hiệu là M. Kích
thước của ren hệ mét được đo bằng milimột, và được quy định trong TCVN
2247–77 đối với ren bước lớn và TCVN 2248 – 77 đối với ren bước nhỏ (hình
5.8). Xác định đường kính, bước ren và cỏc kớch thước cơ bản của ren hệ mét
TCVN 2248_78 xem bảng 5.42
Bảng 5.42
Đường kính của ren Bước ren
d = D d
1
= D
1
d
2
= D
2
d
3
Bước lớn Bước nhỏ (*)
3
4
5
6
7
8
0.5
0.75
0.75
1
1
19
10
12
14
16
18
20
22
24
27
30
33
36
39
42
45
48
53
8, 376
10, 106
11, 835
13, 835
15, 294
17, 294
19, 294
13, 546
14, 933
16, 993
18, 319
20, 319
23, 319
25, 706
28, 706
31, 093
34, 093
36, 479
39, 479
41, 866
45, 866
1.5
1.75
2
2
2.5
2.5
2.5
3
3
3.5
3.5
4
4
4.5
4.5
5
Ren ống dùng trong mối ghép đường ống, prụfin của ren ống có hình
tam giác cân, góc đỉnh bằng 55
0
. Kích thước ren ống dùng inch làm đơn vị, ký
hiệu bằng '' (1 inch = 25, 4 mm). Ren ống trụ ký hiệu là G được quy định
trong TCVN 4681 – 89. Ren ống côn ngoài có kí hiệu là R được qui định
trong TCVN 4681–89. Ren ống côn trong cú kớ hiệu là Rc (hình 5.9) Hình 5.9
20
Ren hình thang Prụfin là một hình thang cõn gúc đỉnh bằng 30
0
. Ren
hình thang ký hiệu là Tr và được qui định trong TCVN 4673 – 89 xem bảng
5.48. Kích thước ren hình thang lấy milimột làm đơn vị đo (hình 5.10)
Hình 5.10 Hình 5.11
Ren tựa (ren răng cưa) Prụfin ren có dạng hình thang ký hiệu là S, góc
đỉnh ren bằng 30
0
. Kích thước cơ bản của ren được quy định theo TCVN
3777– 83 (hình 5.11 )
Ngoài ra ta còn gặp một vài loại ren không tiêu chuẩn như ren vuông, ký
hiệu là Sq
o Câu hỏi kiểm tra
Câu 4: Ren bao gồm mấy yếu tố, đó là những nào?
a) 2 yếu tố: Prụfin ren và đường kính ren (d).
b) 3 yếu tố: Bước ren (P) ; hướng xoắn và các kích thước của ren.
c) 4 yếu tố: Prụfin ren; đường kính ren (d); số đầu mối (n) và các kích
Biểu diễn quy ước mối ghép ren
Mối ghép ren được vẽ như trên hình 5.14, trờn ưu tiên biểu diễn phần
trục ren đã vặn vào lỗ ren
Một số điểm cần chú ý
Kí hiệu ren luôn phải ghi tương ứng với đường kính ngoài của ren.
Trường hợp ren không tiêu chuẩn thì biểu diễn thêm prụfin ren bằng
hình cắt riêng phần hay hỡnh trớch để ghi rõ kích thước (hình 5.15)
Ký hiệu vật liệu trên mặt cắt ren phải gạch đến đường đỉnh ren.
Khi cần biểu diễn đoạn ren cạn (đoạn ren có prụfin không đủ) thì đoạn
ren cạn đó được vẽ bằng nét liền mảnh (hình 5.16).
Ren hỡnh cụn được vẽ và kí hiệu như trên hình 5.17
Hình 6.15 Hình 5.16 Hình 5.17
23
o Câu hỏi kiểm tra
Câu 7: Cách biểu diễn quy ước ren và mối ghép ren như thế nào ?
Câu 8: Khi biểu diễn quy ước ren cần chú ý những điểm gì?
∆ Đáp án (xem trang )
□ Ghi ký hiệu ren
Ký hiệu ren được ghi trên đường kích thước của đường kính ngoài ren.
Ký hiệu ren gồm có:
Ký hiệu đặc trưng prụfin của ren. Ví dụ: M; R; Tr…
Đường kớnh danh nghĩa của ren (đường kớnh vòng đỉnh của ren ngoài
hay đường kớnh vòng chõn của ren lỗ), đơn vị đo là mm. Riêng ren ống lấy
đường kớnh lòng ống làm kích thước danh nghĩa và đơn vị đo là inch.
Bước ren (đối với ren một đầu), bước xoắn (đối với ren nhiều đầu mối),
không phải ghi kích thước bước ren lớn, kích thước bước ren nhỏ được ghi
sau kích thước danh nghĩa của ren và phân cách bởi dấu x.
tinh bằng bàn ren (hình 5.19a). Khi sản xuất loạt lớn dùng phương pháp lăn
hoặc cán ren (hình 5.19b)
a) b)
Hình 5.19
25